Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 79: Trận Đầu Tiên

Đăng: 09/08/2026 10:56 3,210 từ 1 lượt đọc

Sương mù dâng lên từ thung lũng Bạch Lộ vào giờ Dần, và quân Hung Nô không đến.

Chinh Vũ đứng trên đài quan sát nhìn xuống cả một vùng trắng đục không rõ gì quá trăm bước. Phía dưới đài, ba vạn quân đã dàn thành ba tuyến từ nửa đêm, kỵ binh cánh phải, bộ binh giữ trung tâm, cung thủ rải dọc bờ suối phía tây. Đội hình quen thuộc nhất mà cô đã dùng cả đời, chặn cửa thung lũng, ép đối phương vào thế xông trực diện, rồi nghiền nát.

Vương Hắc đứng cạnh cô, tay siết đốc kiếm, mắt nheo trong sương. Ông ta nhìn ra phía trước rất lâu, rồi quay sang nhìn phía sau, nơi tốp lính hậu cần đang lui cui nấu cháo sáng cho mấy vạn người bằng cái bếp dã chiến bốc khói lờ nhờ trong sương mù.

"Mấy vạn quân chờ đánh mà bọn chúng còn không thèm đến."

Vương Hắc nói, giọng vừa bực vừa ngán.

"Lần đầu ta thấy Hung Nô biết lười."

Cô không cười, nhưng khóe miệng hơi nhích. Đúng là lần đầu.

Cô mở bản đồ trải trên bàn gỗ để kiểm tra lần cuối, dù bản đồ này cô đã thuộc lòng từ lâu, mỗi con suối, mỗi gò đất, mỗi đoạn đường hẹp. Tay cô lướt qua các vị trí đồn trú, dừng lại ở chỗ trống bên phải bàn, chỗ mà mỗi khi ở kinh thành sẽ có ai đó ngồi, gõ ngón tay lên gỗ theo nhịp bốn, nhìn vào cùng tấm bản đồ nhưng đọc ra những thứ khác hẳn. Chỗ đó bây giờ trống và cô rút tay lại.

Trong hàng quân dưới đài, phía cánh trái, một người lính trẻ đứng lẫn giữa đồng đội, giáp hơi rộng so với thân nhưng lưng thẳng và mắt nhìn thẳng. Cô nhận ra mặt cậu ta vì cậu giống cha, viên tướng nhỏ trấn giữ đồn Bạch Lộ, mấy tháng trước cậu còn là học trò đi mang tin cho Lan Chu, giờ đứng đây cầm giáo đợi trận đánh đầu tiên trong đời. Cô không nghĩ gì thêm, vì lính trẻ đi trận lần đầu là chuyện bình thường ở biên cương, và cô còn nhiều việc khác phải nghĩ.

Cô đã chờ ba ngày rồi. Ba ngày trước trinh sát báo đại quân Ca Lặc tiến về phía đông, nhắm đồn Bạch Lộ, lối đánh cũ mà cô đã quen thuộc từ nhỏ, đến nhanh, cướp nhanh, rút nhanh. Cô điều quân đón đầu, chọn vị trí có lợi cho kỵ binh, tính toán góc tấn công theo cách cha cô dạy.

Nhưng đến sáng nay, quân Hung Nô không xông vào mà chúng vòng ra. Ba cánh nhỏ chia đều, đóng quân cách xa tầm giao chiến, và bắt đầu cắt đường tiếp tế phía sau lưng cô thay vì đánh thẳng mặt. Không có tiếng vó ngựa xông trận, không có mũi tên bay trước, không có gì ngoài sự im lặng kéo dài từ đêm qua đến sáng nay. Đó là loại im lặng mà một tướng quen đánh trực diện không biết phải đọc thế nào.

"Tướng quân, kẻ địch không vào."

Vương Hắc nói lại lần nữa, giọng nhỏ hơn thường ngày, kiểu nói nhỏ của người đã đánh cả đời mà lần đầu thấy kẻ thù không chịu đánh.

"Ta biết."

Cô nhìn xuống sương mù.

"Chúng đang chờ ta ra."

