Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 90: Chính Biến

Đăng: 24/08/2026 12:52 4,860 từ 5 lượt đọc

Lan Chu biết chuyện sẽ xảy ra từ lúc Ngũ Hoàng Tử rời đại điện chiều nay. Không phải vì hắn nói gì, mà vì hắn không nói gì cả. Bị vạch trần trước cả triều, bị Thái Hậu phế quyền phụ chính trước mặt trăm quan lại, hắn không biện bạch, không gào thét, không kéo theo phe cánh ra cãi cho đến khi mặt đỏ gân cổ. Tiêu Thần Uyên chỉ cười nhẹ rồi bước đi bình thản, lưng thẳng, bước chân đều đặn như người đi dạo sân vườn sau bữa cơm tối. Loại bình thản đó không phải của kẻ chấp nhận thua, mà là của kẻ đã không đặt cược tất cả vào nước cờ vừa mất.

Anh đi về phủ nhanh hơn thường lệ, không ngoái đầu, không ghé bất kỳ đâu dọc đường. Tiểu Hà đón ở cổng, nhìn mặt anh rồi nuốt câu hỏi đang định nói, chỉ chạy vào trong lấy nước. Phúc Bá đứng ở sân, lau tay vào khăn, đợi anh bước qua ngưỡng cửa mới nói khẽ:

"Người của lão ở cổng đông vừa nhắn tin về, có đoàn xe quân nhu Hộ bộ di chuyển về phía cung cấm từ giờ Thân, không có lệnh điều quân công khai nào phù hợp với số lượng xe đó."

Anh dừng lại giữa sân, nhìn Phúc Bá.

"Mấy xe?"

"Sáu. Loại xe chở lương, nhưng đường đi không hướng về kho lương nào."

Sáu xe quân nhu không chở lương, di chuyển về phía cung cấm vào giờ Thân, sau buổi thiết triều mà Ngũ Hoàng Tử vừa bị phế quyền. Trong xe không phải gạo, trong xe là giáp, là kiếm, là đồ trang bị cho một lực lượng đang chuẩn bị làm chuyện bí mật.

"Phúc Bá."

Anh nói giọng nhẹ, nhẹ theo cách mà những người ở lâu trong phủ đều biết là tín hiệu nguy hiểm.

"Gọi hết người về. Ai ở ngoài đều về ngay. Đóng cổng phụ, cổng chính để mở."

Phúc Bá không hỏi tại sao để cổng chính mở. Lão gật đầu, quay đi, bước chân nhanh và im lặng trên nền đá.

Anh đi thẳng vào phòng Hầu gia. Ông nằm trên giường đang mắt nhắm, chăn kéo đến ngực, trông giống như mọi ngày kể từ khi ngự y của Ngũ Hoàng Tử bắt đầu đến khám mỗi sáng, trông giống một lão tướng sắp chết đang đếm từng ngày còn lại. Nhưng khi anh bước vào, ông mở mắt ngay, không phải mở mắt của người đang ngủ bị đánh thức mà là mở mắt của người đang chờ.

"Hắn không chịu thua."

Anh nói khi đứng ở cửa.

"Ta biết."

Ông đáp giọng trầm và rõ, giọng của người không ho từ lúc ngự y rời phủ chiều nay.

"Hắn cười kiểu đó thì sẽ làm chuyện lớn. Ta thấy cái cười đó trên mặt mấy tên tướng Hung Nô trước khi chúng tổng tấn công, biết mình sẽ chết mà vẫn xông lên, vì nghĩ rằng không xông lên thì cũng chết."

"Đêm nay."

Anh nói.

"Đêm nay."

Ông lặp lại, không phải hỏi mà là xác nhận.

Rồi ông ngồi dậy. Anh nhìn cách ông ngồi dậy và nhận ra thứ gì đó khác hẳn mọi lần trước, không phải ngồi dậy để tập, để thử, để xem mình còn đứng được không, mà là ngồi dậy như người lính nghe tiếng trống.

"Nhạc phụ."

Anh nói, nhẹ.

"Chưa phải lúc. Canh ba."

