Chương 88: Bóng Tối Trước Bình Minh
Đêm ở kinh thành yên tĩnh theo kiểu yên tĩnh của nơi đang chờ thứ gì đó mà chưa ai gọi tên. Ngự y Trần Hoài An khám cho Hầu gia xong vào giờ Dậu, ghi sổ như mọi lần, gật đầu với Phúc Bá, nói rằng "tình hình ổn định, tiếp tục theo dõi" bằng giọng của người đã nói câu đó đủ nhiều lần để không còn nghe thấy chính mình nói gì, rồi cúi chào đi ra cổng Hầu phủ. Anh đứng ở hành lang nhìn bóng ông ta khuất sau cổng, nhìn hai người canh quen mặt đứng ở góc phố bên kia đường đổi chỗ cho nhau đúng giờ Tuất như mọi đêm, rồi quay vào.
Phúc Bá đóng cổng, gài then, tắt đèn sảnh chính. Hầu phủ tối dần từ ngoài vào trong, từng phòng một, theo trình tự mà lão đã làm ba mươi năm không sai một đêm. Ai nhìn từ bên ngoài sẽ thấy Hầu phủ đi ngủ sớm như mọi khi, như một ngôi nhà có ông già nằm liệt bên trong và con rể thư sinh không có việc gì làm ngoài đọc sách.
Nhưng đèn phòng Hầu gia không tắt. Anh vào phòng ông sau khi Tiểu Hà mang bát cháo tối đi rồi, sau khi lão quản gia đã kiểm tra lần cuối rằng không ai ngoài ba người còn thức trong phủ. Phúc Bá đứng ngoài cửa, lưng dựa tường, tay khoanh trước ngực, mắt nhìn về phía hành lang tối, canh gác theo kiểu lão đã canh cả đời: không gây tiếng động, không dời vị trí, không ngủ.
Trong phòng, Hầu gia ngồi trên giường. Không phải ngồi tựa gối kiểu người bệnh ngồi dậy uống nước rồi nằm lại, mà ngồi thẳng lưng, hai chân đặt trên sàn, hai tay chống lên đầu gối, vai ngang, lưng thẳng. Ông ngồi kiểu người chuẩn bị đứng dậy và khi anh bước vào thì ông đã đứng dậy rồi.
Anh nhìn ông đứng. Lần đầu tiên anh thấy ông đứng mà không cần người đỡ là ba tuần trước, chân ông run, đầu gối khuỵu sau hai bước. Lúc đó anh phải đỡ ông ngồi lại xuống. Hai tuần trước ông đi được từ giường ra cửa sổ rồi quay lại, khoảng bảy bước chậm, mỗi bước như đặt chân lên đất lần đầu, nhưng không khuỵu. Tuần trước ông đi trong phòng mười vòng liền, chân vẫn nặng nhưng đã có nhịp, và khi ông dừng lại, mắt ông nhìn anh theo cách mà anh đã thấy một lần duy nhất trước đó: đêm ông nói "lão đã không mua nhầm". Nhưng đêm đó là ánh mắt người sắp ra đi, đêm tuần trước là mắt người sắp đánh trận.
Bây giờ ông đứng giữa phòng và anh mở tủ ở góc, lấy ra thanh kiếm ngắn mà Phúc Bá cất ở đáy tủ từ tháng trước, thanh kiếm ông dùng trong phòng thay vì thanh kiếm trận nặng gấp đôi vẫn treo trên giá ở sảnh chính.
Ông nhận kiếm bằng tay phải rồi nắm chắc và giơ lên ngang vai, giữ một nhịp, rồi hạ xuống chậm, kiểm soát từng phân. Tay ông không run.
Anh đứng lùi ra gần cửa để nhìn ông tập. Ông không tập thế kiếm hoa mỹ, không tập đường kiếm phức tạp, chỉ tập ba động tác cơ bản mà bất kỳ lính nào cũng biết: chém ngang, đâm thẳng, gạt. Ba mươi năm trên chiến trường gói gọn trong ba động tác đó, và ông lặp đi lặp lại chúng trong ánh đèn dầu mờ với sự kiên nhẫn của người hiểu rằng trận đánh không cần đẹp, trận đánh cần đúng.
