Chương 78: Quân Sư Ở Kinh Thành
Bếp trong viện nhỏ vẫn còn ấm hơi lửa từ tối qua khi Lan Chu bước vào lúc trời chưa sáng hẳn. Anh bắc nồi nước, cho gạo vào, tay làm theo thói quen mà không cần nhìn, mắt vẫn dán vào tập giấy trải trên bàn bên cạnh bếp lò. Nồi mì hôm nay anh chỉ cho một phần mì, không phải hai như những buổi sáng khi Chinh Vũ còn ở kinh thành, Bàn tay anh khựng lại đúng một nhịp khi múc muôi thứ hai định đổ vào rồi lại thôi. Anh đặt muôi xuống, nhìn nồi nước sôi lăn tăn một lúc, rồi tiếp tục công việc như chưa có chuyện gì xảy ra.
Bát mì dọn ra chỉ có một cái. Anh ngồi xuống bàn ăn, đối diện là chiếc ghế trống mà mấy tháng nay vẫn có người ngồi. Giờ chỉ còn dấu vết mòn trên mặt gỗ nơi tay vịn ghế bị siết chặt nhiều lần trong những bữa ăn mà hai người tranh luận chuyện triều chính. Anh ăn chậm, thỉnh thoảng liếc sang cái ghế đó như thể quên mất rằng không ai ngồi ở đó nữa, rồi anh lại quay về với tập giấy, gạch một đường dưới một cái tên, viết thêm ghi chú bên lề.
Phúc Bá bước vào đúng lúc anh vừa ăn xong, mang theo một chồng thư từ. Lão đặt xuống bàn, nhìn bát mì trống không rồi nhìn cái ghế đối diện và không nói gì, chỉ lặng lẽ dọn bát đi.
"Thư từ biên cương có không?"
Lan Chu hỏi, giọng bình thản như hỏi chuyện thời tiết.
"Chưa có, cô gia."
Phúc Bá đáp, tay vẫn xếp gọn mấy phong thư còn lại theo thứ tự.
"Hôm qua cũng chưa. Trạm dịch nói đường sá dạo này chậm hơn thường lệ, có lẽ vì chiến sự."
Lan Chu gật đầu, không hỏi thêm, nhưng ngón tay anh gõ nhẹ lên mặt bàn ba lần rồi dừng lại. Con đường từ biên cương về kinh thành vốn dĩ đã có lịch trình cố định suốt nhiều năm, không phải lúc nào chiến sự cũng làm chậm trễ đường giao thư, đặc biệt là khi trạm dịch quân sự vẫn hoạt động bình thường cho các báo cáo khác. Anh không nói ra suy nghĩ đó, chỉ ghi một dòng nhỏ vào góc tập giấy, gấp gọn lại, cất vào ngăn kéo bàn.
Trước khi Phúc Bá rời khỏi phòng, lão dừng lại ở cửa, quay đầu nhìn anh một lúc.
"Cô gia dạo này ngủ ít."
"Có nhiều việc phải nghĩ."
Anh đáp, mắt vẫn không rời khỏi giấy tờ.
"Lão già rồi, canh không nổi cô gia thức khuya nữa đâu."
Phúc Bá nói với giọng nhẹ như đùa, nhưng ánh mắt lão dừng lại trên gương mặt Lan Chu thêm một nhịp trước khi quay đi.
Anh nhìn theo bóng lưng lão khuất sau cửa, rồi mới thở ra một hơi dài, đưa tay xoa nhẹ giữa hai lông mày. Đó là cách duy nhất lão biết để nói rằng lão lo mà không hỏi thẳng, không khuyên nhủ, chỉ nhắc khéo bằng một câu tưởng như than vãn tuổi già.
Buổi sáng hôm đó anh có mặt ở triều đường sớm hơn thường lệ. Từ ngày Hoàng đế băng hà, không khí trong đại điện đã đổi khác hoàn toàn. Trước kia mỗi lần thiết triều vẫn có một trật tự nhất định, ai đứng vị trí nào, ai phát biểu trước ai phát biểu sau đều theo lệ cũ giữ vững qua nhiều đời vua. Giờ đây trật tự đó lỏng lẻo dần, người của phe Ngũ Hoàng Tử chiếm lấy những vị trí gần bệ rồng hơn mỗi ngày một chút. Không ai phản đối vì trên ngai vàng đang ngồi là một đứa trẻ mười tuổi với đôi chân còn chưa chạm đất, mắt cậu bé nhìn thẳng về phía trước bằng vẻ nghiêm trang mà ai cũng biết là được dạy sẵn chứ không phải tự nhiên. Bên cạnh ngai vàng, Thái Hậu ngồi sau tấm rèm mỏng theo đúng lễ nghi, nhưng sự hiện diện của bà mờ nhạt đến mức nhiều viên quan đi qua không buồn cúi chào, coi như tấm rèm đó chỉ là vật trang trí.
