Chương 72: Ca Lặc Rời Kinh Thành
Sáng hôm đó Chinh Vũ ăn cơm mà không nhìn thẳng vào anh, gắp thức ăn nhanh hơn bình thường. Anh rót thêm trà vào chén cô khi thấy gần cạn, cô liếc anh một cái rồi quay đi, kiểu liếc của người còn đang ngượng chuyện tối qua mà chưa tìm được chỗ cất cái ngượng đó vào đâu.
Phúc Bá bước vào, dáng đi nhanh hơn thường lệ. Lão đứng ở cửa, chờ anh ngẩng lên.
"Đoàn sứ giả Hung Nô hôm nay rời kinh thành."
Chinh Vũ đặt đũa xuống. Anh gật đầu, bảo Phúc Bá cứ để đó, anh sẽ ra xem.
Đoàn sứ giả rời đi vào giờ Tỵ, theo con đường lớn dẫn ra cửa tây. Anh đứng ở góc phố cùng vài quan văn khác, nhìn đoàn ngựa di chuyển chậm rãi giữa hai hàng người đứng xem. Ca Lặc đi đầu, hắn vẫn mặc chiếc áo bào lam thẫm, lưng thẳng trên ngựa, vai rộng mà không gồng, dáng ngồi của người quen sống ngoài trời hơn trong thư phòng. Hắn không nhìn hai bên đường như lúc mới đến, ánh mắt giờ thẳng về phía trước, kiểu nhìn của người đã xem xong thứ cần xem và không cần xem lại lần nữa. Gió sáng thổi tà áo hắn lật lên, hắn không sửa mà cứ để vậy.
Anh đếm đầu người trong đoàn theo thói quen cũ. Ngày Ca Lặc vào kinh thành, anh đã đếm ở sảnh triều đường và ghi rõ trong sổ: mười bốn người. Chín tùy tùng, bốn phụ trợ cầm lễ vật, và Ca Lặc. Sáng nay anh đếm lại, từ đầu đến cuối đoàn, đếm hai lần.
Lần này chỉ có mười ba.
Anh giữ vẻ mặt bình thường, không nhìn lại lần thứ ba vì không cần, hai lần đã đủ. Đoàn ngựa tiếp tục đi về phía cổng tây, và anh đứng yên ở góc phố với con số đó trong đầu.
Gần cổng, đoàn dừng lại vì có xe hàng chắn đường. Ca Lặc quay đầu ngựa sang phía lính gác, hỏi một câu bằng giọng bình thường, giọng khách lạ hỏi thăm đường.
"Cổng phụ phía nam đồn trú còn dùng không? Ta nhớ lần trước qua đây thấy đóng."
Người lính gác trả lời có, vẫn dùng, chỉ đóng vào buổi tối sau giờ Tuất. Ca Lặc gật đầu, cảm ơn, rồi tiếp tục đi. Xe hàng dẹp sang bên, đoàn ngựa lướt qua cổng. Trước khi khuất ở cuối con đường phía tây, Ca Lặc quay đầu nhìn lại kinh thành một lần, chỉ một nhịp, cách người ta nhìn lại thứ mình đã tính xong giá cả nhưng chưa mua, rồi quay về phía trước và đi tiếp.
Cổng phụ phía nam không nằm trên đường đoàn sứ giả từng đi khi vào kinh thành. Hắn biết cổng đó tồn tại, biết nó từng đóng, biết đủ chi tiết để hỏi một câu nghe như tình cờ nhưng thực chất là xác nhận lại thông tin đã có từ trước.
Anh quay về phủ, không đi nhanh, không đi chậm.
Buổi chiều, thầy giáo dạy lớp vỡ lòng ở trường phía đông ghé phủ nộp sổ sách hàng tháng, ngồi uống trà với anh ở sảnh phụ. Giữa chuyện, ông nhắc đến thằng bé Vĩnh, con trai một người lính gác thành, hôm qua kể trong lớp một câu chuyện phiếm.