Đây không phải cách đánh của Hung Nô mà cô từng học. Người thảo nguyên đánh nhanh vì họ không có hậu cần kéo dài, ngựa tự kiếm cỏ ăn, chiến binh mang thịt khô đủ dùng một tuần, họ không cần và không quen bao vây chậm. Nhưng Ca Lặc đang chơi trò kéo dài, một trò mà đáng lẽ phần thắng phải thuộc về quân đội có thành trì và kho lương, không phải kỵ binh du mục.

Trừ khi hắn biết chính xác kho lương của cô mỏng đến đâu, và đường tiếp tế của cô yếu ở đoạn nào.

Đến trưa, tình hình xấu đi.

Đoàn lương thảo từ đồn Thanh Phong không đến đúng giờ. Trinh sát cử đi dò đường bị chặn giữa chừng, một người về báo tin, hai người còn lại không thấy tăm hơi. Chinh Vũ nghe xong, gật đầu cho lính lui ra, rồi đứng nhìn bản đồ thêm một lúc trước khi ra lệnh.

"Điều năm trăm kỵ binh từ cánh phải mở lại đường Thanh Phong."

Vương Hắc nghe mà không nói gì ngay, nhưng ông ta hiểu cái giá của lệnh vừa rồi. Năm trăm kỵ binh rút khỏi đội hình phòng thủ, cánh phải mỏng đi đáng kể, và nếu Hung Nô đánh vào lúc đó thì chỗ vừa rút sẽ vỡ. Nhưng nếu không mở đường tiếp tế thì ba vạn quân sẽ bị đói trước khi Hung Nô cần xông trận.

"Thuộc tướng lĩnh lệnh."

Lão nói, rồi quay đi điểm quân.

Năm trăm kỵ binh xuất phát vào cuối giờ Ngọ, đánh theo đường chính dẫn về Thanh Phong. Chưa đến nửa canh giờ sau, tiếng giao chiến vọng về từ phía nam, vang hơn và dài hơn cô muốn nghe. Ca Lặc đã bố trí phục kích ở đúng điểm hẹp nhất của con đường, nơi mà kỵ binh mất hết lợi thế cơ động, nơi mà chỉ có người biết rõ địa hình và lịch trình tiếp tế mới chọn được.

Đội kỵ binh đánh qua được, nhưng mất hơn một trăm người. Một trăm người để mở một con đường mà ngày thường không cần ai mở.

Chinh Vũ nhận báo cáo, mặt không đổi, nhưng ngón tay siết chặt hơn trên mép bàn gỗ. Không phải vì tổn thất, mà vì cách Ca Lặc đợi sẵn ở đúng chỗ đó. Lịch tuần tra, quân số các đồn, điểm hẹp trên đường tiếp tế, tất cả đều nằm trên tấm bản đồ trong lều chỉ huy của cô, và cũng đều nằm trong tay hắn.

Hắn biết hết và câu hỏi là ai cho hắn biết.

Cô chưa kịp tìm câu trả lời thì trống trận vang lên từ hướng đông bắc, đúng chỗ cô vừa rút năm trăm kỵ binh.

Ca Lặc đánh giống cách người ta đánh cờ chứ không phải đánh trận. Hắn không dẫn đầu xung phong. Hắn ngồi trên ngựa ở gò đất phía bắc, cách chiến trường vừa đủ xa để nhìn toàn cảnh, vừa đủ gần để ra lệnh bằng cờ hiệu trong vòng một hơi thở. Khi cánh quân đầu tiên tràn vào phòng tuyến phía đông bắc, chỗ mà nửa canh giờ trước còn có năm trăm kỵ binh giữ và giờ chỉ còn bộ binh mỏng, hắn đã cử cánh thứ hai vòng ra sau, ép quân Đại Tần phải xoay đội hình. Khi Chinh Vũ điều kỵ binh dự bị lên chặn cánh thứ hai, cánh thứ ba từ phía nam đánh thẳng vào sườn.

Ba nhịp đều đặn, mỗi nhịp đến đúng lúc nhịp trước bắt đầu có hiệu quả, như thể hắn đã biết trước cô sẽ phản ứng thế nào và chỉ cần ngồi chờ cô phản ứng xong rồi đánh tiếp.

Chinh Vũ nhận ra mình đang bị dẫn dắt, nhưng nhận ra lúc đó đã muộn một nhịp. Cô xoay ngựa, rút kiếm, dẫn đích thân đội kỵ binh cuối cùng lao vào chỗ sườn bị vỡ, vì lúc này chỉ còn cách đánh trực diện, cách duy nhất cô biết, cách mà cả đời cô chưa bao giờ thấy thiếu.