Ngũ Hoàng Tử Tiêu Thần Uyên đứng ở vị trí phụ chính đại thần, phía bên trái bệ rồng, đúng chỗ mà trước kia Trấn Bắc Hầu vẫn đứng trong những lần hiếm hoi ông vào kinh dự triều. Hắn đứng đó với sự tự nhiên của người đã ngồi vào ghế đủ lâu để mọi người quen mắt, không còn ai nhớ rằng cái ghế đó vốn dĩ không phải của hắn, rằng Hầu gia chỉ nằm liệt giường chứ không phải đã chết. Và rằng Tả Tướng Quốc Chu Đình Nghiêu "tự nguyện" cáo lão về quê mới được có vài tuần, hồ sơ tham nhũng cũ mà Ngũ Hoàng Tử nắm trong tay chưa kịp nguội mực. Hội đồng phụ chính ba người mà tiên hoàng dày công xếp đặt trong di chiếu, giờ chỉ còn một người ngồi sau tấm rèm mỏng, hai ghế kia do hắn lấp vào bằng chính mình và phe cánh của mình, tất cả dưới danh nghĩa đẹp đẽ là "gánh vác lúc quốc gia nguy nan".
Lan Chu đứng ở hàng cuối trong số những người có quyền dự triều, đúng vị trí một viên Hàn Lâm biên tu thất phẩm, thấp nhất trong những người đủ tư cách đứng trong đại điện. Anh cảm nhận được từng ánh mắt liếc qua liếc lại quanh mình, có người dò xét, có người thương hại, có người chỉ đơn giản coi anh như một kẻ sắp bị loại khỏi bàn cờ. Kiếp trước anh cũng từng quen với cảm giác này, đứng trong phòng họp tổ bộ môn lúc ban giám hiệu đang chuẩn bị cắt giờ dạy lịch sử để nhường cho môn tin học, biết mình đúng mà không có quyền, biết mình cần thiết mà không ai thèm nghe. Ít nhất hồi đó cái tệ nhất có thể xảy ra là bị chuyển trường, còn ở đây thì anh không chắc mình có đủ đầu để mà chuyển.
Người đứng đầu ban tấu hôm nay là một viên quan Lễ bộ, giọng the thé vang khắp đại điện.
"Khởi bẩm phụ chính đại thần."
Ông ta cúi đầu về phía Ngũ Hoàng Tử.
"Thần có việc cần tấu liên quan đến di chiếu của tiên hoàng."
Cả điện im lặng. Lan Chu đứng yên, không nhúc nhích, nhưng trong đầu anh đã bắt đầu tính toán trước cả khi viên quan kia mở miệng nói tiếp câu sau.
"Di chiếu tiên hoàng có đoạn giao phó việc giữ cân bằng triều chính cho con rể Trấn Bắc Hầu, Tiết Lan Chu, hiện đang giữ chức Hàn Lâm biên tu."
Viên quan liếc nhanh về phía Lan Chu rồi quay lại nhìn bệ rồng.
"Thần trộm nghĩ, chức biên tu chỉ có trách nhiệm soạn sách và ghi chép, không có quyền can dự triều chính hay quân sự. Vậy mà tiên hoàng lại giao cho một viên thất phẩm trọng trách giữ cân bằng triều đình, điều này vượt quá phạm vi chức vụ một cách bất thường. Hoặc là tiên hoàng lúc lâm chung đã không còn minh mẫn khi viết đoạn di chiếu này, hoặc là có người đã thao túng để được giao quyền vượt cấp. Thần xin phụ chính đại thần xem xét."