Hầu gia cứ chém, đâm, gạt mười lần, rồi hai mươi lần. Mồ hôi thấm qua áo mỏng ở lưng, thở nặng hơn sau lần thứ mười lăm, nhưng ông không dừng, vì ông là Trấn Bắc Hầu và Trấn Bắc Hầu thì tập cho đến khi cơ thể tự nghỉ trước khi đầu óc ra lệnh.
Sau lần thứ ba mươi, ông dừng và hạ kiếm rồi thở.
"Bao giờ?"
Ông hỏi, không nhìn anh, mắt vẫn nhìn thanh kiếm trong tay mình.
"Sáng mai con xin triều kiến."
Anh nói.
"Nếu suôn sẻ, hắn sẽ mất quyền phụ chính trước giờ Ngọ."
Ông im lặng một lúc rồi cười khẽ, tiếng cười nhẹ và khô, kiểu cười của người đánh trận cả đời nên biết "nếu suôn sẻ" là ba chữ không ai nên tin.
"Nếu không suôn sẻ?"
Anh nhìn ông.
"Thì con cần nhạc phụ."
Ông gật đầu, không hỏi thêm, vì câu trả lời đó đã đủ. Ông cần đứng được, cầm kiếm được, bước ra cổng phủ được, và phần còn lại thì ông đã biết cách làm từ trước khi thằng con rể này sinh ra ở bất kỳ kiếp nào.
Ông đưa kiếm cho anh cất lại vào tủ. Rồi ông ngồi xuống giường từ từ và nằm lại, kéo chăn lên ngực, vì ngày mai ngự y sẽ đến khám lúc giờ Thìn và ông cần trông giống người sắp chết chứ không phải người vừa tập kiếm ba mươi lần.
Anh cất kiếm, đóng tủ, quay lại giường. Anh định cúi chào rồi đi, nhưng ông giơ tay nắm chặt lấy cổ tay anh một nhịp. Kiểu nắm không có gì giống với cách ông nắm tay anh mấy tháng trước khi ông nguy kịch, lúc đó là nắm của người yếu giữ lấy người khỏe sợ tuột. Bây giờ là nắm của người lính già nắm tay đồng đội trước trận, nắm để nói thứ mà miệng không nói: ta ở đây, ngươi ở đây, sáng mai ra sao thì vẫn cùng nhau.
Anh đứng yên để ông nắm. Cổ tay ông gầy nhưng lực vẫn còn, lực ba mươi năm cầm kiếm không mất hết dù nằm liệt giường mấy tháng, và anh cảm nhận lực đó qua từng ngón tay ông siết trên da mình.
Rồi ông buông tay ra và nhắm mắt, không nói gì thêm.
Anh đứng cạnh giường thêm một lúc, nhìn ông nằm, nhìn khuôn mặt gầy trong ánh đèn dầu, nhìn lồng ngực ông nhấp nhô đều đặn, rồi bước ra khỏi phòng nhẹ hơn cách anh bước vào.
Ngoài cửa, Phúc Bá vẫn đứng đó, lưng dựa tường, mắt mở.
"Mọi việc xong rồi ạ?"
Lão hỏi nhỏ.
Anh gật đầu.
"Lão đi nghỉ đi. Đêm nay còn dài."
Phúc Bá không đi nghỉ. Lão thay áo ngoài bằng bộ áo vải sẫm màu kiểu thường dân, đội nón lá cũ, xách theo một giỏ mây trong có hai hũ rượu, rồi đi ra cổng sau phủ, cái cổng nhỏ ở tường tây mà chỉ gia nhân dùng. Lão đi ra ngõ hẹp, vòng qua hai con phố, đến cổng thành phía tây.
