Chương 87: Tuyệt Vọng
Ca Lặc đánh vào giờ Dần, khi trời còn tối đen và sương chưa tan. Hắn không đánh kiểu hắn đã đánh suốt mấy tháng qua, không vây chậm, không cắt tiếp tế, không ngồi trên gò đất phía bắc chờ cô phản ứng rồi mới ra đòn tiếp. Lần này hắn đánh ba hướng cùng lúc, toàn bộ kỵ binh dồn về phía tây nam, phía đông và cả chính diện, đánh kiểu người không giữ lại gì, không để dành cánh dự bị, không tính đường lui. Cô chưa bao giờ thấy hắn đánh kiểu này, vì hắn là người không bao giờ liều, và đêm nay hắn liều, và đêm nay cô hiểu tại sao.
Hắn biết mình mất nguồn tin tức. Suốt mấy tháng chiến tranh, hắn biết trước cô sẽ rút ở đâu, đánh ở đâu, tiếp tế ở đâu, vì có ai đó trong kinh thành gửi cho hắn mọi thứ hắn cần, từ lịch tuần tra đến bản đồ kho lương. Hắn dùng thông tin đó để đọc cô như đọc bàn cờ đã bày sẵn nhưng từ bảy ngày trước dòng thông tin đó bỗng biến mất. Cô không biết vì sao, không biết ai ở kinh thành đã chặn nó, chỉ biết rằng trong bảy ngày qua Ca Lặc không còn đoán đúng bước đi tiếp theo của cô nữa. Hắn phản ứng chậm hơn nửa nhịp và cô đã tận dụng nửa nhịp đó để giữ vững hai đồn phía nam mà đáng lẽ đã mất từ tuần trước.
Nhưng hắn không rút, hắn cũng không chờ mà hắn đánh. Ca Lặc đánh vì hắn biết rằng mất thông tin nội bộ thì lợi thế lớn nhất của hắn sẽ tiêu dần theo mỗi ngày. Nếu hắn không kết liễu cô trong vài ngày tới thì cô sẽ bắt đầu đọc lại hắn, sẽ tìm ra cách đánh mà hắn không tính được, sẽ trở lại thành La Sát mà cả thảo nguyên không ai muốn đứng cách một sải tay. Hắn đánh vì đây là cơ hội cuối cùng của hắn và Ca Lặc là người không bỏ lỡ cơ hội cuối cùng.
Tiếng trống trận vang lên cùng lúc từ ba hướng và Chinh Vũ đứng trên tường đồn Bạch Lộ nhìn xuống. Cô thấy trong ánh đuốc và bóng tối hàng ngàn bóng ngựa di chuyển như sóng đen tràn qua cánh đồng, không theo đội hình quen thuộc mà theo đội hình tản rộng kiểu kỵ binh thảo nguyên đánh tràn ngập. Đó là kiểu đánh mà Ca Lặc chê vì nó thô sơ nhưng đêm nay hắn dùng, vì đêm nay hắn không cần khéo, hắn chỉ cần nhanh.
Cô ra lệnh trong vòng ba hơi thở.
"Kỵ binh cánh phải chặn hướng tây nam. Bộ binh giữ tường. Cung thủ bắn tự do."
Rồi cô mặc giáp, xuống ngựa, dẫn đội kỵ binh trực tiếp ra chặn cánh chính diện. Vì cánh chính diện là nơi Ca Lặc dồn nhiều quân nhất và cô biết nếu cánh đó vỡ thì đồn mất, và đồn mất thì chiến tranh kết thúc ngay đêm nay.
Trận đánh kéo dài từ giờ Dần đến gần sáng. Cô không nhớ rõ từng khoảnh khắc, chỉ nhớ tiếng kim loại, tiếng ngựa hí, tiếng quát và tiếng rên la và bàn tay mình siết chuôi kiếm đến mức ngón tay tê dại mà không buông được. Cô giết mấy chục người trong đêm đó, có thể nhiều hơn, cô không đếm vì đếm không giúp gì. Mỗi người cô giết đều có khuôn mặt trẻ hơn cô tưởng, vì Ca Lặc tung cả lính mới vào trận, kiểu tung của người không giữ lại ai cho trận sau.