Lan Chu nghe rõ từng chữ, và anh hiểu ngay đây không phải một lời tấu bột phát mà là một đòn được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ không tấn công anh trực tiếp, không buộc tội anh phạm lỗi gì cụ thể, mà đánh vào khoảng cách giữa cái chức anh có và cái việc anh được giao. Một viên biên tu thất phẩm mà được tiên hoàng giao giữ cân bằng triều đình, khoảng cách đó hoặc do tiên hoàng không minh mẫn, hoặc do anh thao túng, và cả hai đều dẫn đến cùng một kết quả: phần di chiếu liên quan đến anh bị vô hiệu. Nếu phần đó bị nghi ngờ thì lập tức người ta có thể đặt câu hỏi về toàn bộ phần còn lại, bao gồm cả việc chỉ định Thất Hoàng Tử kế vị và lập hội đồng phụ chính. Đó là một nước cờ hai lưỡi cực kỳ nguy hiểm, vừa loại bỏ anh, vừa gieo mầm nghi ngờ về tính chính danh của chính cậu bé đang ngồi trên ngai kia. Để rồi sau này khi cần, Ngũ Hoàng Tử có thể lật ngược toàn bộ ván cờ dưới danh nghĩa bảo vệ sự minh bạch của hoàng thất.
Ngũ Hoàng Tử đứng bên ngai vàng, không nói gì ngay, một tay khẽ đặt lên thành ghế bên cạnh, ngón tay gõ nhẹ ba lần rồi dừng, nhịp đều và chậm, như người đang đếm nhịp cho một bản nhạc mà chỉ mình hắn nghe thấy. Hắn nhìn xuống đám đông quan viên bằng ánh mắt bình thản, thậm chí hơi lơ đãng, như thể việc này không liên quan gì đến hắn, dù ai cũng biết viên quan Lễ bộ kia chưa bao giờ dám mở miệng nếu không có sự chuẩn thuận từ trước.
"Các vị đại thần có ý kiến gì không?"
Hắn cất tiếng, giọng nhẹ nhàng và chậm rãi, với sự lịch thiệp tự nhiên của người đã quen được nghe theo.
Khoảng lặng kéo dài, Lan Chu nhìn sang hàng quan viên bên trái, nơi có vài người từng ủng hộ Hầu gia, từng gật đầu mỗi khi ông phát biểu trên triều, từng ghé phủ uống trà và bàn chuyện quốc sự. Không một ai trong số họ nhìn về phía anh, tất cả đều giữ mắt nhìn thẳng về phía trước hoặc cúi xuống sàn, giữ im lặng tuyệt đối theo cách của những người đã tính toán xong rằng lên tiếng lúc này không có lợi. Sự vắng mặt của tiếng nói đó nặng hơn bất kỳ lời buộc tội nào, bởi nó nói rõ một điều mà không ai cần nói ra: Hầu phủ giờ đây đứng một mình.
Anh bước lên một bước, cúi người hành lễ.
"Thần xin phép được nói vài lời."
Ngũ Hoàng Tử nhìn anh, ngón tay trên thành ghế dừng lại giữa chừng, rồi hắn khẽ nghiêng đầu sang một bên, kiểu nghiêng đầu của người đang xem một con cờ tự bước vào thế đã giăng sẵn mà vẫn tò mò muốn biết nó sẽ đi nước nào.
"Tiết biên tu cứ nói."
"Tiên hoàng lúc lâm chung minh mẫn hay không, thần không dám phán xét, vì thần không phải ngự y, cũng không phải người thân cận bên giường bệnh trong những giờ phút cuối."
Lan Chu nói với giọng chậm rãi, rõ ràng, không hề nao núng.
"Nhưng thần xin hỏi một câu. Nếu tiên hoàng đã không còn minh mẫn khi viết đoạn di chiếu về thần, vậy lấy gì đảm bảo rằng ông vẫn còn minh mẫn khi viết đoạn di chiếu lập hội đồng phụ chính? Và nếu hội đồng phụ chính cũng không hợp lệ, vậy những ai đang ngồi ở ghế phụ chính hôm nay, bằng danh nghĩa nào mà ngồi?"
Câu cuối anh không nhìn viên quan Lễ bộ mà nhìn thẳng vào vị trí Ngũ Hoàng Tử đang đứng, nhìn đúng một nhịp thở rồi quay mặt đi, như thể câu hỏi đó chỉ là tu từ chứ không nhắm vào ai cụ thể. Nhưng ai cũng hiểu anh vừa nói gì. Nếu di chiếu bị nghi ngờ ở một phần thì không thể bảo vệ phần còn lại, và phần còn lại đó bao gồm chính cái ghế phụ chính mà Ngũ Hoàng Tử đang chiếm.