"Nó bảo suốt mấy tuần qua có một người trong đoàn Hung Nô cứ lui tới khu chợ gần cổng nam."
Ông nói, vừa rót thêm trà cho mình, giọng kể chuyện bình thường.
"Mua lẻ tẻ đủ thứ, nào là dây thừng, vải dầu, cả bản đồ phố cũ. Nó nhận ra vì người đó vì cách ăn mặc khác người kinh thành, cổ áo cao hơn một chút."
"Mỗi lần mua nhiều không?"
"Nó bảo không. Mỗi lần chỉ một hai thứ, nhưng lần nào cũng ghé."
Anh gật đầu, rót trà cho ông, chuyển sang hỏi chuyện lớp học, chuyện sổ sách. Ông thầy giáo uống xong trà rồi về.
Anh lấy giấy ra viết. Người trong đoàn tùy tùng, mua lẻ tẻ ở khu chợ cổng nam suốt mấy tuần, cổ áo cao hơn kiểu kinh thành. Kẻ đó chưa rõ danh tính. Đối chiếu sổ đăng ký lưu trú Hồng Lô Tự với danh sách rời đi hôm nay thì thiếu một người.
Tiếng Phúc Bá gõ cửa vang lên. Anh dừng bút, chưa kịp viết xong dòng cuối.
Một người phụ trách sổ sách ở Hồng Lô Tự mang đến phủ một chiếc hộp gỗ nhỏ, nói là do phía sứ đoàn Hung Nô để lại trước khi đi, dặn chuyển đến cho phu nhân Trấn Bắc Hầu phủ.
Là phu nhân, không phải cho anh.
Chinh Vũ nhận hộp, mở ra ngay tại sảnh. Bên trong là một bộ cờ vây, quân cờ làm bằng đá thảo nguyên, mặt đá nhẵn, vân tự nhiên chạy theo từng thớ như vết nứt trên mặt đất khô, khác hẳn loại đá cẩm thạch trắng mịn mà người kinh thành hay dùng. Bàn cờ gấp gọn bằng gỗ sẫm màu, góc cạnh chắc chắn, rõ ràng được làm riêng chứ không phải hàng chợ.
Kèm theo bộ cờ là một tấm thẻ nhỏ, chữ viết tay, nét chữ vuông vắn kiểu người học chữ Đại Tần muộn nhưng luyện kỹ.
"Kỳ thủ giỏi nên có bàn cờ xứng tầm. Hẹn ván sau."
Chinh Vũ cầm tấm thẻ, đọc một lần, lật mặt sau, không có gì thêm. Cô nhìn sang anh.
"Hắn gửi ta bàn cờ."
Giọng cô không giấu được sự khó hiểu thật lòng.
"Hắn nghĩ ta biết chơi cờ?"
"Nàng biết chơi không?"
"Không."
Cô nói xong đặt tấm thẻ xuống bàn, nhìn bộ cờ thêm một lúc, ngón tay gõ nhẹ lên mép hộp gỗ theo nhịp không đều. Rồi cô ngẩng lên.
"Dạy ta."
Anh nhìn cô. Đó không phải câu hỏi mà là câu yêu cầu, nhưng chậm hơn một nhịp so với cách cô thường ra lệnh, kiểu chậm của người vừa nói ra điều gì đó khiến chính mình cũng hơi bất ngờ.
"Được."
Anh đặt bộ cờ lên bàn, mở nắp, bắt đầu xếp quân. Quân đen sang trái, quân trắng sang phải, từng viên đá nặng hơn đá cẩm thạch thường.
Cô ngồi xuống đối diện,nhìn anh bày cờ. Anh đặt quân đầu tiên lên điểm sao ở góc phải, bắt đầu giảng cho cô từ “khí”, “mắt”, đến thế nào là sống, thế nào là chết. Cô nghe nghiêm túc theo kiểu cô nghe bất cứ thứ gì liên quan đến chiến thuật, mắt không rời bàn cờ.