Khi trời hừng sáng, Ca Lặc rút quân. Không phải rút vì thua mà rút vì hắn đã đạt được mục đích của đêm nay.
Cô đứng trên tường thành nhìn hắn rút, nhìn kỵ binh Hung Nô lùi ra ngoài tầm bắn trong trật tự, và đếm trong đầu. Trước trận cô có chín nghìn quân chiến đấu, không tính hậu cần và thương binh. Bây giờ cô có sáu nghìn rưỡi, có thể ít hơn vì báo cáo thương vong chưa đầy đủ. Hai nghìn rưỡi người mất trong một đêm. Không phải mất hết vì chết, một phần bị thương nặng không thể chiến đấu, một phần mất tích trong bóng tối, nhưng đêm nay cô mất gần một phần ba quân số và cô biết Ca Lặc vẫn còn đủ quân để đánh thêm một trận nữa.
Cô nhìn sân trong đồn. Quân y đang chạy giữa những hàng người đang nằm, máu trên đất đã đông lại thành lớp dính dưới giày. Tiếng rên la của thương binh nghe rõ hơn khi tiếng trống trận đã tắt. Viên phó tướng trẻ mà cô cử giữ cánh phải nằm ở hàng thương binh phía đông, mặt trắng bệch, giáp rách từ vai xuống ngực, quân y đang cố cầm máu nhưng máu thấm qua lớp vải nhanh hơn tay họ giữ. Cô nhìn cậu ta, nhìn đôi mắt cậu ta đang nhìn lên trời, và biết rằng trước tối cậu ta sẽ không còn có thể nhìn gì nữa.
Cô quay đi, không phải vì không muốn nhìn, mà vì còn việc phải làm.
Buổi sáng hôm đó, viên quân nhu đem bản kiểm kê kho lương mới vào lều chỉ huy. Cô đọc nội dung gồm gạo còn đủ mười tám ngày, giảm sáu ngày so với tuần trước vì kho phía đông bị cháy trong trận tối qua. Muối thì đủ chín ngày. Cỏ ngựa chỉ đủ năm ngày nếu thời tiết giữ nguyên, ba ngày nếu tuyết đến sớm. Thuốc quân y thì gần hết, không đủ cho số thương binh mới. Viện binh hoàn toàn không có.
Cô đặt bản kiểm kê xuống bàn, úp mặt giấy xuống, rồi nhìn ra cửa lều. Ngoài cửa, binh lính đang đắp lại tường thành chỗ bị phá, đắp bằng đất và đá và xác gỗ cháy, đắp bằng tay vì dụng cụ không đủ. Một nhóm khác đang đào hố chôn người ở phía tây đồn, đào nhanh, vì xác không chờ được. Gió đông mang theo mùi khét và mùi máu khô, và cô đã ngửi mùi đó đủ nhiều trong đời để biết mùi đó sẽ ở lại đồn này lâu hơn cô.
Cô gọi viên trinh sát trưởng Lý Hữu vào.
"Tình hình Ca Lặc."
Cậu ta đứng nghiêm, mặt bình thường nhưng mắt đỏ vì không ngủ hai đêm liền.
"Dạ, hắn rút về cách đồn hai mươi dặm phía bắc, dựng trại, không tản ra. Lều trại dày đặc. Theo ước tính của thuộc hạ, hắn còn khoảng hai vạn kỵ binh chiến đấu."
Hai vạn, trong khi cô có sáu nghìn rưỡi.
"Đường tiếp tế phía nam?"
"Vẫn bị cắt ạ. Hai đội trinh sát phái đi từ hôm qua chưa về."
"Trạm dịch quân sự?"
"Trạm Thanh Phong bị phá. Trạm Ưng Sơn còn, nhưng đường từ đó về kinh thành đi qua vùng kiểm soát của Hung Nô, liên lạc không chắc."
Cô gật đầu và cho Lý Hữu lui ra.
Ngồi một mình trong lều chỉ huy, cô mở bản đồ ra, nhìn vào đường vòng cung mà kỵ binh Ca Lặc đang tạo quanh đồn Bạch Lộ. Cô thấy rõ những gì cô đã bắt đầu thấy từ mấy tuần trước nhưng chưa chịu nhìn thẳng vào: cô bị bao vây, hết lương, không có viện binh, và Ca Lặc chỉ cần đánh thêm một trận lớn nữa là xong.