Lính canh cổng thành nhìn lão, thấy ông già mang rượu đi, hỏi đi đâu khuya, lão nói đi thăm đứa cháu ở ấp ngoài thành. Lão mang rượu mừng thôi nôi, đi khuya vì ban ngày Hầu phủ không cho nghỉ. Lính gác gật đầu, vì lão già quá, gầy quá, hiền quá để nghi ngờ, và hai hũ rượu thì đúng là rượu, mùi bay ra từ giỏ mây ngửi thấy rõ.
Hai dặm ngoài cổng thành, nhà thợ rèn, sân sau rộng, tường cao kín kẽ. Đến nơi, lão bước vào.
Trong sân sau, đèn dầu nhỏ đặt trên bậc cửa chiếu vừa đủ sáng để thấy hai người đang ngồi đối diện nhau ở cái bàn gỗ thấp, giữa bàn là ấm trà đã nguội và một tờ giấy trải rộng ghi kín chữ nhỏ.
Lục Kính Đường ngồi bên phải, lưng thẳng như cây thương dù ngồi trên ghế gỗ thấp, mặt gầy hơn lúc ở trong ngục nhưng mắt sáng hơn, vì hai tuần ăn cháo nóng và ngủ đủ giấc ở nhà thợ rèn đã cho ông lại sức mà hai tuần trong ngục không cho. Tay ông đặt trên mặt bàn, cạnh tờ giấy, ngón tay thỉnh thoảng chạm vào tên một người rồi rút lại, kiểu người đang đếm quân số trong đầu.
Chu Đình Nghiêu ngồi bên trái, mặt như đá tảng, áo nhà sư vẫn mặc vì ông ta không mang theo đồ khác khi trốn khỏi phủ, nhưng cách ông ngồi thì không ai nhầm ông là nhà sư được. Vì nhà sư không ngồi kiểu ngồi chống hai khuỷu tay lên bàn nhìn bản danh sách như nhìn chiến trường. Ông đã già thêm trông thấy so với lần cuối Phúc Bá gặp ở triều đường trước khi bị quản thúc, tóc bạc nhiều hơn, lưng không thẳng bằng, nhưng mắt thì vẫn vậy. Đó là ánh mắt người đã thấy quá nhiều kẻ mới vào triều rồi biến mất nên không còn gì làm ông ngạc nhiên, kể cả chuyện trốn khỏi nhà mình giả làm nhà sư rồi ngồi ở sân sau nhà thợ rèn ngoại thành bàn chuyện lật đổ phụ chính đại thần.
Phúc Bá đặt giỏ rượu xuống, cúi đầu chào cả hai, rồi ngồi xuống ghế thứ ba mà vợ ông thợ rèn đã kê sẵn. Lão rót rượu ra ba chén, đẩy về phía hai người, rồi nói gọn. Giọng lão nói chuyện với hai vị đại quan đúng bằng giọng lão nói chuyện với Lan Chu, vì Phúc Bá đối xử với mọi người giống nhau bất kể chức tước, đó vừa là ưu điểm vừa là lý do lão không bao giờ thăng chức.
"Công tử sáng mai xin triều kiến."
Hai người nhìn lão. Lục Kính Đường đặt chén rượu xuống mà chưa uống. Chu Đình Nghiêu nhấc chén lên, uống một ngụm, rồi đặt chậm xuống.
"Sáng mai."
Chu Đình Nghiêu nói, không phải hỏi, giọng ông ta trầm, bình thản, kiểu giọng của người đã chờ tin này từ lâu và bây giờ nghe thấy rồi thì không vội vì vội cũng không nhanh hơn.
"Hắn sẽ cho vào?"
"Công tử nói Ngũ Hoàng Tử sẽ cho vào vì hắn nghĩ công tử đến tự nộp mình."
Phúc Bá đáp.
"Cấm triều hai tuần, Hầu phủ bị vây, Hầu gia liệt giường, vợ ở biên cương không biết sống chết, hắn nghĩ một tên thư sinh đã hết đường nên đến quỳ xin tha."
