Chương 102: Bốn Mươi Chín Bức Thư
Chinh Vũ phát hiện hộp gỗ vào buổi chiều, khi cô vào phòng anh tìm tập bản đồ biên cương mà anh nói để trên kệ thứ hai từ phải qua.
Anh đang ở trường dạy học, buổi đầu tiên mở lại sau chiến tranh. Phòng trống, nắng chiều qua cửa sổ rơi lên bàn, lên chồng tấu chương, lên nghiên mực, lên cây bút anh đặt ngang.
Cô tìm tập bản đồ trên kệ, lấy xuống, định quay đi. Rồi cô nhìn thấy hộp gỗ. Hộp nằm trong ngăn bàn mở hờ, ngăn mà anh thường để bút và giấy nháp, nhưng hộp không phải hộp bút vì nó lớn hơn hộp bút bình thường và nắp có vết mòn ở chỗ mở, kiểu mòn của thứ được mở đi đóng lại rất nhiều lần trong thời gian dài. Cô sẽ không để ý nếu ngăn bàn đóng kín, nhưng ngăn mở hờ, và mắt cô quen nhìn thấy thứ không thuộc về vị trí của nó vì trên chiến trường một cái bóng sai chỗ có thể là phục kích.
Cô kéo ngăn bàn ra, nhấc hộp lên và cảm nhận nó nặng hơn cô nghĩ. Sau đó cô mở nắp ra và nhìn thấy thư dày đặc. Chúng được xếp gọn theo thứ tự, bức cũ nhất ở dưới cùng giấy đã ngả vàng, bức mới nhất ở trên cùng giấy còn trắng. Cô nhận ra chữ trên bức đầu tiên nhìn thấy vì đó là chữ của cô, nét bút to và thẳng, kiểu chữ mà cả đời cô chỉ viết một kiểu dù viết báo cáo quân sự hay viết thư cho chồng.
Cô đứng yên nhìn vào hộp và nhìn mấy chục bức thư xếp đều trong đó. Cô nhìn cách chúng được xếp, không nhàu, không gấp bừa, mỗi bức gấp đôi đặt ngay ngắn, bức nọ chồng lên bức kia theo trình tự. Kiểu xếp của người cẩn thận, kiểu xếp của người giữ đồ không phải vì buộc phải giữ mà vì muốn giữ.
Cô ngồi xuống ghế của anh, đặt hộp lên bàn, và lấy bức đầu tiên ra.
Bức đầu tiên có giấy vàng nhạt, mực nhạt, nét bút của cô hồi mới ra biên cương lần đầu sau khi hai người đến với nhau. Cô mở ra đọc và nhận ra mình nhớ bức thư này, nhớ mình ngồi trong doanh trại đồn Thanh Phong viết nó vào một buổi tối gió bắc, nhớ mình viết xong đọc lại rồi thấy nó giống báo cáo quân sự hơn là thư gửi chồng, nhớ mình xé đi rồi viết lại rồi vẫn giống báo cáo, rồi gửi luôn vì cô không biết viết kiểu khác.
"Tình hình biên phòng ổn định, quân số đủ, lương thảo dùng đến cuối tháng không thiếu..."
Cô đọc qua phần báo cáo dài xuống đến cuối, chỗ mực đậm hơn phần trên, chỗ cô đã viết một câu rồi gạch đi. Vết gạch thẳng và dứt khoát, nhưng mực vẫn đủ đậm để đọc qua nếu nghiêng tờ giấy: "trời lạnh hơn kinh thành, ngươi nhớ giữ ấm". Bên dưới vết gạch, ba chữ gọn lỏn.
"Nhớ thêm áo."
Cô nhìn dòng đó. Anh nói hôm qua ở hoa viên rằng anh nghiêng mỗi bức thư để đọc chữ dưới vết gạch. Lúc đó cô không tin lắm vì cô nghĩ cô gạch kỹ, nhưng bây giờ nhìn lại thì đúng, vì cô gạch bằng một nét thẳng dứt khoát chứ không tô đi tô lại, kiểu gạch của người quen ra quyết định nhanh mà không nghĩ ai sẽ cố đọc lại.