Một trận nữa với mười tám ngày còn gạo và hai vạn kỵ binh bên ngoài.
Cô nhìn bản đồ rất lâu rồi gấp lại, đặt sang bên, lấy giấy trắng ra. Cô viết cho Vương Hắc, không phải thư mà là quân lệnh.
"Vương tướng quân thân lệnh,
Nếu tướng quân nhận tin đồn Bạch Lộ thất thủ, lập tức dẫn tàn quân rút về Trấn Bắc Quan cố thủ. Không phản công, không cứu viện. Giữ Trấn Bắc bằng mọi giá, giữ đến khi kinh thành gửi quân mới.
Danh sách phó tướng kế nhiệm theo thứ tự ưu tiên: Trần Hùng Dũng, Lý Quốc Bảo, Chu Minh.
Tầm Chinh Vũ."
Cô viết xong, đọc lại một lần. Chữ cô vẫn thẳng, nét vẫn mạnh, không run, vì tay cô không run khi viết quân lệnh, tay cô chỉ run khi viết thư cho Lan Chu mà đó là chuyện khác. Cô đóng phong thư, ghi chữ "Mật" rồi gọi Lý Hữu vào lần nữa.
"Gửi cho Vương tướng quân bằng đường an toàn nhất. Nếu mọi đường bị chặn thì giữ lại và đợi."
Cô dừng một nhịp.
"Đây là quân lệnh cuối cùng ta viết cho ông ta. Đến nơi thì tốt. Không đến thì ông ta cũng biết phải làm gì."
Lý Hữu cầm thư, cúi đầu, rồi đứng yên ở cửa lều một nhịp lâu hơn bình thường. Cô nhìn cậu, thấy cậu muốn nói gì đó nhưng không nói, vì cậu là lính và lính thì làm chứ không hỏi, nhưng mắt cậu nhìn cô theo cách mà cô đã thấy ở lính trẻ trước khi họ biết mình sẽ không về. Cô không quen bị nhìn kiểu đó, vì cô luôn là người đứng trước hàng quân hứa rằng sẽ đưa họ về. Bây giờ cô không hứa được nữa và Lý Hữu biết.
"Đi đi."
Cô nói nhẹ.
Cậu ta đi.
Chiều hôm đó viên phó tướng trẻ giữ cánh phải chết trong lều thương binh. Cô đến nhìn mặt cậu ta một lần trước khi người ta đắp vải lên, và nhìn thấy trên gương mặt đã tái xanh ấy một vẻ bình thản mà người sống không bao giờ có được. Cậu ta mới hai mươi ba, con trai viên tướng nhỏ đồn Ưng Sơn, cậu ta xin theo cô ra trận vì cha cậu ta nói rằng theo La Sát thì học được nhiều thứ. Cô đã nhận cậu ta vì cậu cưỡi ngựa giỏi và chịu nghe lệnh, hai thứ cô cần nhất ở một phó tướng. Bây giờ cô phải viết thư cho cha cậu ta, và cô không biết viết gì ngoài "con trai ông đã chiến đấu dũng cảm". Vì câu đó đúng nhưng câu đó không giúp ai nguôi ngoai bớt thứ gì.
Cô không viết bây giờ. Cô sẽ viết sau, nếu còn cái gọi là sau.
Đêm đó cô không ngủ được. Không phải vì tiếng gió hay tiếng lính tuần tra, mà vì cô nằm nhắm mắt và thấy bản đồ ở trong đầu, thấy vòng cung kỵ binh Ca Lặc khép dần, thấy con số sáu nghìn rưỡi giảm đi sau mỗi ngày vì thương binh không có thuốc sẽ thành người chết. Rồi cô thấy con số mười tám ngày lương thực đếm ngược từng ngày mà không ai đếm cùng cô.
Cô mở mắt, nhìn lên trần lều, và nghĩ đến kinh thành.