Cả điện lặng đi. Viên quan Lễ bộ đứng chết trân, miệng mấp máy nhưng không tìm được câu nào để đáp, vì bất kỳ câu nào ông ta nói thêm đều sẽ tự chặt vào chân ghế mà chủ của ông ta đang ngồi.
Trong hàng quan phía bên phải, một viên quan trẻ thuộc phe Ngũ Hoàng Tử cúi đầu xuống thấp hơn bình thường. Không phải cúi chào, mà cúi để tránh ánh mắt của phụ chính đại thần. Lan Chu ghi nhận cái cúi đầu đó, ghi nhận rõ ràng, vì kẻ do dự giữa đám đông trung thành luôn dễ nhận ra hơn kẻ do dự giữa đám đông hỗn loạn.
"Thần không dám nói tiên hoàng minh mẫn hay không."
Lan Chu tiếp tục, giọng vẫn giữ nguyên sự điềm tĩnh.
"Thần chỉ dám nói, nếu triều đình đã chấp nhận di chiếu là hợp lệ để lập nên hội đồng phụ chính và để tân quân kế vị, thì không có lý do gì để tách riêng một đoạn khác trong cùng văn bản đó ra để nghi ngờ. Trừ khi mục đích không phải vì lo lắng cho sự minh mẫn của tiên hoàng."
Anh không nói rõ mục đích thật là gì, để câu nói lơ lửng giữa không khí đại điện, đủ để mỗi người tự suy diễn theo cách của riêng mình, nhưng đủ sắc để không ai còn dám tiếp tục đẩy vấn đề đi xa hơn ngay lúc này.
Ngũ Hoàng Tử nhìn anh một lúc lâu, ngón tay trên thành ghế bắt đầu gõ lại, chậm hơn lúc trước, nhịp thay đổi, không còn đều đặn mà ngắt quãng giữa chừng như người đang tính lại nước cờ. Rồi hắn không nhìn Lan Chu nữa, mà quay đầu nhìn sang phía bên trái đại điện, nhìn đúng vào vị trí mà Trấn Bắc Hầu vẫn đứng mỗi buổi thiết triều trước kia, vị trí giờ để trống vì ông nằm liệt giường ở phía bên kia kinh thành. Cái nhìn đó kéo dài không quá hai nhịp thở, nhưng Lan Chu đọc được ý nghĩa của nó rõ ràng hơn bất kỳ lời đe dọa nào: hắn không nhắm vào anh, hắn nhắm vào khoảng trống mà Hầu gia để lại, vào sự vắng mặt của người duy nhất có đủ danh nghĩa và uy tín để chặn đường hắn trên triều. Cái nhìn đó nói rằng hắn biết khoảng trống đó sẽ không bao giờ được lấp lại.
"Tiết biên tu nói cũng có lý."
Hắn cất tiếng, giọng vẫn nhẹ nhàng như chưa có chuyện gì xảy ra, thậm chí còn mang theo một nụ cười mỏng ở khóe miệng mà người đứng xa không nhìn thấy.
"Việc này để sau bàn tiếp."
Hắn phất tay chuyển sang vấn đề khác, và buổi thiết triều tiếp tục như thể cuộc đối đầu vừa rồi chỉ là một gợn sóng nhỏ trên mặt hồ đã trở lại phẳng lặng. Nhưng Lan Chu biết mặt hồ càng phẳng thì đáy hồ càng sâu. Hắn vừa cho anh thấy rằng hắn không tức giận, không hấp tấp, chỉ đang đánh giá lại đối thủ với sự kiên nhẫn của người có thừa thời gian.
Anh bước ra khỏi đại điện, ánh nắng buổi sáng chiếu xuống hành lang. Anh thở ra một hơi dài mà từ lúc vào điện đến giờ mới dám thở. Kiếp trước đi họp phụ huynh giải trình chuyện học sinh thi trượt đại học hàng loạt cũng không căng bằng lần này. Mà hồi đó anh còn có công đoàn chống lưng, còn ở đây công đoàn duy nhất của anh đang nằm liệt giường ho ra máu.
Trên đường về Hầu phủ, một người hầu quen mặt chạy tới, nói nhỏ rằng có người của phủ ngự y đang chờ ở cổng, mang theo công văn từ phụ chính đại thần.
