Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 86: Bức Thư Cuối Cùng

Đăng: 17/08/2026 23:28 2,425 từ 2 lượt đọc

Cô viết thư vào đêm sau trận hòa. Trong lều chỉ huy, đèn dầu cháy thấp, bản đồ gấp lại ở góc bàn vì cô đã nhìn nó đủ nhiều trong ngày để không cần nhìn thêm khi nhắm mắt vẫn thấy từng đường vẽ, từng vòng tròn, từng chỗ gạch chéo nơi Ca Lặc đã xóa đi những gì cô cố gắng xây nêm. Gió đêm luồn qua khe lều mang theo hơi lạnh đầu đông, lạnh hơn tuần trước. Cô ngồi trước tờ giấy trắng với tay phải vẫn còn đau ở cổ tay từ trận chiều nay vì cô vung kiếm hơi lệch một nhát mà không nhận ra cho đến khi buông kiếm xuống thì cổ tay đã sưng.

Bình thường cô viết thư cho anh bằng báo cáo quân sự cộng thêm một dòng cuối, kiểu thư cô đã viết suốt nhiều tháng, ngắn gọn, đúng mực. Phần chính là tình hình, phần phụ là một câu gì đó mà cô phải nghĩ lâu hơn phần chính mới viết được như "mì ngươi nấu ngon hơn mì ở đây", "ngươi có ăn không", "đừng chết". Cô không giỏi viết thư tình vì cô không biết thư tình trông như thế nào, cô chỉ biết quân lệnh và báo cáo. Thư cô gửi về kinh thành gần giống quân lệnh hơn là thư vợ gửi chồng, nhưng anh đọc và hiểu. Và anh gửi lại bằng phân tích chính trị cộng thêm "mì đã nấu sẵn". Cứ thế hai người viết thư cho nhau theo cách đó suốt cả cuộc chiến tranh mà không ai bảo ai thay đổi vì cả hai đều biết cách đó là đủ rồi.

Nhưng đêm nay cô không viết báo cáo. Cô nhìn tờ giấy trắng, nhìn ngọn đèn dầu nhảy theo gió, và nghĩ đến bản kiểm kê kho lương viên quân nhu đưa cho cô sáng nay. Gạo còn đủ bốn tuần, muối đủ hai tuần, cỏ khô cho ngựa đủ mười ngày nếu thời tiết không xấu thêm. Viện binh từ kinh thành không đến, đợt tiếp tế tháng này không đến, và cô biết tại sao chúng không đến vì anh đã viết trong thư trước. Anh không nói thẳng nhưng nói đủ để cô hiểu, rằng kho lương kinh thành đầy ắp nhưng lệnh xuất kho không có, rằng Ngũ Hoàng Tử đang bỏ đói cô từ phía sau trong khi Ca Lặc siết vòng vây từ phía trước.

Trong bốn tuần, nếu Ca Lặc đánh thêm hai trận lớn, cô không giữ nổi trận thứ hai. Nếu hắn không đánh mà chỉ vây, cô hết lương trước khi hắn hết kiên nhẫn. Cả hai cách đều dẫn đến cùng một kết quả, và cô đã nhìn kết quả đó đủ rõ trên bản đồ chiều nay để biết rằng bức thư cô viết đêm nay có thể là bức cuối cùng đến được kinh thành.

Cô nhúng bút vào mực và không viết "tình hình quân sự", Không viết "doanh trại ổn", Không viết "đừng chết" vì lần này người cần nghe hai chữ đó là cô chứ không phải anh. Cô không muốn viết cho anh thứ mà anh sẽ đọc xong rồi lo mà không làm được gì.

Cô viết:

"Lan Chu,

Ta nhớ bát mì."