Cha ở kinh thành. Cha đang nằm ở Hầu phủ, có Lan Chu bên cạnh, có Phúc Bá lo liệu, có người xem mạch hàng ngày. Thư cuối cùng Lan Chu gửi ra, đến trước khi trạm dịch bị phá, anh viết rằng Hầu gia "khỏe hơn tuần trước" và cô biết anh không nói dối nhưng cũng biết anh không nói hết. Vì cách anh viết "khỏe hơn tuần trước" bốn chữ gọn lỏn rồi chuyển ngay sang phân tích chính trị là cách anh viết khi có thứ gì đó anh chưa muốn cô lo thêm.
Cô nằm nghĩ đến bát mì, nghĩ đến cách anh nấu dư một phần mỗi tối, thói quen nấu cho người vắng mà anh không bỏ. Rồi cô nghĩ đến nồi mì nửa kia để nguội trên bếp qua đêm, nghĩ đến bức thư anh gửi trả lời thư cuối cùng của cô mà có thể sẽ không bao giờ đến vì trạm dịch đã bị phá.
Bỗng cô nhận ra mình đang gõ ngón tay lên mép giường, một hai ba bốn. Thói quen đó không phải của cô, cô biết rõ, cô đã bắt gặp mình làm vậy lần đầu sau trận thua ở Bạch Lộ và lần đó cô cũng giật mình dừng lại. La Sát biên ải, cả thảo nguyên nghe tên mà tránh, bây giờ nằm giữa doanh trại gõ ngón tay theo nhịp của một tên thư sinh cách đây mấy trăm dặm, chắc Vương Hắc mà biết thì ông ta sẽ cười ho ra rượu mất.
Cô không sợ chết. Cô đã đứng trước cái chết nhiều lần kể từ năm mười lăm tuổi theo cha ra trận lần đầu. Mỗi lần cô đều nhìn thẳng vào nó mà không quay đi, vì quay đi thì binh lính phía sau sẽ quay đi theo, và tướng quân không được phép quay đi.
Nhưng cô sợ anh ở kinh thành một mình. Cô sợ anh ngồi trước bàn gõ ngón tay một hai ba bốn rồi dừng, nhìn hộp gỗ ba mươi tám bức thư, và biết rằng sẽ không có bức thứ ba mươi chín. Cô sợ anh nấu mì tối, nấu dư một phần, rồi nhìn nồi mì nguội dần mà không đổ đi vì anh không bỏ được thói quen nấu cho người không về. Cô sợ cả Hầu phủ sẽ giống lúc cô không nhìn thấy anh, Phúc Bá rót trà không ai uống, Tiểu Hà ôm khay đứng ở hành lang vân vê góc tạp dề mà không biết mang cho ai. Chỉ khác là lần này không phải cô bỏ quên anh mà là cô không về được để ở cạnh anh.
Và cô lo cho cha, sợ cha nằm ở giường nghe tin rồi im, rồi nhắm mắt, rồi không mở lại nữa. Vì ông đã sáu mươi, đã nằm liệt, và con gái duy nhất của ông đang đứng giữa đồn Bạch Lộ cách ông mấy trăm dặm mà không biết có còn dịp gọi ông một tiếng cha hay không.
Cô sợ tất cả những thứ đó nhiều hơn sợ hai vạn kỵ binh Hung Nô ngoài tường thành.
Cô nằm thêm một lúc, rồi ngồi dậy, mặc áo, đi ra ngoài lều. Trời đã gần sáng. Phía đông chân trời bắt đầu nhạt dần từ đen sang xám, chưa có nắng nhưng đã có thứ ánh sáng mỏng rải trên mặt đất. Ánh sáng đủ để thấy tường thành, thấy lính canh đứng gác, thấy cánh đồng phía bắc nơi lều trại Ca Lặc dựng thành hàng dài mà đêm qua đốm lửa trại của hắn chi chít như sao rơi trên đất.
Cô đi lên tường thành, đứng ở chỗ cao nhất, nơi mà bình thường cô đứng trước mỗi trận để nhìn toàn cảnh chiến trường. Lính canh thấy tướng quân, muốn chào nhưng cô giơ tay ngăn, và họ lui ra xa vài bước, đứng im, để cô đứng một mình.