Ông nhìn anh, mắt sáng trong ánh đèn dầu, rồi gật đầu, nằm xuống lại. Ông không hỏi tại sao canh ba, không hỏi kế hoạch, không hỏi gì thêm vì ông đã hỏi tất cả những câu đó trong suốt mấy tháng anh ngồi cạnh giường ông, hai người bàn trong bóng tối trong khi Phúc Bá canh ngoài cửa. Ông tin anh, và sự tin tưởng đó không phải từ hôm nay mà từ ngày anh cầm chén trà nóng trong phòng khách ông mà không đặt xuống, từ ngày anh dùng kiến thức của một người khác thế giới để giữ cho ông không chết.

Anh ra khỏi phòng, kéo cửa lại nhẹ nhàng, rồi đứng ở hành lang nhìn ra sân. Trời chưa tối hẳn, nắng cuối ngày hắt vào tường phía tây một vệt cam nhạt đang phai dần. Trong cái phai dần đó anh nghe thấy tiếng ngựa ở ngoài đường xa, không phải ngựa thường mà là ngựa chạy thành đội, móng sắt gõ trên đường đá theo nhịp đều, nhịp của quân lính di chuyển có tổ chức. Anh đếm nhịp, ước lượng khoảng mấy chục con, hướng từ phía bắc về phía cung cấm.

Anh rút tay ra khỏi tay áo, nhìn xuống. Ngón tay gõ nhẹ lên thành cửa, một hai ba bốn theo nhịp cũ, nhịp gõ phím kiếp trước mà bây giờ gõ vào gỗ mỗi khi anh nghĩ nhanh hơn tay viết. Rồi ngón tay anh dừng lại và anh quay vào gọi Tiểu Hà.

"Đường hầm mà Phúc Bá dẫn em đi hôm trước, em còn nhớ đường không?"

Tiểu Hà đang cầm khay nước, tay hơi run, nhưng mắt cô bé sáng và tỉnh.

"Dạ, nhớ."

"Tốt. Lát nữa khi trời tối, em đi một chuyến nữa, mang thư cho người em đã gặp lần trước. Thư ngắn, em nhớ trong đầu rồi nói miệng, không viết ra giấy. Nói với người đó: 'Đêm nay sẽ có biến. Xin giữ yên, đừng phản kháng, để thần lo'. Chỉ vậy, nói xong quay về ngay, đừng chờ."

Tiểu Hà gật đầu, đặt khay nước xuống bàn, hai tay vân vê góc tạp dề một nhịp rồi buông ra và quay đi. Bước chân cô bé nhanh, kiểu nhanh của người sợ nhưng không để nỗi sợ làm chậm bước chân mình.

Anh nhìn theo cô bé khuất sau hành lang, rồi ngồi xuống ghế trong thư phòng và mở ngăn bàn. Bên trong có hai thứ nằm cạnh nhau: tấm bản đồ chính trị anh vẽ từ lâu, nét mực đã cũ và nhạt ở mấy chỗ gấp, và tờ mật chiếu tiên hoàng mà anh đã dùng trên triều sáng nay rồi cất lại. Mật chiếu đã hoàn thành nhiệm vụ của nó, cho anh quyền được nói, cho anh đủ thời gian trình bày mọi thứ trước cả triều đường. Nhưng quyền được nói không thắng được người không thèm nghe.

Bên cạnh hai thứ đó, trong hộp gỗ nhỏ, là xấp thư của cô. Anh không mở hộp ra, nhưng tay anh chạm vào nắp hộp và dừng ở đó một nhịp. Bức thư cuối cùng cô gửi về từ biên cương đã hơn hai tuần, nét chữ vẫn dứt khoát nhưng mực loãng hơn mọi khi vì mực quân nhu tốt đã hết. Cuối thư không còn phần gạch bỏ nào nữa, không còn câu nào viết rồi xóa rồi viết lại ngắn hơn, chỉ có ba chữ gọn lỏn: "Vẫn giữ được". Anh đọc ba chữ đó và hiểu rằng "vẫn giữ được" viết bằng giọng đó nghĩa là gần như không giữ được, và cô không muốn anh lo nên cắt hết phần thừa, nhưng chính cái cắt hết đó mới khiến anh lo nhất.