Cô đặt bức đầu tiên xuống và lấy bức thứ hai ra. Bức thứ hai cũng từ Thanh Phong, cũng báo cáo ở phần đầu, nhưng phần cuối dài hơn bức đầu. Cô kể chuyện Vương Hắc cãi nhau với bà chủ quán cơm về canh mặn hay nhạt, kể chuyện ngựa hoang bắt được gần đồn Bạch Lộ, rồi hỏi "ngươi có ăn đủ không, Phúc Bá có nhắc ngươi ngủ sớm không hay ngươi lại đọc sách đến khuya", ba câu nối nhau không ngắt không dừng.
Cô nhìn ba câu hỏi đó, nhớ mình viết chúng liền một mạch sau khi đọc thư anh gửi lại. Cô viết không nghĩ, không gạch, không cân nhắc như vết gạch ở bức đầu. Cô nhận ra lúc đó cô không biết ba câu đó nối lại thành một câu khác mà cô không dám viết thẳng ra: ta nhớ ngươi.
Cô lật tiếp, bức thứ năm, bức thứ mười rồi bức thứ mười lăm.
Cô không đọc kỹ từng bức nữa mà lật qua, đọc phần cuối mỗi bức, nơi mực luôn đậm hơn phần trên, nơi cô viết thêm sau khi dừng bút một lúc. Lúc này, cô nhìn thấy chính mình thay đổi qua từng dòng cuối đó mà cô không nhận ra khi viết.
Bức đầu chỉ có "nhớ thêm áo" ba chữ gọn lỏn, kiểu ra quân lệnh. Bức thứ năm cô bắt đầu viết dài hơn phần báo cáo, kể chuyện gió cát biên cương, viết "ngồi đó nghe gió, tự dưng nghĩ không biết ở nhà có gió không". Kiểu viết mà nếu là bức đầu cô sẽ gạch đi nhưng đến bức thứ năm cô không gạch nữa. Bức thứ mười cô viết "đêm qua mơ thấy phủ, mơ thấy ngươi ngồi đọc sách ở sảnh đông, không có gì đặc biệt, chỉ ngồi vậy thôi, tỉnh dậy nằm nghe gió thổi ngoài lều một lúc mới ngủ lại được". Bức thứ mười lăm cô kể Vương Hắc cãi nhau với bà bán cơm vì bà tự ý bỏ gừng vào canh, rồi dặn anh mặc thêm áo, rồi viết "ngươi là thư sinh không phải Đại Mục". Cô nhìn câu đó bây giờ mà nhận ra cô đang trêu anh trong thư mà lúc viết cô không biết mình đang trêu, vì cô chưa bao giờ trêu ai trong đời.
Bức thứ hai mươi, phong thư mỏng hơn tất cả những bức trước, nhẹ đến mức gần như không có gì bên trong. Cô mở ra và chỉ thấy một chữ "nhớ".
Cô nhìn chữ đó trên tờ giấy, một chữ nằm giữa trang trắng, không báo cáo, không phân tích, không kể chuyện canh mặn hay gió cát, chỉ một chữ mà cô gửi đi vì chín tháng xa nhà cô đã viết đủ kiểu, dài ngắn đủ cả. Đến bức này cô không còn gì để viết ngoài một chữ đó, một chữ mà nếu là bức đầu tiên cô sẽ gạch đi mười lần nhưng đến bức thứ hai mươi cô viết không do dự.
Cô đặt bức đó xuống nhẹ hơn những bức khác.
Bức thứ ba mươi lăm. Cô biết bức này trước khi mở ra vì cô nhớ đêm cô viết nó, nhớ lều chỉ huy lúc canh ba, nhớ đèn dầu vặn nhỏ vì dầu phải tiết kiệm như lương thảo, nhớ bản đồ trải trên bàn mà cô nhìn cả đêm không đọc ra gì mới, nhớ tay mình cầm bút mà không run dù hai tiếng trước cô vừa viết thư cho cha của người đã chết.