Cô dừng bút lại, nhìn ba chữ "nhớ bát mì" trên giấy, và thấy trong ba chữ đó cả một chuỗi dài mà cô không biết bắt đầu từ bát nào. Bát mì anh nấu cho cô sáng cô ra lệnh đi biên cương lần đầu, lúc cô chưa ăn sáng, anh xuống bếp nấu mà không ai bảo. Rồi anh bưng lên đặt trước mặt cô và nói "ăn đi, nước còn nóng". Cô ăn hết bát đó mà không nói ngon vì cô không biết cách nói ngon. Hay bát mì anh nấu dư mỗi tối, phần dư để trên bếp nguội qua đêm, thói quen nấu cho người vắng mà cô biết nhưng không bao giờ nhắc. Hay bát mì tối cô nói "nấu hai bát" rồi quay đi, bốn chữ ngắn nhất cô từng nói mà cũng là bốn chữ khó nhất. Vì nói "nấu hai bát" nghĩa là cô muốn ngồi ăn cùng, và muốn ngồi ăn cùng nghĩa là cô đang thừa nhận một thứ mà cô chưa dám gọi tên.

Tất cả nằm trong ba chữ "nhớ bát mì" và cô không viết thêm vì anh sẽ hiểu, anh luôn hiểu, anh hiểu từ trước khi cô biết có gì để hiểu.

Cô viết tiếp.

"Ta nhớ lần ta nấu cháo cháy, cháy hai lần."

Cô viết "hai lần" rồi dừng lại vì nhớ rõ là cháy hai nồi trong bếp chính rồi nấu nồi thứ ba ở bếp nhỏ lúc gần sáng. Nhưng nồi thứ ba không cháy, nồi thứ ba thành cháo thật, và sáng hôm sau anh ăn mà nói "cháo ngon" bằng giọng bình thường nhất có thể, không nhìn ai, nhưng Tiểu Hà bưng mặt chạy vào bếp và tai cô đỏ. Cô gạch "hai lần" và sửa lại "ba lần" vì nồi thứ ba tuy không cháy nhưng cô đã đốt cháy lông mày bên trái lúc nhóm lửa mà không ai biết ngoài cô, và cô đếm vụ đó vào.

"Nhớ lần ta thêu khăn mà Phúc Bá tưởng bản đồ."

Cô viết câu đó mà không cần dừng, vì câu đó buồn cười lúc xảy ra và vẫn buồn cười bây giờ, buồn cười đến mức cô suýt cười thành tiếng trong lều chỉ huy giữa đêm trước trận. Tiếng cười đó nếu lính canh ngoài cửa nghe thấy thì sẽ sợ hơn là vui vì tướng quân cười một mình lúc nửa đêm thì không ai biết nên mừng hay nên lo. Phúc Bá hôm đó nhìn mảnh khăn thêu, nghiêng đầu, bảo rất chân thành rằng "tiểu thư thêu bản đồ Trấn Bắc Quan ạ". Lúc đó cô muốn ném cái khăn vào mặt lão nhưng không ném được vì lão nói đúng, thêu hoa mà giống bản đồ thì lỗi ở người thêu chứ không lỗi ở người nhìn.

"Nhớ lần ta khen ngươi 'nhìn được'."

Cô dừng bút ở câu này lâu hơn những câu trước. "Nhìn được", chỉ hai chữ cô chuẩn bị cả buổi chiều, Tiểu Hà dạy cô nói lời khen ngợi, cô tập đi tập lại trong phòng, rồi ra trước mặt anh, mở miệng, và hai chữ rơi ra nghe như đánh giá chiến trường chứ không phải khen người khác. Anh thì suýt phun trà, Tiểu Hà thì bưng mặt, còn Phúc Bá quay lưng, vai rung.

Cô nhớ hết. Cô nhớ vì đó là lần đầu tiên cô cố gắng bằng cách duy nhất cô biết, và cách duy nhất cô biết thì buồn cười, mà buồn cười thì cô nhớ lâu hơn cảm giác đau.

"Nhớ lần ta gõ cửa phòng ngươi rồi quay đi."