Viện binh cho biên cương bị chặn suốt mấy tháng nay vì Ngũ Hoàng Tử kiểm soát lệnh điều binh. Mỗi ngày hắn còn nắm quyền là thêm một ngày cô không có quân tiếp viện, thêm một ngày Ca Lặc siết thêm vòng vây, thêm một ngày cô phải giữ phòng tuyến bằng binh lính đã mệt và lương đã cạn. Anh thắng đêm nay không chỉ vì kinh thành, không chỉ vì Thái Hậu và Thất Hoàng Tử, mà vì nếu không thắng đêm nay thì sáng mai sẽ không có ai ký lệnh viện binh, và cô ở ngoài đó sẽ chờ một đội quân không bao giờ đến.

Anh đóng ngăn bàn lại. Kiếp trước anh dạy học sinh về Huyền Vũ Môn, về Lý Thế Dân giết anh giết em ngay cổng cung để lên ngôi, về Triệu Khuông Dận đem quân vào thành đoạt thiên hạ từ tay đứa trẻ, về Chu Đệ khởi binh từ Bắc Bình đánh thẳng vào kinh đô cháu ruột. Bài giảng nào anh cũng nhấn mạnh một ý rằng khi kẻ tham vọng bị dồn đến đường cùng trên bàn cờ chính trị, bạo lực là nước cờ cuối cùng mà hắn nghĩ là duy nhất, và nước cờ đó thường đến vào ban đêm.

Hồi đó anh đứng trước bảng nói với ba mươi đứa học sinh mười bảy tuổi đang buồn ngủ. Bây giờ anh ngồi trong thư phòng chờ nước cờ đó rơi xuống đầu mình. Ông trời quả thật có khiếu hài hước.

Trời tối hẳn vào giờ Dậu. Tiểu Hà trở về từ đường hầm, mặt trắng, thở gấp, tay nắm chặt vạt áo. Cô bé nói với anh bằng giọng nén thấp đến mức gần như chỉ mấp máy môi:

"Thái Hậu nương nương nói bà hiểu."

Anh gật đầu.

"Em vào trong nghỉ đi. Từ giờ đến sáng không ai được ra khỏi phòng trừ Phúc Bá và ta."

Tiểu Hà cúi đầu bước đi, rồi dừng lại ở ngưỡng cửa, quay lại.

"Cô gia."

Cô bé nói, giọng nhỏ và hơi run.

"Trên đường về, ngang ngõ phía đông, em thấy lính mặc thường phục đi thành từng nhóm năm bảy người, hướng về cổng thành phía nam. Họ không mang đuốc và đi nhanh."

Anh nhìn cô bé, và trong ánh mắt nhìn đó có thứ gì ấm mà cô bé có lẽ không nhận ra. Cô bé sợ đến mức tay run, nhưng vẫn nhớ quan sát trên đường về, vẫn nhớ ghi lại chi tiết, vẫn nhớ hướng đi và số người. Cô bé lớn lên trong Hầu phủ, xung quanh toàn lính, và cái thứ đó ngấm vào cô bé mà cô bé không biết.

"Tốt lắm."

Anh nói.

"Đi nghỉ đi."

Tiểu Hà rời đi. Anh nhìn ra cửa sổ. Binh lính mặc thường phục, không đuốc, thành từng nhóm nhỏ, hướng cổng thành phía nam. Phối hợp với sáu xe quân nhu chiều nay, với mấy chục con ngựa chạy về phía cung cấm, bức tranh đã rõ: Ngũ Hoàng Tử đang bố trí lực lượng chiếm các cổng thành trước, rồi chiếm hoàng cung sau, hoặc cùng lúc. Phó tướng cấm vệ, người của hắn, đang ở trong cung sẵn rồi, chỉ cần lệnh là đóng cổng cung, giam Thái Hậu và Thất Hoàng Tử. Quân Hộ bộ, tư binh phe cánh, cấm vệ phản, tất cả rải ra khắp kinh thành như những quân cờ được đặt sẵn trên bàn từ lâu.

Hắn đã chuẩn bị cho khả năng thua trên triều đường. Có lẽ hắn chuẩn bị từ trước cả khi Lan Chu giơ mật chiếu lên. Hắn kiên nhẫn, anh luôn biết điều đó, nhưng sự kiên nhẫn của hắn không phải kiểu chờ đợi thời cơ mà là kiểu chuẩn bị sẵn mọi phương án, kể cả phương án xấu nhất.