"Đồn Bạch Lộ, ngày hai mươi ba. Tình hình như sau: trận đánh ngày hai mươi mốt tại thung lũng Bạch Lộ, quân ta rút về giữ đồn, tổn thất ước chừng nghìn rưỡi đến hai nghìn..."
Cô đọc qua phần báo cáo, đọc nhanh vì cô nhớ hết, nhớ từng con số, từng tên đồn, từng đoạn đường bị cắt. Đọc đến dòng "Ca Lặc biết lịch tuần tra, quân số các đồn, và điểm yếu trên đường Thanh Phong, ta không biết ai cho hắn biết", cô dừng một nhịp, vì cô nhớ cô viết câu đó rồi nhìn lại, cân nhắc gạch đi vì đây là thừa nhận rằng cô đang bối rối, và cô chưa bao giờ thừa nhận điều đó với ai ngoài anh.
Cô đọc tiếp.
"Hôm nay ta viết ba bức thư, hai bức cho người sống. Một bức cho cha của người đã chết."
Hai chữ cuối cùng:
"Đừng chết."
Cô nhìn hai chữ đó. Ngày cô viết, cô viết không do dự, không gạch, vì đó là hai chữ thật nhất cô có thể viết lúc đó. Bây giờ ngồi trong phòng anh, nắng chiều qua cửa sổ, chiến tranh đã hết, hai chữ đó vẫn nặng như đêm cô viết.
Cô gấp bức thư lại và đặt lên bàn, cạnh những bức khác.
Bức thứ bốn mươi hai. Bức này cô viết đêm trước ngày Ca Lặc dồn tổng lực lần hai. Vương Hắc đang dưỡng thương ở hậu phương, quân gần kiệt, viện binh không đến, và cô biết bức thư cô viết đêm đó có thể là bức cuối cùng đến được kinh thành.
"Lan Chu, ta nhớ bát mì, nhớ lần ta cháy cháo, nhớ lần ta thêu khăn mà bác Phúc tưởng bản đồ, nhớ lần ta gõ cửa phòng ngươi rồi quay đi. Nếu ta không về, ngươi nấu mì cho chính mình. Đừng quên."
Cô đọc bức đó chậm hơn mọi bức thư khác. Cô đọc "nhớ bát mì" thì nhớ bát mì anh nấu cho cô sáng cô ra lệnh đi biên cương lần đầu, anh không hỏi sao cô đến bếp sớm vậy, anh chỉ nấu rồi bưng lên và nói "ăn đi, nước còn nóng". Cô ăn hết mà không nói ngon vì cô không biết cách nói ngon. Cô đọc "nhớ lần ta cháy cháo" thì nhớ nồi cháo đen, nhớ Tiểu Hà bưng mặt, nhớ cô ném nồi đi rồi tối hôm đó nấu lại và lại cháy, lại ném. Cô đọc "nhớ lần ta thêu khăn mà bác Phúc tưởng bản đồ" thì nhớ mặt Phúc Bá lúc lão cầm chiếc khăn nghiêng đầu nói rất chân thành "tiểu thư thêu bản đồ Trấn Bắc Quan ạ?". Khi đó cô đỏ mặt quát còn Tiểu Hà ở góc phòng bưng mặt cười lần thứ không biết bao nhiêu trong đời.
Khi cô đọc "nhớ lần ta gõ cửa phòng ngươi rồi quay đi" thì cô dừng lại. Cô nhớ đêm mưa, nhớ cô đứng trước cửa phòng anh, nước mưa chảy trên mái hiên, cô giơ tay lên định gõ rồi hạ xuống, đứng đó một lúc rồi quay đi, bước chân trên hành lang gỗ ướt nước mưa. Cô tưởng anh không biết. Cô tưởng đêm đó chỉ có mình cô đứng dưới mưa và mình cô quay đi.
Nhưng cô viết câu đó trong bức thư có thể là bức cuối cùng trong đời, nghĩa là trong tất cả những thứ cô nhớ trước khi nghĩ mình sẽ chết, cô nhớ cả đêm cô đứng trước cửa phòng anh và quay đi. Và anh giữ bức thư này, nghĩa là anh đọc câu đó, nghĩa là anh biết cô đã đứng đó, nghĩa là anh biết từ trước hay biết từ bức thư cô không rõ, nhưng anh biết và anh giữ.