Gió đông thổi mạnh hơn. Tóc cô bay ngang mặt, mấy sợi vướng vào khóe miệng, cô gạt đi bằng tay trái vì tay phải vẫn đặt trên chuôi kiếm theo thói quen. Giáp cô chưa mặc, vì giáp mặc từ giờ này thì đến lúc đánh sẽ mệt trước khi trận bắt đầu, nhưng cô đã sai lính chuẩn bị sẵn ở cạnh ngựa, và kiếm thì cô không bao giờ rời.
Cô nhìn về phía đông, nơi bình minh đang lên. Bình minh ở biên cương khác với bình minh ở kinh thành. Ở kinh thành nắng sớm chiếu qua cửa sổ thư phòng, rơi lên bàn, rơi lên mu bàn tay anh đang cầm bút. Cô nhớ có lần cô đứng ở cửa nhìn bàn tay đó lâu hơn cô cần nhìn, bàn tay mỏng và dài của người viết chữ, bàn tay đã nắm tay cô trên mặt bàn sáng hôm cô lần đầu gọi tên anh. Bình minh ở biên cương không có bàn tay đó, chỉ có gió, có tường thành sứt mẻ, và có hai vạn kỵ binh phía bắc đang chờ.
Cô đứng nhìn bình minh lên hết. Ánh sáng từ nhạt sang vàng sang cam, rải trên cánh đồng, rải lên mái lều Ca Lặc, rải lên mặt đất nơi hôm qua còn máu. Cô nhìn nắng sáng rồi nhìn xuống tay mình trên chuôi kiếm, tay dính bụi và vết xước cũ, móng tay gãy hai cái từ trận tối qua chưa kịp giũa. Cô nghĩ rằng bàn tay này không giống bàn tay của ai đó biết thêu khăn tay hay rót trà nhẹ nhàng hay viết thư tình, bàn tay này chỉ biết cầm kiếm, và cầm kiếm thì cô sẽ cầm đến khi không cầm được nữa.
Cô hít sâu. Cô không quay đi, không cúi đầu, không hứa gì với ai, không hứa với binh lính, không hứa với mình, vì lời hứa cô không chắc giữ được thì cô không nói.
Cô chỉ đứng ở đó, nhìn nắng lên, và nghĩ rằng nếu đây là buổi sáng cuối cùng cô nhìn thấy mặt trời, thì cô muốn nhìn cho rõ, nhìn cho đủ. Bởi vì ở kinh thành anh cũng sẽ nhìn mặt trời này, cùng mặt trời, khác bầu trời, và đó là thứ gần nhất cô có thể ở gần anh lúc này.
Lính canh đứng phía sau nhìn tướng quân đứng trên tường thành, lưng thẳng, tóc bay, kiếm bên hông, im lặng nhìn về phía đông. Không ai nói gì, không ai hỏi tướng quân có sao không, vì ai cũng biết tướng quân không bao giờ có sao, và ai cũng biết hôm nay tướng quân không ổn. Hai thứ đó nằm cạnh nhau trong im lặng mà không mâu thuẫn.
Gần giờ Thìn, cô quay lại lều chỉ huy ro62o ọi các phó tướng còn lại vào. Ba người. một bị thương nhẹ ở vai, quấn vải vẫn đứng. Một mắt đỏ vì không ngủ hai đêm. Một trẻ nhất, hai mươi mốt, mới lên thay viên phó tướng chết sáng nay.
Cô không vòng vo mà nói thẳng:
"Ca Lặc sẽ đánh lại trong hai ngày nữa, có thể sớm hơn. Quân số hắn gấp ba ta. Lương ta đủ mười tám ngày. Viện binh không có."
Cô nhìn lần lượt từng người.
"Ta không hứa thắng. Ta chỉ hứa sẽ luôn đứng trước quân sĩ của mình."
Ba viên phó tướng đứng im. Viên trẻ nhất nuốt nước bọt, tay nắm chặt bên hông, nhưng không ai nói gì, vì tướng quân không hứa thắng mà vẫn đứng đây thì họ cũng đứng đây, và đó là thứ duy nhất cô cần họ hiểu.
"Bố phòng lại tường phía tây, dồn cung thủ giỏi nhất lên góc đông bắc, chia kỵ binh còn lại thành hai cánh cơ động thay vì bốn."