Người của ngự y viện đứng ở sảnh chờ, dáng vẻ cung kính quá mức cần thiết, tay cầm một tờ công văn được niêm phong cẩn thận. Ông ta cúi chào Lan Chu rồi trình bày rằng phụ chính đại thần nghe tin Trấn Bắc Hầu bệnh tình trở nặng, đặc biệt cử một vị ngự y giỏi nhất trong cung đến ở lại phủ để theo dõi sức khỏe, coi đây như một cách thể hiện sự quan tâm của triều đình đối với công thần có công lao ba mươi năm trấn giữ biên cương.
Lan Chu nghe xong, gật đầu cảm ơn, giữ đúng lễ nghi, nhưng trong đầu anh đã bắt đầu tính toán ngay lập tức. Một vị ngự y ở lại phủ nghĩa là mỗi ngày sẽ có một người lạ ra vào tự do trong khu vực riêng tư nhất của gia đình, nghe được những cuộc trò chuyện, thấy được ai đến ai đi, và báo cáo lại cho người đã cử ông ta tới. Từ chối thì mang tiếng bất hiếu, không muốn cha vợ được chăm sóc tốt nhất giữa lúc bệnh nặng, mà tiếng đó lan ra ngoài sẽ càng làm mất đi sự ủng hộ vốn đã mong manh trong triều đình. Nhận lời thì coi như tự tay mở cửa cho một đôi mắt lạ vào sâu trong lòng Hầu phủ.
"Xin đa tạ phụ chính đại thần lo lắng."
Lan Chu nói, giọng chân thành đến mức khiến người ngự y kia thoáng ngạc nhiên.
"Xin mời ngự y đại nhân vào trong nghỉ ngơi trước, để ta bẩm báo với Hầu gia."
Anh dẫn người ngự y vào một gian phòng khách, sắp xếp chu đáo, rồi lặng lẽ rời đi, không hề tỏ ra dò xét hay cảnh giác trước mặt người ngoài. Nhưng khi bước qua sân, anh gọi Tiểu Hà lại, dặn nhỏ vài câu, giọng gần như thì thầm.
"Từ nay chuyện gì liên quan đến Hầu gia, nói trước với ta rồi mới nói với ngự y. Không phải không tin tưởng người ta, chỉ là cẩn thận một chút."
Tiểu Hà gật đầu, không hỏi thêm lý do, vì cô đã học được từ lâu rằng những gì Lan Chu dặn dò đều có nguyên do, dù anh không nói ra hết.
Anh bước vào phòng Hầu gia. Căn phòng tối hơn thường lệ vì rèm cửa được kéo kín để tránh gió lùa. Hơi thở của Trấn Bắc Hầu nặng nề vang lên trong không gian yên tĩnh, nghe rõ từng nhịp một cách bất thường so với vài tháng trước. Ông nằm đó, gương mặt gầy đi trông thấy, làn da xám hơn, nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh khi mở ra nhìn thấy anh bước vào.
"Ngoài kia thế nào?"
Ông hỏi, giọng khàn nhưng rõ ràng.
Lan Chu ngồi xuống bên giường, tay nắm lấy bàn tay gầy guộc của ông, cảm nhận được sự yếu ớt qua từng đốt xương nhô lên dưới lớp da mỏng.
"Không có gì đáng lo đâu nhạc phụ."
Anh nói giọng nhẹ nhàng, cố tình giấu đi phần lớn sự nghiêm trọng của buổi thiết triều sáng nay.
"Mọi chuyện con lo được."
Trấn Bắc Hầu nhìn anh một lúc lâu, đôi mắt tuy mờ đi vì bệnh tật nhưng vẫn còn đủ sắc để nhận ra sự cố tình nhẹ nhàng hóa trong câu trả lời của con rể. Ông không hỏi thêm, không gặng ép anh phải nói thật. Ông chỉ siết nhẹ tay anh một cái, giữ lâu hơn bình thường, rồi buông ra, như thể đó là tất cả những gì ông còn đủ sức làm để nói rằng ông tin anh, và cũng để nói rằng ông biết anh đang gánh nhiều hơn những gì anh chịu kể.
"Con bé ngoài đó thế nào rồi?"
Ông hỏi tiếp, giọng chợt dịu xuống, như một người cha nhắc đến con gái chứ không còn là một lão tướng nhắc đến chỉ huy chiến trường.
"Thư mấy hôm nay chưa tới, nhưng chắc chỉ vì đường sá."
Lan Chu đáp, cố giữ giọng bình thản dù trong lòng anh cũng không hoàn toàn tin vào điều mình vừa nói.