Cô đặt bức thư xuống. Ngón tay vẫn giữ trên mép giấy, ngón cái và ngón trỏ kẹp nhẹ, kiểu người chưa muốn buông.
Ngoài cửa sổ nắng chiều đã nghiêng, vệt vàng trên bàn dịch dần sang phía hộp gỗ.
Bức thứ bốn mươi chín. Bức cuối cùng trong hộp. Ngắn nhất trong bốn mươi chín bức, chỉ một dòng, không có phần báo cáo, không có phần phân tích, không có kể chuyện canh mặn hay gió cát hay bàn cờ dở dang.
"Ta về."
Hai chữ. Cô nhìn hai chữ đó trên tờ giấy, hai chữ nằm giữa trang trắng, viết bằng nét bút quen thuộc là nét bút của cô, và nét bút này không run. Không run như bức "đừng chết", không run như bức "nhớ bát mì". Nét chữ thẳng, chắc, dứt khoát, kiểu chữ của người vừa đánh xong trận cuối cùng trong đời và biết mình sẽ gặp lại người mà tất cả bốn mươi tám bức trước đó đều gửi về.
Bức đầu tiên cô viết "nhớ thêm áo" rồi gạch đi câu dài hơn vì không dám. Bức giữa cô viết "đừng chết" vì sợ mất anh. Bức cuối cô viết "ta về" vì không cần nói thêm gì nữa.
Cô gấp bức thư và đặt lại vào hộp. Đặt tất cả bốn mươi chín bức vào lại, xếp theo đúng thứ tự anh đã xếp, bức cũ nhất dưới cùng, bức mới nhất trên cùng.
Cuối cùng cô đậy nắp hộp lại rồi cô ngồi yên.
Căn phòng im ắng. Nắng đã tắt, chỉ còn ánh chiều muộn nhạt dần trên tường. Đèn chưa thắp. Bóng cô ngồi trên ghế in lên vách, lưng thẳng, tay đặt trên nắp hộp gỗ.
Cô không khóc. Chinh Vũ không phải người dễ khóc, chưa bao giờ là người khóc, trên chiến trường mười lăm năm cô không khóc lần nào kể cả khi viết thư cho cha của người đã chết, kể cả khi đứng nhìn bình minh chấp nhận mình sẽ không về.
Nhưng cô ngồi đó rất lâu, ngồi trong phòng anh, tay trên hộp gỗ đựng bốn mươi chín bức thư của mình. Bốn mươi chín bức mà cô gửi đi và tưởng chúng chỉ là thư, là báo cáo, là mấy câu ngắn viết thêm ở cuối trang, nhưng anh giữ hết, từ bức đầu tiên đến bức cuối cùng, không mất bức nào, xếp gọn theo thứ tự, trong hộp gỗ đựng bút cũ mà anh phủi bụi dùng lại từ ngày nhận bức thư đầu tiên.
Bốn mươi chín lần cô viết mà không biết viết cho ai. Bốn mươi chín lần anh đọc mà không nói với ai.
Tiếng bước chân trên hành lang nhẹ và đều, không nhanh không chậm. Cô biết bước chân đó.
Anh dừng ở cửa và nhìn vào.
Cô ngồi trong phòng tối, tay trên hộp gỗ, tập bản đồ biên cương vẫn nằm trên kệ chưa lấy.
Anh không hỏi mà chỉ nhìn hộp gỗ trên bàn, nhìn cô và anh hiểu ra.
Cả hai im lặng một lúc.
"Bức nào cũng giống quân lệnh."
Anh nói với giọng nhẹ, giọng mà anh chỉ dùng cho cô.
"Bức nào ta cũng giữ."
Cô nhìn anh. Trong bóng chiều muộn, mắt cô sáng hơn bình thường, sáng theo kiểu mà nếu ánh sáng tốt hơn thì anh sẽ thấy mắt cô ướt, nhưng ánh sáng vừa đủ để cô giấu và vừa đủ để anh biết cô đang giấu.