Lục Kính Đường nhìn Phúc Bá không nói gì, nhưng khóe miệng ông nhích nhẹ theo kiểu người muốn nói một câu nhưng kiềm lại vì binh lính không bình luận về mưu lược. Chu Đình Nghiêu thì không kiềm, ông uống thêm một ngụm rượu rồi nói với giọng khô:
"Hắn sẽ hối hận vì đã mở cửa."
"Dạ, công tử cũng nói vậy."
Phúc Bá gật đầu. Rồi lão mở giỏ mây, lấy ra từ dưới đáy giỏ, dưới hai hũ rượu, một bọc vải nhỏ buộc dây. Lão đặt bọc lên bàn và mở ra. Bên trong là một tờ giấy gấp tư, chữ viết tay của Lan Chu, mực đen trên giấy trắng.
Kế hoạch được viết ngắn và rõ ràng, nhưng Phúc Bá chỉ đọc được phần đầu trước khi Chu Đình Nghiêu kéo tờ giấy về phía mình, vì lão thần đọc nhanh hơn lão quản gia và không có thói quen chờ đợi.
Phần đầu là sáng mai vào giờ Mão, Lan Chu xin triều kiến, trình bằng chứng câu kết Ca Lặc, giơ mật chiếu tiên hoàng. Thái Hậu đứng dậy phế quyền phụ chính. Nếu Ngũ Hoàng Tử chấp nhận thua, mọi chuyện kết thúc trên triều đường.
Phần sau dài hơn phần đầu. Chu Đình Nghiêu đọc hết rồi đặt tờ giấy xuống, ông ta im một lúc. Lục Kính Đường cầm lên đọc lại, chậm hơn, ngón tay dừng ở một chỗ gần cuối rồi gật đầu.
"Thằng nhóc này chắc chắn Tiêu Thần Uyên sẽ không chấp nhận?"
Chu Đình Nghiêu hỏi.
Phúc Bá im một nhịp, rồi đáp, lặp lại đúng lời Lan Chu dặn lão trước khi đi:
"Công tử nói đã tính mọi bước đi của Ngũ Hoàng Tử đúng kể từ ngày hoàng đế băng hà, và bước tiếp theo của công tử cũng sẽ đúng. Vì công tử hiểu một chuyện: kẻ thông minh đến mức Ca Lặc cũng chỉ là quân cờ thì không phải kiểu người biết cúi đầu."
Chu Đình Nghiêu nhìn lão quản gia một lúc, rồi gật đầu chậm, kiểu gật của người thừa nhận rằng nhận xét đó đúng dù ông không muốn nó đúng, vì nếu nó đúng thì sáng mai sẽ không kết thúc trên triều đường mà sẽ kết thúc trong máu.
Lục Kính Đường lên tiếng nói lần đầu tiên trong buổi:
"Danh sách cấm vệ quân."
Ông ta lấy từ trong áo ra một mảnh giấy nhỏ, đặt cạnh tờ kế hoạch. Sáu mươi bảy cái tên, viết bằng tay, mực đậm, nét thẳng, chữ kín cả hai mặt giấy vì sáu mươi bảy cái tên thì một mặt không đủ. Sáu mươi bảy người trong đội cấm vệ mà ông chắc chắn sẽ quay về theo ông khi ông xuất hiện, vì họ theo ông không phải vì lệnh mà vì ông đã đứng cạnh họ canh cổng cung từ lúc có người trong số họ chưa mọc râu.
"Đủ không?"
Chu Đình Nghiêu hỏi khi nhìn danh sách.
"Cấm vệ quân sáu trăm."
Lục Kính Đường đáp.
"Phó tướng đưa vào khoảng một trăm rưỡi tay chân mới trong mấy tháng để thay máu, đám đó nghe theo hắn ta. Bốn trăm rưỡi còn lại là lính cũ của tôi, sáu mươi bảy người tôi nắm chắc, còn lại sẽ dao động."