Kiếm cô vung nhanh và nặng liên tục, mỗi nhát mở ra một khoảng trống vừa đủ cho ngựa lao qua. Kỵ binh Hung Nô tránh lưỡi kiếm đó theo bản năng, vì trong cận chiến trên lưng ngựa cô vẫn là La Sát, vẫn là người mà không ai trên thảo nguyên muốn đứng cách một sải tay. Máu bắn lên giáp, lên mặt, lên tay cầm kiếm của cô. Ngựa cô trúng tên ở cổ, khuỵu xuống, cô nhảy sang ngựa của một kỵ binh Hung Nô vừa bị cô chém rơi, tiếp tục đánh mà không kịp thở.

Nhưng cô đánh được bao nhiêu thì chỗ khác vỡ bấy nhiêu. Mỗi lần cô chặn được một cánh, cánh khác đã đến. Mỗi lần cô ổn định được một đoạn phòng tuyến, đoạn khác bắt đầu lung lay. Năm trăm kỵ binh rút đi mở đường tiếp tế đã để lại một cái lỗ mà cô không kịp đắp bằng sức mạnh, và Ca Lặc biết cái lỗ đó ở đâu trước cả khi cô rút quân.

Giữa trận, trong khoảng hỗn loạn mà mọi thứ chỉ còn là tiếng kim loại và bụi đất bay mù, cô thoáng thấy ở phía cánh trái một thân hình nhỏ nằm sấp trên đất, giáp rộng hơn người, mũi tên cắm giữa ngực. Cô không dừng lại được, kiếm vẫn phải vung, ngựa vẫn phải phi, nhưng cô đã nhận ra mặt cậu lính trẻ đó rồi. Đó là cậu con trai viên tướng nhỏ đồn Bạch Lộ, sáng nay còn đứng thẳng lưng trong hàng quân, giờ nằm đây, và cô biết đêm nay sẽ phải viết thư cho cha cậu.

Có gì đó nặng thêm trong ngực cô từ khoảnh khắc đó, và cô mang cái nặng đó theo suốt phần còn lại của trận đánh.

Đến khi trời sập tối, Chinh Vũ ra lệnh rút quân về giữ đồn Bạch Lộ.

Lần đầu tiên trong đời cầm quân, cô phải ra lệnh rút lui sau một trận mà cô không thắng. Không phải đại bại, quân số tổn thất chưa đến mức nguy hiểm, nhưng thất bại là thất bại, và đây là lần đầu.

Quân rút trong trật tự, đội hậu vệ giữ khoảng cách với kỵ binh Hung Nô vẫn đang đóng phía ngoài tầm bắn mà không đuổi theo. Chinh Vũ đi cuối đoàn, kiếm vẫn cầm trong tay, mặt dính máu khô mà cô không lau. Một viên phó tướng trẻ đi phía sau cô nhìn thấy điều đó nhưng không dám nói, không phải vì sợ cô mắng, mà vì cách cô cầm kiếm lúc đó, nắm chặt đến mức ngón tay trắng bệch, như thể nếu buông ra thì cô sẽ không biết phải làm gì với bàn tay trống.

Vương Hắc bị thương nặng ở đùi trái khi cản đường cho một tốp lính rút lui, nhát chém sâu đến mức quân y phải khâu ngay tại chỗ dưới ánh đuốc. Ông ta nghiến răng không kêu, chỉ mắng tên lính khiêng cáng vì "bưng cái kiểu gì mà nghiêng như đổ canh, ta bị chém chứ có phải bát canh đâu mà nghiêng". Chinh Vũ đứng nhìn ông ta được đưa lên xe kéo, thấy chân trái ông ta quấn vải đẫm máu, và nghĩ rằng đây là lần đầu tiên cô thấy Vương Hắc không đứng trên mặt đất bằng cả hai chân. Lão tướng cả đời trên lưng ngựa, giờ xuống ngựa rồi thì không lên lại được, và cô chưa biết chân đó có lành lại hoàn toàn hay không.

"Đưa Vương tướng quân về đồn Thanh Phong."

Cô ra lệnh rồi quay đi, vì còn phải lo phần còn lại của đêm dài này.