Nước thứ ba cô đặt quân sai chỗ, đặt vào giữa trung tâm bàn cờ khi mới có ba quân trên lưới, một nước đi mà bất kỳ người chơi cờ nào cũng biết là quá sớm và quá liều. Anh nhìn vị trí quân cờ, rồi nhìn cô.
"Giữa trung tâm, nước thứ ba."
"Có gì sai?"
"Không sai, chỉ là liều."
Anh cầm một quân trắng, đặt cạnh quân đen cô vừa đi, nhẹ nhàng nói.
"Người chơi cờ giỏi thường bắt đầu ở góc, xây thế vững rồi mới tiến ra giữa. Nhưng cũng có người đánh thẳng vào giữa từ đầu, chấp nhận bị vây để tạo thế phá."
Cô nhìn hai quân cờ nằm cạnh nhau giữa bàn và im lặng một lúc, rồi cầm quân đen tiếp theo đặt xuống cạnh quân cũ, vẫn ở trung tâm, không lùi về góc.
Anh nhìn quân cờ cô vừa đặt, nhìn cô, rồi tay dừng trên quân trắng một nhịp trước khi đặt xuống, sau đó tiếp tục đi.
Phúc Bá vào thay đèn lúc trời tối hẳn, thấy hai người vẫn còn ngồi bên bàn cờ, quân cờ mới đi được hơn chục nước. Lão không nói gì, chỉ lặng lẽ thay xong rồi lui ra, khép cửa nhẹ hơn thường lệ.
Chinh Vũ đi ngủ trước, nói mai còn phải luyện kiếm sớm. Cô đứng dậy, nhìn bàn cờ một lần nữa rồi bước ra cửa, không quay lại nhìn anh nhưng nói đủ cho anh nghe thấy.
"Ta sẽ học cho xong trước khi hắn quay lại."
Cánh cửa khép lại. Anh ngồi một mình bên bàn cờ, nhìn thế cờ dở dang, những quân đen của cô dồn ở trung tâm theo kiểu người không biết luật nhưng biết bản năng của mình, quân trắng của anh rải xung quanh theo thế bao vây mà anh cố tình không siết.
Anh không dọn bàn cờ, để nguyên cho lần sau. Tiếp theo, Anh mở ngăn bàn, lấy tờ giấy viết dở lúc chiều ra, viết nốt hai chữ còn thiếu, gấp lại, rồi cất cùng những tờ ghi chú cũ.
Đêm đã khuya, Hầu phủ yên tĩnh, chỉ còn tiếng gió ngoài sân và ánh đèn trong phòng Hầu gia ở dãy chính vẫn còn sáng. Dạo gần đây ánh đèn đó sáng muộn thường xuyên hơn, và thỉnh thoảng bóng ông in trên cửa sổ giấy không phải bóng người nằm mà là bóng người ngồi, ngồi rất lâu, không động.
Anh nằm trên giường, không ngủ ngay. Trong đầu vẫn còn hình ảnh Ca Lặc quay đầu ngựa hỏi về cổng phụ phía nam, bộ cờ đá thảo nguyên nằm trong hộp gỗ, Chinh Vũ đặt quân vào giữa trung tâm nước thứ ba mà không chịu lùi. Nhưng cuối cùng, thứ đọng lại lâu nhất trước khi anh thiếp đi không phải là thứ nào trong số đó.
Mà đó là tiếng ho kiềm lại của Hầu gia chiều hôm trước, tiếng ho ông cố nén mà vẫn vọng ra khỏi lồng ngực lâu hơn ông muốn, là chén trà nguội ông cầm mà không uống. Là câu ông nói cách đây không lâu, giọng nhẹ như đang kể chuyện người khác chứ không phải chuyện mình, rằng cả ông cũng sắp không giữ được nữa.
Anh nghĩ có lẽ ngày mai nên sang ngồi với Hầu gia lâu hơn một chút. Dù chẳng có gì cần nói, chỉ ngồi vậy thôi cũng được.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.