Ông ta dừng một nhịp.
"Nhưng lính cấm vệ không theo phe, họ theo đội trưởng, và đội trưởng thì chỉ có một."
Lục Kính Đường nói câu đó bằng giọng bình thản, không kiêu ngạo, chỉ là sự thật mà ông đã sống cả đời để nó trở thành sự thật. Chu Đình Nghiêu nghe xong thì không hỏi thêm vì ông hiểu kiểu trung thành đó, ông cũng có kiểu của riêng mình, chỉ khác là kiểu của ông dùng bút còn kiểu của Lục Kính Đường dùng thương.
"Tư binh bốn phủ đại thần: khoảng ba trăm, có thể ba trăm rưỡi."
Chu Đình Nghiêu nói, giọng đang đếm quân số, kiểu giọng mà ông đã không dùng từ khi bị quản thúc.
"Không nhiều. Nhưng giữ cổng thành thì đủ, vì giữ cổng thì không cần đông, chỉ cần đứng đúng chỗ và nói đúng câu."
Phúc Bá nghe hai người nói, ghi nhận và rót thêm rượu. Lão nghĩ rằng lão đã phục vụ Hầu phủ ba đời nhưng chưa bao giờ ngồi cùng bàn với Tả Tướng Quốc và đội trưởng cấm vệ quân bàn chuyện đánh vào cung cấm giữa đêm ở sân sau nhà thợ rèn. Nếu kể cho ai nghe thì không ai tin, nhưng lão không định kể cho ai.
"Hầu gia sao rồi?"
Lục Kính Đường hỏi, giọng thấp hơn, kiểu của người lính già hỏi về vị tướng cũ.
"Dạ, Hầu gia tập kiếm được rồi."
Phúc Bá nói, giọng run nhẹ ở cuối câu dù lão cố giữ, vì mỗi lần nói câu đó ra lão vẫn chưa quen. Ba tháng trước lão tưởng ông chủ sẽ ra đi và bây giờ ông chủ tập kiếm được thì lão vẫn thấy giống như đang nằm mơ vậy.
Lục Kính Đường nghe và im lặng một lúc, rồi gật đầu mạnh một cái. Ông không cười, không nói, chỉ gật đầu, nhưng cái gật đó chứa nhiều thứ hơn mọi câu ông có thể nói. Vì ông là lính theo Hầu gia từ hai mươi năm trước, và lính thì không cần nói nhiều khi nghe tin tướng mình đứng dậy được.
Phúc Bá về đến Hầu phủ vào giờ Hợi, giỏ mây nhẹ hơn lúc đi vì rượu đã để lại. Lão vào cổng sau nhẹ nhàng như cách lão đi ra, không gây tiếng động, không để dấu vết, vì ba mươi năm làm quản gia cho một gia đình có kẻ thù tứ phía thì lão đã quen đi nhẹ hơn cả bóng của mình.
Lan Chu ngồi ở thư phòng chờ. Đèn dầu cháy thấp, bản đồ chính trị gấp lại trên bàn, hộp gỗ ba mươi tám bức thư đặt ở góc. Phúc Bá vào, đóng cửa rồi ngồi xuống.
"Xong."
Lão nói.
"Chu tướng quốc nói gì?"
"Nói 'Chu Thần Uyên sẽ hối hận vì đã mở cửa.'"
Anh cười nhẹ, kiểu cười mà anh chỉ cười khi ở một mình hoặc ở với Phúc Bá, kiểu cười không giấu gì vì không cần giấu.
"Lục đội trưởng?"
"Sáu mươi bảy người, chắc đủ."
Anh gật đầu và gõ ngón tay lên bàn, một hai ba bốn. Sáu mươi bảy cấm vệ nắm chắc, bốn trăm rưỡi sẽ theo khi đội trưởng xuất hiện, ba trăm tư binh. Còn có một ông già vừa tập kiếm ba mươi lần trong phòng kín. Lực lượng đó Không nhiều, nhưng anh không cần nhiều, anh cần đúng.