Đêm đó, Chinh Vũ ngồi một mình trong lều chỉ huy. Phần cơm để nguội bên cạnh, cô không đụng vào. Trước mặt cô là bản đồ dưới ánh đèn dầu run rẩy, và cô nhìn vào đó rất lâu mà không đọc ra được gì mới.

Cô nghĩ lại từng bước của trận đánh, cố tìm ra chỗ mình sai. Không phải sai vì thiếu can đảm, không phải sai vì thiếu sức, những thứ đó cô chưa từng thiếu trong đời. Cô sai vì cô chỉ biết một cách đánh, đánh trực diện, đánh bằng sức mạnh và tốc độ. Ca Lặc đã không cho cô cơ hội dùng cách đó. Hắn ép cô rút quân mở đường tiếp tế, biết trước cô sẽ rút ở đâu, đợi cô rút xong rồi đánh thẳng vào chỗ trống, và mỗi bước cô đi đều nằm trong tính toán của hắn.

Trên vách lều, thanh kiếm dự phòng của cha cô vẫn treo ở đó, thứ mà cô mang theo mỗi lần xuất chinh từ ngày ông không còn ra trận được nữa. Cô nhìn thanh kiếm đó, và nhớ ông từng nói rằng đánh giỏi khác với đánh thắng, đến một ngày con sẽ gặp kẻ hiểu chuyện đó rõ hơn con.

Ngày đó là hôm nay.

Cô ngồi thêm một lúc, rồi vô thức gõ ngón tay lên mặt bàn. Gõ được bốn nhịp thì dừng, vì thói quen đó không phải của cô.

Ngoài lều, tiếng lính đi lại thưa dần. Bình thường sau mỗi trận đánh, cô sẽ gọi Vương Hắc vào, ông ta sẽ rót rượu, hai người ngồi không nói gì nhiều nhưng có ai đó ở cạnh, và đó đã là đủ. Tối nay ông ta đang nằm trên xe kéo đi Thanh Phong, chân quấn vải đẫm máu. Cha cô đang nằm ở kinh thành, có Lan Chu bên cạnh lo liệu, ít nhất ở đó mọi thứ vẫn yên. Cô để mình tin như vậy, vì cô cần tin vào điều gì đó đêm nay.

Cô nhìn phần cơm nguội, nhớ ra lần cuối cô ăn một mình mà không có ai ngồi cạnh là khi nào, và nhận ra cô không nhớ. Vì từ khi có người nấu mì để sẵn trong bếp mỗi tối thì cô đã quên mất cảm giác đó. Bây giờ cô nhớ lại rồi.

Cô ăn phần cơm nguội, ăn nhanh theo thói quen quân ngũ, không để thừa. Rồi cô tắt đèn, nằm xuống, nhắm mắt mà không ngủ được.

Xe kéo đưa Vương Hắc về đến quán cơm gần đồn Thanh Phong vào rạng sáng. Đào Nương vừa mở cửa quán chuẩn bị nấu bữa sáng cho lính tuần tra thì thấy người ta khiêng vào một thân hình to lớn quen thuộc, mặt tái nhợt, chân quấn vải đẫm máu đã ngả nâu. Bà không hét, không chạy tới, chỉ đứng lại một nhịp ở cửa, tay vẫn cầm chùm củi sáng nay vừa chẻ. Rồi Đào Nương đặt chùm củi xuống bên cạnh và nói với đứa nhỏ phụ bếp bằng giọng bình thường đến mức chính bà cũng ngạc nhiên vì giọng mình bình thường đến vậy:

"Dọn phản trong góc ra. Trải chăn sạch."

Rồi bà quay sang đứa thứ hai đang đứng ngẩn ra ở cửa bếp:

"Còn đứng đó nhìn cái gì, chạy đi gọi thầy thuốc nhanh, chân dài hơn óc mà chạy chậm hơn rùa."

Bà tự tay lau lại vết thương cho Vương Hắc bằng nước ấm, tay không run, mặt không đổi. Khi lau đến chỗ vải dính vào da thịt thì ông ta rên nhẹ một tiếng dù đang mê man, bà dừng tay lại hai giây, hít vào, rồi tiếp tục.

Vương Hắc tỉnh dậy vào giữa trưa và thấy mình nằm trên phản quen thuộc trong quán cơm mà ông ta vẫn ăn tối hằng ngày suốt mấy năm, và thấy Đào Nương ngồi cạnh, tay bưng bát canh.