Câu này cô viết chậm từng chữ vì câu này không buồn cười. Đêm mưa đó cô đứng ngoài cửa phòng anh, giơ tay lên, định gõ cửa rồi hạ tay, rồi đứng đó chịu ướt vẫn không gõ, không đi, cho đến khi cô quay đi vì cô không biết mình muốn gì khi gõ cửa đó và cô không gõ vào thứ cô không hiểu. Đêm đó cô về phòng, áo ướt một bên vai, cô nằm xuống nghe mưa và nghĩ rằng mình vừa bỏ lỡ thứ gì đó mà cô không gọi tên được. Cô không kể cho ai, không kể cho Tiểu Hà, không kể cho anh, nhưng bây giờ cô viết ra vì bây giờ cô biết mình muốn gì khi giơ tay lên, và cô muốn anh biết rằng cô biết dù có hơi muộn.

Cô nhúng bút lại. Mực đã loãng hơn vì đêm lạnh và nước trong nghiên cạn dần. Cô thêm nước, hòa mực và viết hai dòng cuối:

"Nếu ta không về, ngươi nấu mì cho chính mình. Đừng quên."

Rồi cô đặt bút xuống và nhìn bức thư. Sáu dòng, không có tình hình quân sự, không có phân tích Ca Lặc, không có báo cáo kho lương. Sáu dòng toàn là chuyện nhỏ ở nhà, chuyện bát mì, cháo cháy, khăn thêu và một đêm mưa đứng ngoài cửa. Đây không phải thư của tướng quân gửi về kinh thành. Đây là thư của người nghĩ rằng mình sẽ không quay về.

Cô gấp thư lại, không đọc lại, vì đọc lại thì cô sẽ xé bỏ rồi viết lại báo cáo quân sự như mọi khi, và cô không muốn bức thư cuối cùng cô gửi cho anh là báo cáo quân sự.

Cô gọi Lý Hữu và giao thư, dặn gửi bằng đường trạm dịch quân sự. Cô dặn nhanh và Lý Hữu cầm thư đi mà không hỏi vì cậu là lính và lính thì làm chứ không hỏi. Nhưng cậu ta nhìn mặt tướng quân trước khi quay đi và mặt tướng quân lúc đó bình thường, bình thường đến mức cậu sợ, vì cậu theo tướng quân đủ lâu để biết rằng mặt bình thản nhất là lúc nặng nhất.

Sau đó cô tắt đèn, nằm xuống, nhắm mắt. Gió đêm thổi qua lều lạnh lẽo. Cô kéo chăn lên ngực, tay phải đặt lên bụng, cổ tay vẫn đau. Cô nghĩ rằng mai cô sẽ mặc giáp ra trận, rằng mai Ca Lặc có thể đánh hoặc không đánh, rằng muối trong kho đủ hai tuần, rằng cha ở kinh thành có anh bên cạnh, và rằng sáu dòng vừa viết là tất cả những gì cô muốn nói trong trường hợp cô không có dịp nói thêm gì nữa.

Rồi cô ngủ nhanh, vì tướng quân không được phép mất ngủ trước trận.

Thư đến Hầu phủ mười bốn ngày sau.

Buổi sáng, Phúc Bá đặt phong thư lên bàn thư phòng, cạnh chén trà nóng, rồi đi ra. Anh nhận ra chữ ngoài bì do tay cô viết, nét mạnh quen thuộc nhưng lần này hơi nghiêng hơn bình thường, kiểu nghiêng của người viết khi cổ tay không hoàn toàn ổn.

Anh mở thư ra đọc. Sáu dòng, không có báo cáo quân sự, không có phân tích, không có "đừng chết".

Anh đọc hết một lượt rồi gấp lại và mở hộp gỗ trên bàn. Bên trong có ba mươi bảy bức thư xếp theo thứ tự thời gian, bức đầu tiên ở dưới cùng là bức cô gửi từ đồn Thanh Phong lần đầu ra biên cương, ngắn gọn, toàn quân sự, kết bằng "ngươi có ăn không". Bức gần nhất nằm trên cùng kết bằng "đừng chết" và anh đặt bức thứ ba mươi tám vào, bức sáu dòng không có quân sự, đặt lên trên cùng, rồi anh đậy nắp.