"Ngươi giữ hết."
Cô nói.
"Hết."
"Cả bức chỉ có một chữ 'nhớ' rồi hết?"
"Bức đó ta đọc lâu nhất."
Anh bước vào phòng, đến bên bàn và đứng cạnh cô.
"Bốn mươi tám bức nàng viết dài ngắn đủ cả, chỉ bức đó một chữ mà ta ngồi nhìn lâu hơn tất cả những bức còn lại, vì ta biết nàng phải nghĩ rất lâu mới chịu viết một chữ đó ra."
Cô im lặng.
"Nàng viết 'nhớ thêm áo' thì gạch đi câu dài hơn."
Anh kéo ghế ngồi xuống đối diện, chỗ cô hay ngồi xử lý công văn trước kia.
"Nàng viết 'đừng chết' thì không gạch. Nàng viết 'nhớ' cũng không gạch. Bức nào nàng không gạch là bức nàng viết thật."
Cô nhìn anh thêm một nhịp.
"Bức cuối ngươi đọc chưa?"
"'Ta về.'"
Anh cười nhẹ.
"Hai chữ. Nét không run. Ta đọc xong biết nàng thắng rồi, không cần ai báo."
"Sao biết?"
"Vì lần trước nàng viết 'đừng chết' với nét run. Lần này viết 'ta về' với nét thẳng. Nàng sợ thì run, không sợ thì thẳng. Ta đọc chữ nàng bao nhiêu bức thư rồi, run hay không ta nhìn là biết."
Cô quay mặt đi, nhìn ra cửa sổ nơi ánh chiều đã gần tắt hẳn. Anh nhìn thấy cổ cô đỏ, nhìn thấy ngón tay cô trên nắp hộp nắm chặt hơn một nhịp rồi thả ra, nhìn thấy vai cô thẳng nhưng hơi nhô lên theo nhịp thở sâu hơn bình thường. Anh biết cô đang cố giữ vì Chinh Vũ luôn cố giữ, giữ trước mặt ba nghìn lính, giữ trước mặt cha, giữ trước mặt cả thiên hạ, chỉ trước mặt anh thì giữ không chặt bằng.
Anh đưa tay ra, đặt lên tay cô trên nắp hộp. Cô không rút tay lại. Hai bàn tay trên nắp hộp gỗ, trong phòng tối dần, gió chiều muộn qua cửa sổ mang mùi mai trắng từ hoa viên phía tây vào.
"Viết thêm cho ta đi."
Anh nói.
"Chiến tranh hết rồi, nàng không cần báo cáo quân sự nữa. Viết gì cũng được."
Cô nhìn lại anh.
"Ngươi sẽ giữ?"
"Bức thứ năm mươi ta cũng giữ."
Anh cười nhẹ.
"Bức thứ năm trăm ta cũng giữ."
Cô nhìn anh cười trong bóng tối, nhìn khoé mắt anh nheo lại, nhìn cách anh nắm tay cô trên nắp hộp gỗ vừa đủ chặt mà không chặt quá, kiểu nắm của người biết cô mạnh nhưng vẫn nắm. Cô nghĩ rằng bốn mươi chín bức thư cô viết, bức nào cô cũng tưởng mình đang gửi đi, nhưng thật ra mỗi bức đều đang đi về, về chỗ này, về phòng này, về hộp gỗ này, về tay người này.
Cô lật tay lên và nắm lại.
Ngoài hành lang, Tiểu Hà đi ngang qua cửa phòng, nhìn vào, thấy hai bóng người ngồi đối diện trong bóng chiều muộn, tay đặt trên cái gì đó trên bàn, không nói gì.
Cô bé dừng một nhịp, rồi bước đi nhẹ hơn bình thường, không quay lại.
Phúc Bá đứng ở cuối hành lang, nhìn Tiểu Hà đi ra, nhìn vào cửa phòng tối, rồi quay đi thắp đèn ở sảnh chính, thắp từng ngọn chậm và đều, vì Hầu phủ cần sáng nhưng phòng đó chưa cần.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.