"Ăn đi."

Bà nói.

Vương Hắc nhìn bát canh, nhìn bà, rồi cố ngồi dậy nhưng chân trái đau đến mức mặt ông ta méo xệch. Bà đỡ ông ta tựa vào tường mà không nói thêm lời nào. Vương Hắc húp một ngụm, nhăn mặt.

"Mặn."

"Lúc nào cũng kêu mặn."

Bà không nhìn ông ta, mắt nhìn xuống bát canh trong tay mình.

"Ăn đi."

Vương Hắc húp tiếp, không cãi nữa, và bà ngồi đó nhìn ông ta húp từng ngụm, tay siết nhẹ quanh vành bát của mình đến mức các đốt ngón tay hơi trắng ra. Ngoài quán, tiếng lính đi lại vẫn ồn ào. Trong góc phản gỗ đó, hai người già ngồi im, một người ăn, một người nhìn. Cả hai đều không nói ra điều mà cả hai đều nghĩ đến khi ông ta được khiêng vào cửa quán sáng nay.

Bà đợi ông ta ăn xong, lấy bát, đứng dậy. Đi được hai bước thì Vương Hắc nói phía sau, giọng khàn vì mất máu.

"Đào Nương."

Bà dừng chân, không quay lại.

"Canh hôm nay ngon hơn mọi khi."

Bà đứng thêm một lúc, lưng vẫn quay về phía ông ta, rồi bước tiếp vào bếp không nói gì.

Ở phía bắc thảo nguyên, cách đồn Bạch Lộ không xa, Ca Lặc ngồi trên ngựa ở gò đất nhìn về hướng doanh trại quân Đại Tần đang rút lui trong ánh chiều.

Hắn không đuổi theo. Hắn đã biết trước hắn sẽ không đuổi, vì trận hôm nay không phải để diệt quân Tần mà để đọc người. Hắn muốn xem La Sát đánh thế nào khi bị ép ra khỏi lối đánh quen thuộc, và hắn đã xem xong.

Phó tướng đứng cạnh đang chờ lệnh.

"Rút quân về đêm nay."

Ca Lặc nói.

"Không đuổi."

"Thưa, đang lúc thắng thế..."

"La Sát cận chiến rất mạnh."

Hắn nói bình thản, không phải khen mà là ghi nhận, cách người thợ săn ghi nhận con mồi khỏe hay yếu.

"Nhưng đánh mà không có mắt phía sau lưng thì cũng chỉ đánh được nửa trận."

Hắn quay ngựa, chuẩn bị rời gò đất.

"Cô ấy sẽ nghĩ lại. Lần sau sẽ khó hơn."

Phó tướng im lặng vì lão không hiểu tại sao thắng rồi mà chủ tướng nói lần sau sẽ khó hơn.

Ca Lặc không giải thích. Hắn phi ngựa xuống gò. Trước khi bóng tối nuốt hết dáng hắn, hắn ngoái lại nhìn phía nam lần nữa, về phía kinh thành mà hắn không nhìn thấy nhưng biết ở đó, nơi có ai đó đang cho hắn nhìn thấu bàn cờ của đối phương trước mỗi ván. Hắn tự hỏi nguồn tin đó sẽ kéo dài bao lâu, và khi nào cô sẽ nhận ra rằng kẻ thù nguy hiểm nhất không cưỡi ngựa ở thảo nguyên mà ngồi trong triều đường ở kinh thành.

Câu hỏi đó hắn giữ cho mình, vì người thông minh không bao giờ hỏi thành tiếng những thứ mình chưa muốn biết đáp án.

Trong lều chỉ huy ở đồn Bạch Lộ, Chinh Vũ vẫn không ngủ được. Cô nằm nghe gió bắc thổi qua vách lều, nghĩ đến bức thư cô sẽ viết sáng mai, nghĩ đến hơn trăm kỵ binh mất ở đường Thanh Phong, nghĩ đến cậu lính trẻ nằm sấp trên đất với bộ giáp rộng hơn người, nghĩ đến chân Vương Hắc.

Rồi cô nghĩ đến bản đồ, và nghĩ rằng phải có cách đọc nó khác đi. Thế là cô ngồi dậy, thắp lại đèn, mở bản đồ ra lần nữa.

0