Ba mươi tám bức thư, bức nào cũng giống quân lệnh, bức nào anh cũng giữ.

Rồi anh mở thư ra lần nữa, lấy giấy ra, nhúng bút và viết trả lời cho từng dòng cô viết, vì cô liệt kê những gì cô nhớ và anh muốn cô biết rằng anh nhớ những thứ đó từ phía bên này.

"Nàng nấu cháo cháy ba lần. Lần đầu Phúc Bá dập lửa. Lần hai Phúc Bá dập lửa và Tiểu Hà bưng mặt cười ở cửa bếp. Lần ba không cháy, nhưng ta ngửi thấy mùi khét lông mày từ phía sân bếp mà không ai nói gì và nàng cũng không nói."

Anh viết đoạn đó rồi dừng lại, vì anh không chắc cô có biết là anh biết chuyện lông mày hay không, nhưng bây giờ không phải lúc để giữ thứ gì trong bụng.

"Nàng thêu khăn, Phúc Bá bảo giống bản đồ. Ta chưa nhìn thấy cái khăn đó vì nàng giấu đi, nhưng Tiểu Hà kể, và ta nghĩ nếu nàng thêu bản đồ thì chắc bản đồ đó chính xác hơn hoa.

Nàng khen ta "nhìn được". Đêm đó ta ngồi trong phòng cười một mình lần đầu tiên kể từ khi vào Hầu phủ."

Anh viết câu đó rồi nhìn nó trên giấy. Cô không biết chuyện này. Cô không biết rằng tối hôm đó anh ngồi một mình trong phòng và cười, không phải vì hai chữ đó buồn cười mà vì có người đã cố gắng bằng tất cả những gì cô có, và tất cả những gì cô có cho ra hai chữ "nhìn được". Anh cười vì lần đầu tiên trong phủ này anh thấy mình không phải người duy nhất đang cố gắng.

"Lần nàng gõ cửa phòng ta rồi quay đi, ta không biết. Bây giờ nàng nói, và ta ước ta đã mở cửa đêm đó dù không nghe tiếng gõ, nhưng ta không mở vì ta không biết. Đó là thứ ta tiếc nuối nhất trong tất cả những thứ ta có thể tiếc."

Câu đó anh viết lâu nhất, viết rồi gạch, viết lại rồi gạch, ba lần, cho đến khi anh nhận ra rằng không có cách nào viết cho nhẹ hơn và nó không cần nhẹ vì nó cần đúng.

"Ta nhớ hết. Nàng phải về vì ta không chịu ăn mì một mình nữa đâu."

Anh đặt bút xuống rồi gấp thư, đóng phong bì, viết tên người nhận và đặt lên góc bàn. Sau đó anh đứng dậy, mang thư ra cửa, gọi Tiểu Hà.

"Gửi đường trạm dịch quân sự, gừi nhanh."

Cô bé cầm thư, nhìn anh, nhìn mặt anh bình thản như mọi lần gửi thư, nhưng cô bé ở Hầu phủ đủ lâu để biết rằng khi cô gia nói "nhanh" thì chuyện không bình thường. Vì bình thường anh chỉ đặt thư lên bàn để cô bé tự mang đi khi tiện.

Tiểu Hà cầm thư đi.

Anh quay vào thư phòng, đóng cửa, ngồi xuống bàn. Anh đặt tay lên nắp hộp gỗ, giữ ở đó một lúc. Ngoài sân, nắng sáng, Hầu phủ yên tĩnh. Ở phòng bên, Hầu gia ho nhẹ một tiếng rồi im, khoảng cách giữa cơn ho xa hơn hôm qua.

Anh nhấc tay khỏi nắp hộp, kéo bản đồ chính trị ra từ ngăn bàn và tiếp tục làm việc.

0