Cô nói với giọng đều, không cao không thấp, giọng ra quân lệnh mà suốt đời cô chỉ biết nói một giọng.
"Đánh co cụm, không mở rộng. Giữ đồn bằng mọi giá."
"Thuộc tướng lĩnh lệnh."
Ba người đi ra.
Cô ngồi lại một mình, nhìn bản đồ, rồi gấp bản đồ lại, vì cô đã nhìn nó đủ rồi, đã tính hết rồi, đã biết hết rồi. Chỉ là cô biết hết mà không làm được gì thì nhìn thêm chỉ để tự hành mình thôi.
Cô lấy giấy ra, không phải viết quân lệnh lần nữa. Cô muốn viết cho anh, viết thêm một bức nữa, bức thứ ba mươi chín, viết rằng cô sợ anh ăn mì một mình, viết rằng cô tiếc đêm mưa đó không gõ cửa, viết rằng ba chữ "nấu hai bát" là ba chữ khó nhất cô từng nói mà cũng là ba chữ cô vui nhất khi nói. Cô muốn viết nhiều thứ, nhiều hơn sáu dòng, nhiều hơn ba mươi tám bức thư toàn quân sự cộng một dòng cuối, nhiều hơn tất cả những gì cô đã nói trong suốt bao nhiêu lâu hai người sống dưới cùng một mái nhà mà cô mất mấy năm mới biết gọi tên anh.
Nhưng cô không viết, không phải vì không muốn, mà vì trạm dịch đã bị phá, đường liên lạc đã đứt, thư gửi đi sẽ không đến nơi. Cô không muốn viết ra thứ sẽ nằm lại trên xác cô cho kẻ thù đọc. Thứ cô muốn nói với anh không dành cho mắt ai khác và nếu cô không thể đảm bảo chỉ anh đọc thì cô thà không viết.
Cô đặt bút xuống và nhìn tờ giấy trắng. Rồi cô gấp tờ giấy trắng lại, bỏ vào túi áo trong, ép sát ngực, chỗ giáp che kín nhất. Một tờ giấy trắng không có chữ, nhưng cô biết nếu anh nhận được, anh sẽ hiểu, vì anh luôn hiểu, vì anh đã đọc được câu bị gạch dưới vết mực, đã ngửi thấy mùi lông mày cháy mà cô không kể, đã nhìn thấy bát cháo không cháy trong ba lần nấu mà biết lần thứ ba cô đã cố gắng đến mức nào.
Một tờ giấy trắng có nghĩa là cô muốn nói mà không nói được. Mà không nói được có nghĩa là cô không còn thời gian, và anh sẽ đọc tờ giấy trắng đó như đọc bức thư dài nhất cô chưa bao giờ viết. Dĩ nhiên là nếu anh nhận được.
Cô đứng dậy, bước ra khỏi lều, gọi binh lính chuẩn bị giáp và ngựa.
Nắng đã lên cao. Gió đông vẫn thổi, lạnh hơn hôm qua. Phía bắc, lều trại Ca Lặc đang nằm im và chờ đợi.
Cô nhìn về phía bắc, rồi nhìn về phía nam, về phía kinh thành, nơi rất xa, nơi có người đang ngồi trước bàn gõ ngón tay một hai ba bốn rồi dừng, có thể đang nhìn cùng mặt trời này mà không biết rằng người ở phía bên kia cũng đang nhìn.
Khi lính mang giáp đến, cô mặc vào theo thứ tự cô đã mặc cả ngàn lần từ năm mười lăm tuổi, chân trước tay sau vai cuối cùng, nhưng trước khi thắt dây ngực cô đưa tay vào kiểm tra túi áo trong, chỗ tờ giấy trắng nằm, đầu ngón tay chạm mép giấy gấp một nhịp rồi rút ra, rồi mới thắt dây giáp che kín. Binh lính đứng cạnh không thấy gì, chỉ thấy tướng quân mặc giáp hơi chậm hơn mọi khi một nhịp thở.
Sau đó cô kiểm tra kiếm. Rồi cô quay lưng lại phía nam, đối mặt phía bắc, và đi về phía hàng quân đang chờ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.