Trấn Bắc Hầu nhắm mắt lại, không nói gì thêm, chỉ khẽ gật đầu, rồi thở ra một hơi dài mệt mỏi. Lan Chu ngồi thêm một lúc, nhìn ngực ông phập phồng lên xuống theo từng nhịp thở, cho đến khi chắc chắn ông đã thiếp đi mới nhẹ nhàng đứng dậy rời khỏi phòng.
Buổi chiều hôm đó, anh dành thời gian ở trường học, nơi anh vẫn duy trì việc dạy chữ cho con em binh sĩ và dân thường suốt mấy năm qua. Lớp học hôm nay có một cậu học trò cũ, giờ đã lớn, làm chân sai vặt trong một tiệm buôn lớn ở khu chợ trung tâm, ghé qua thăm thầy nhân tiện mang biếu ít trà mới.
"Thầy dạo này bận rộn quá, con thấy thầy gầy đi."
Cậu ta nói, giọng lo lắng thật lòng.
"Có chút việc phải lo."
Lan Chu cười nhẹ, rót trà mời cậu học trò ngồi lại một lúc.
Câu chuyện chuyển sang những thứ vụn vặt, giá gạo dạo này lên xuống ra sao, tiệm buôn có gặp khó khăn gì không, rồi cậu học trò bỗng nhắc đến một chuyện tưởng như không liên quan.
"À, con quên nói với thầy, mấy hôm trước có một đoàn xe lạ ghé qua kho hàng bên cạnh tiệm con, mua gom một lượng lớn lương khô và thịt sấy, trả tiền rất hậu, nhưng không đi theo đường quan lộ thường lệ mà lại vòng qua ngả phía bắc, lạ lắm. Chủ tiệm con còn bàn tán mãi vì chưa bao giờ thấy ai mua số lượng lớn như vậy mà lại đi đường vòng."
Lan Chu nghe xong, tay cầm chén trà khựng lại giữa không trung một khắc, rồi từ từ đặt xuống bàn, giữ nguyên nét mặt bình thản.
"Đoàn xe đó của ai, em có biết không?"
"Con không rõ, chỉ nghe người ta đồn là của một thương hội lớn ở kinh thành, nhưng lạ ở chỗ họ trả bằng bạc mới đúc, không phải bạc lưu thông thông thường."
Cậu học trò gãi đầu, không nghĩ nhiều về chi tiết đó, chỉ kể lại như một câu chuyện phiếm.
Cậu vừa đi thì một phụ huynh đến đón con tan học, là vợ một người lính canh cổng thành phía đông. Bà không tìm Lan Chu để kể chuyện gì, chỉ tình cờ nhắc trong lúc chờ đứa nhỏ xếp sách rằng chồng bà vừa bị thuyên chuyển sang đơn vị mới ở ngoại thành, không rõ lý do, không báo trước. Chỉ có lệnh điều chuyển đến vào buổi sáng rồi buổi chiều phải đi. Bà nói giọng bình thường, hơi bực vì chồng đi đột ngột mà chưa kịp sửa xong cái cửa nhà bị hỏng. Bà không hề biết rằng chi tiết đó với Lan Chu nặng hơn bất kỳ tin tức nào mà cậu học trò vừa mang đến.
Chồng bà là người từng giúp Lan Chu xác nhận một vài chuyến hàng ra vào cổng thành trong quá khứ. Không phải vì anh nhờ, mà vì anh từng dạy con họ và người lính đó tự nguyện kể cho thầy giáo nghe vài chuyện anh ta thấy lạ ở cổng thành. Việc người đó bị điều chuyển đi ngay lúc này có thể là trùng hợp, nhưng cũng có thể là ai đó đang âm thầm cắt bớt những mắt xích nối Lan Chu với nguồn tin ở cấp thấp nhất. Loại nguồn tin mà không ai để ý nhưng lại chính là tai và mắt của anh ở những góc phố mà phe Ngũ Hoàng Tử không thèm nhìn đến.
Sau khi phụ huynh và đứa nhỏ rời đi, Lan Chu ngồi lại một mình trong lớp học trống, ánh nắng chiều xuyên qua khung cửa sổ chiếu lên mặt bàn gỗ cũ kỹ. Anh lấy ra tấm bản đồ nhỏ gấp gọn trong túi áo, trải ra trên bàn, tấm bản đồ mà anh đã bắt đầu vẽ từ những ngày đầu tiên khi phát hiện ra sự bất thường trong sổ sách của phủ, giờ đây đã chằng chịt những đường nối và ghi chú qua nhiều năm.