"Còn một chuyện."
Anh nhìn Phúc Bá.
"Tiểu Hà."
Tiểu Hà đứng ở hành lang, tay ôm một bọc vải nhỏ trước ngực, mắt mở to nhìn anh trong ánh đèn dầu mờ. Cô bé mặc áo sẫm, tóc vấn gọn, chân đi giày vải đế mềm kiểu giày mà Phúc Bá đưa cho cô nửa canh giờ trước, nói rằng đi giày này thì bước trên đá không có tiếng.
Cô bé không hỏi vì sao cần đi không có tiếng. Cô bé chỉ nhìn anh và chờ.
"Đường hầm từ hầm rượu phía tây phủ dẫn ra ngoài tường thành cũ, rồi nối vào đường thoát nước cung cấm."
Anh nói chậm từng câu, vì Tiểu Hà cần nhớ hết và cô bé nhớ giỏi nhất khi nghe chậm.
"Phúc Bá sẽ dẫn em đến cửa hầm. Từ đó em đi một mình. Đường dài khoảng nửa canh giờ, rất tối, có chỗ phải cúi, có chỗ phải bò. Ra đầu kia là sân sau hoàng cung, gần nơi Thái Hậu ở. Em tìm cung nữ trực đêm, đưa thư, chờ trả lời, rồi quay về cùng đường cũ."
Tiểu Hà nghe và gật đầu sau mỗi câu. Cô bé vân vê góc tạp dề theo thói quen rồi nhận ra mình không mặc tạp dề nên tay buông xuống nắm chặt vạt áo thay thế.
"Nếu gặp lính canh trên đường ra?"
Cô bé hỏi, giọng nhỏ nhưng rõ, kiểu hỏi của người muốn biết để chuẩn bị chứ không phải để sợ.
"Đường hầm này không ai biết ngoài Phúc Bá."
Anh nói.
"Nhưng nếu em gặp bất kỳ ai, quay lại ngay. Không giải thích, không nói chuyện, chỉ quay lại. Thư nếu không giao được thì mang về, ta tìm cách khác."
Tiểu Hà gật đầu rồi nhìn bọc vải trong tay mình. Cố bé biết bên trong là bức thư mà cô không được đọc nhưng cô đoán được nặng cỡ nào vì mặt anh lúc đưa cho cô là mặt anh khi nói chuyện quan trọng nhất, mặt bình thản nhất trong tất cả các kiểu mặt bình thản của anh.
"Cô gia."
Cô bé nói, dừng một nhịp, rồi nói nhanh tiếp, kiểu nói nhanh của cô khi sợ không nói kịp.
"Em đi rồi em về. Cô gia đừng lo."
Anh nhìn cô bé. Cô bé mười tám tuổi, nhỏ con, nhanh nhẹn, đã sống ở Hầu phủ từ năm mười hai, đã theo Chinh Vũ lên ngựa xuống ngựa không kêu ca, đã vân vê góc tạp dề qua hàng chục lần sợ hãi và lúng túng mà không bao giờ bỏ chạy. Bây giờ anh sai cô đi trong đường hầm tối giữa đêm mang thư vào cung cấm cho Thái Hậu, và cô không hỏi tại sao, chỉ nói "em đi rồi em về".
"Cẩn thận."
Anh nói nhẹ hai chữ, vì anh không biết nói gì hơn mà không biến cuộc đi này thành thứ gì đó nặng nề hơn nó cần phải là.
Tiểu Hà cúi đầu quay đi. Cô bé đi theo Phúc Bá xuống cầu thang phía tây, và bóng cô bé nhỏ dần trong hành lang tối cho đến khi anh không còn nhìn thấy nữa.