Anh đánh dấu một điểm mới ở phía bắc kinh thành, nơi con đường vòng mà cậu học trò nhắc đến dẫn tới, rồi nối một đường mảnh từ điểm đó về phía Hộ bộ, nơi Ngũ Hoàng Tử vẫn nắm quyền kiểm soát tài chính suốt nhiều năm qua. Bạc mới đúc, số lượng lớn lương khô, đường đi né tránh quan lộ chính thức, tất cả những chi tiết đó riêng lẻ không có ý nghĩa gì, nhưng khi xếp cạnh nhau chúng bắt đầu tạo thành một hình dạng mơ hồ mà anh chưa dám khẳng định, nhưng cũng không thể bỏ qua. Rồi anh viết thêm một ghi chú nhỏ ở bên lề: tên người lính canh cổng đông vừa bị điều chuyển, gạch nối với dấu chấm hỏi. Nếu chỉ có một người bị chuyển đi thì có thể là trùng hợp, nhưng nếu trong tuần tới có thêm người thứ hai, thứ ba, thì ai đó đang tỉa mạng lưới của anh mà không cần đụng đến anh.
Anh ngồi đó rất lâu, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn theo nhịp suy nghĩ, cho đến khi trời bắt đầu sẫm màu mới gấp bản đồ lại, cất vào trong ngực áo, rời khỏi trường học trở về phủ.
Tối hôm đó, sau khi lo xong việc cơm nước và thăm hỏi Hầu gia lần cuối trong ngày, Lan Chu ngồi vào bàn viết thư. Bên ngoài phòng vọng lại tiếng bước chân nhẹ của vị ngự y mới đến đi dạo trong sân, tiếng bước chân đó chậm rãi và đều đặn, không giống người đi dạo mà giống người đang quan sát. Lan Chu nghe nhưng không quay đầu, chỉ kéo tấm rèm cửa sổ xuống thấp hơn một chút rồi tiếp tục viết.
Anh cầm bút, viết những dòng đầu tiên bằng giọng điệu quen thuộc của một bản báo cáo, tóm tắt tình hình triều đình, chuyện di chiếu bị chất vấn, chuyện ngự y được cử đến phủ, chuyện anh nghi ngờ có sự bất thường trong việc vận chuyển hàng hóa ở phía bắc kinh thành. Tất cả được viết ngắn gọn, chính xác, không thêm thắt cảm xúc, đúng như cách anh vẫn viết cho cô suốt nhiều tháng qua kể từ khi cô xuất chinh.
Viết xong phần chính, anh dừng bút, nhìn ra ngoài cửa sổ nơi bóng tối đã phủ kín sân viện. Gió đêm nay có phần lạnh hơn mọi khi, lùa qua khe cửa khiến ngọn nến trên bàn khẽ lay động. Anh chấm mực, viết thêm một dòng cuối.
"Gió bắc lạnh sớm năm nay. Nàng mặc thêm áo."
Nhìn dòng chữ đó một lúc, anh cảm thấy có gì đó không ổn, không phải vì câu chữ sai, mà vì nó quá lộ, quá gần với một lời quan tâm mà anh chưa từng viết thẳng ra như vậy trong bất kỳ bức thư nào trước đây. Anh cầm khăn lau nhẹ, xóa đi dòng chữ đó trước khi mực kịp khô hẳn, để lại một vệt mờ nhạt trên giấy, rồi viết đè lên một câu ngắn hơn.
"Bảo trọng."
Anh nhìn dòng chữ mới, rồi nhìn vệt mực mờ bên dưới vẫn còn thấp thoáng hình dạng của câu chữ cũ nếu soi kỹ dưới ánh nến. Anh không xé bỏ tờ giấy để viết lại từ đầu, chỉ gấp nó lại như vậy, có lẽ vì không còn thời gian, có lẽ vì trong lòng anh vẫn muốn giữ lại dấu vết của câu nói mà anh không đủ can đảm để gửi đi nguyên vẹn.
Anh gọi người hầu, giao bức thư, dặn dò kỹ lưỡng phải gửi bằng đường trạm dịch quân sự chứ không qua đường thư dân sự, vì gần đây anh không còn hoàn toàn tin tưởng vào sự thông suốt của những kênh liên lạc thông thường nữa.
Sau khi người hầu mang thư đi, Lan Chu ngồi lại một mình trong phòng. Trên bàn, lọ thuốc mà Phúc Bá đặt lại lúc nào không biết nằm im lìm bên cạnh chồng giấy tờ, lão không nói gì khi đặt vào, cũng không dặn anh uống, chỉ để đó như một lời nhắc không cần tiếng. Từ phía phòng bên vọng lại tiếng ho khan của Hầu gia, ngắn gọn rồi tắt, tiếng ho đó kéo anh ra khỏi sự nhớ nhung cá nhân và nhắc anh rằng không chỉ có Chinh Vũ đang cần anh ở phía bên kia khoảng cách.
Anh kéo lại tập giấy ghi chú, mở đến trang có tấm bản đồ chính trị anh đã vẽ từ nhiều năm trước, thêm vào một dòng mới bên cạnh điểm đánh dấu ở phía bắc kinh thành, rồi tiếp tục cắm cúi viết phần phân tích cho ngày mai.
Ngọn nến trên bàn cháy đến quá nửa đêm. Từ phía cổng phủ, tiếng chân ngựa dừng lại rồi lại đi, và anh nhận ra tiếng vó đó không đi về hướng trạm dịch mà rẽ sang con đường nhỏ dẫn về phía nội thành, cùng hướng với phủ ngự y viện. Anh ngẩng đầu lên, nhìn ra cửa sổ tối đen, lắng nghe cho đến khi tiếng vó ngựa tắt hẳn trong đêm mới cúi xuống viết tiếp. Ngự y ban ngày khám bệnh, ban đêm báo cáo. Anh ghi thêm một dòng vào sổ.
Không chỉ ngự y, trong tuần qua, tin từ mạng lưới cho anh thấy thêm hai mảnh ghép mà anh xếp cạnh nhau trên bàn trước khi tắt đèn mỗi đêm. Mảnh thứ nhất: Ngũ Hoàng Tử bắt đầu đưa người thân tín vào đội cấm vệ quân. Không nhiều, mỗi lần một hai người, nhưng đều đặn, kiểu đều đặn của người đang thay máu một cơ thể mà không muốn cơ thể đó nhận ra. Lục Kính Đường bị ép tuân lệnh canh giữ Thái Hậu theo chỉ đạo của Ngũ Hoàng Tử thay vì bảo vệ bà theo di chiếu, và ông từ chối. Tin đó anh nhận từ một cậu học trò có anh trai làm lính cấm vệ, cậu kể lại bằng giọng lo lắng mà không hiểu mình đang kể thứ gì, chỉ biết đội trưởng đang bị gây khó và anh trai cậu không biết phải nghe lệnh ai. Anh nghe và gật đầu, nói cậu về nhà dặn anh trai cứ nghe lệnh đội trưởng như cũ, rồi ghi tên Lục Kính Đường vào góc bản đồ, bên cạnh dấu chấm hỏi. Vì ông ta là kiểu người mà anh cần nhưng chưa biết cách tiếp cận, kiểu người chỉ nghe mệnh lệnh hợp pháp chứ không nghe ai nói hay.
Mảnh thứ hai: Chu Đình Nghiêu bị quản thúc tại gia nhưng không nằm yên. Gia nhân của lão thần này vẫn ra vào chợ mỗi sáng, mua rau mua gạo như bình thường, nhưng một trong số họ ghé qua trường học anh dạy tuần trước, mua mấy cuốn sách cũ, và trong cuốn sách trả lại có kẹp một mảnh giấy nhỏ viết bằng thứ chữ li ti mà anh phải soi dưới đèn mới đọc được. Trong đó có tên bốn viên quan mà ông ta cho rằng vẫn còn trung thành với di chiếu, kèm một dòng ngắn "lão chưa chết, thằng nhóc ngươi cũng đừng chết". Anh đọc xong thì đốt mảnh giấy, nhưng bốn cái tên đó anh ghi vào đầu, không ghi ra giấy, vì giấy thì tìm được nhưng đầu thì phải chặt mới lấy.
Ba mảnh ghép: ngự y báo cáo ban đêm, cấm vệ quân bị thay máu, lão thần bị nhốt mà vẫn bày cờ. Anh xếp chúng cạnh nhau, chưa thấy hình rõ, nhưng thấy rìa bắt đầu khớp. Rồi anh gấp sổ lại và không ngủ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.