Anh quay lại thư phòng, ngồi xuống và mở ngăn bàn, lấy ra mật chiếu. Cuộn lụa nhỏ có ngọc tỷ tiên hoàng đóng ở cuối, bút tích run nhẹ vì hoàng đế viết khi đã yếu lắm. Anh đã cầm cuộn lụa này nhiều lần kể từ đêm hoàng đế trao, đã mở ra đọc lại nhiều lần, đã biết thuộc lòng từng chữ, nhưng đêm nay anh mở ra lần nữa, không phải để đọc mà để nhìn.
Anh nhìn nét chữ run, nhìn dấu ngọc tỷ đỏ sẫm, mực ấn đã lệch nhẹ về bên trái vì tay người ấn không đủ sức ấn thẳng. Anh nhìn và nhớ đêm hoàng đế gọi anh vào, phòng ngủ mờ tối, chỉ có hai người, và ông nói bằng giọng mà anh phải cúi sát mới nghe:
"Ngươi giữ, dùng khi cần. Đừng dùng sớm."
Anh đã không dùng sớm. Anh đã chờ qua ngày hoàng đế mất, chờ qua hội đồng phụ chính bị phá, chờ qua Chu Đình Nghiêu bị quản thúc, chờ qua Lục Kính Đường bị giam, chờ qua Hầu gia nguy kịch rồi hồi phục, chờ qua vợ anh ra biên cương đánh trận mà anh không biết hôm nay cô còn sống hay không. Cuối cùng, anh chờ cho đến khi anh có đủ bằng chứng và đủ người để chờ không còn là kiên nhẫn nữa mà là liều.
Sáng mai anh sẽ dùng. Và dùng rồi thì hết, vì mật chiếu là vũ khí một lần, sức mạnh của nó nằm ở sự bất ngờ và uy tín tiên hoàng, dùng xong thì chỉ còn là một cuộn lụa cũ có chữ người chết.
Anh cuộn mật chiếu lại, cất vào tay áo, nơi sáng mai anh sẽ mang lên triều. Rồi anh nhìn hộp gỗ chứa ba mươi tám bức thư. Bức cuối cùng là sáu dòng không có quân sự, sáu dòng toàn chuyện nhỏ ở nhà, và anh đã gửi thư trả lời nhưng không biết thư có đến không vì dịch trạm đã bị phá.
Anh đặt tay lên nắp hộp, giữ ở đó một nhịp, rồi nhấc lên.
Ngoài cửa sổ, đêm kinh thành vẫn yên. Anh nghĩ đến Tiểu Hà, lúc này có lẽ đang đi trong đường hầm tối, tay ôm bức thư trước ngực, chân đi giày không tiếng, và anh hy vọng cô bé không sợ bóng tối vì anh quên hỏi. Anh nghĩ đến Lục Kính Đường ở ngoại thành, kiểu người đó thì giờ này chắc đang ngồi mài kiếm chờ sáng chứ không ngủ. Anh nghĩ đến Chu Đình Nghiêu, lão thần chắc đang viết lại danh sách phân công lần thứ ba vì ông là người không chịu viết sai một chữ. Và anh nghĩ đến Thái Hậu đang ngồi sau rèm, bà không ngủ mà chờ một bức thư mà bà chưa biết đã lên đường.
Và ở biên cương, cách mấy trăm dặm, nơi mà anh không nhìn thấy và không biết tin từ hai tuần nay, Chinh Vũ có thể đang đứng trên tường thành nhìn bình minh, hoặc đang mặc giáp ra trận, hoặc đang nằm trong lều nghe gió, hoặc đang không còn ở đâu cả. Anh không biết, và không biết thì anh không nghĩ, vì nghĩ thì tay anh sẽ run. Sáng mai tay anh cần giữ mật chiếu giơ lên trước mặt cả triều đường, nên tay không được run.
Anh nhấc tay khỏi hộp gỗ rồi gõ ngón tay lên bàn, một hai ba bốn rồi dừng.
Rồi anh tắt đèn, ngồi trong bóng tối, chờ trời sáng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.