Anh đứng dậy ra sân, đi về phía phòng Phúc Bá. Phúc Bá đang ngồi ở bàn nhỏ trong phòng, trước mặt là một danh sách viết trên giấy mỏng, chữ nhỏ li ti gồm tên và địa chỉ. Danh sách thân vệ cũ của Hầu gia sống quanh kinh thành, những người lão đã âm thầm liên lạc suốt mấy tháng qua. Mỗi lần ghé thăm lão đều mang theo một hũ rượu và vài ba câu hỏi thăm sức khỏe, y như mười lăm năm mang rượu Tết cho nhà thợ rèn, không vội không ép, chỉ gieo rồi chờ. Và bây giờ hạt giống đó đã mọc.

"Phúc Bá."

Anh gọi.

Lão ngẩng lên. Mắt lão không sợ, chỉ đang chờ đợi

"Gửi tin cho Lục huynh, cho Chu tướng quốc. Nội dung là đêm nay hắn động, canh ba ta động. Không sớm hơn, không muộn hơn."

Phúc Bá gấp danh sách lại, nhét vào tay áo, đứng dậy.

"Còn thân vệ cũ?"

Lão hỏi.

"Gọi về phủ đợi lệnh. Nhớ dặn họ im lặng, không đốt đuốc, không mang gì ngoài kiếm."

Phúc Bá gật đầu. Rồi lão dừng một nhịp, nhìn anh, nhìn kiểu người muốn nói gì đó nhưng không quen nói ra vì cả đời lão chỉ quen làm chứ không quen nói. Cuối cùng lão chỉ nói:

"Lão đi."

Rồi Phúc Bá rời đi.

Giờ Hợi, kinh thành bắt đầu thay đổi. Thay đổi không ồn ào, không có tiếng trống tiếng chiêng, không có ngựa phi giữa phố và lính hét lệnh đầu đường. Chỉ là những thứ nhỏ mà người bình thường đi ngủ sớm sẽ không nhận ra: tiếng cửa hiệu ở phố chính đóng sớm hơn một canh giờ, tiếng chó sủa loạn ở mấy con ngõ phía tây vì có người lạ đi qua đông hơn thường lệ, ánh đuốc ở đầu cổng thành phía nam sáng hơn vì lính gác được tăng gấp đôi mà không ai thông báo cho dân, tiếng bánh xe gỗ lăn trên đường đá vào giờ không nên có xe chạy.

Lan Chu đứng ở cửa sổ thư phòng, nhìn ra phía ngoài tường Hầu phủ và lắng nghe. Anh không nhìn thấy gì nhiều vì tường Hầu phủ cao, nhưng anh nghe được tiếng chân đi đều đặn ngoài đường, tiếng kim loại va nhẹ vào nhau kiểu giáp trụ cọ vào khi người mang nó cố đi êm mà không êm nổi, tiếng ai đó huýt sáo ngắn ra hiệu ở góc phố gần cổng phủ.

Rồi có tiếng chân dừng lại ở ngoài cổng Hầu phủ. Phúc Bá bước đến bên anh, nói nhỏ:

"Cô gia, quân đã vây trước cổng. Ước chừng hai trăm, có mang giáp."

Anh không quay lại, vẫn nhìn ra ngoài.

"Cổng phụ?"

"Cũng có người."

"Bao nhiêu?"

"Ít hơn. Ba bốn chục."

Anh bắt đầu tính toán. Hắn dồn lực vào cổng chính, cổng phụ chỉ canh giữ, không đủ để công. Nghĩa là hắn muốn nhốt, không muốn đánh, ít nhất là chưa. Hắn cần Hầu phủ ở trong vòng vây trước, giải quyết cung cấm trước, rồi mới quay lại xử lý.

"Phúc Bá."

"Dạ."

"Thân vệ cũ về được bao nhiêu rồi?"

"Mười bảy người. Còn sáu người ở xa hơn, sớm nhất cũng giờ Sửu mới tới."

Mười bảy người, cộng gia nhân trong phủ biết cầm kiếm khoảng bảy tám, cộng Hầu gia. Chống lại hai trăm quân bao vây thì không đủ, nhưng anh không cần chống, anh chỉ cần chờ.

"Dặn tất cả, không ai ra cổng. Ai hỏi thì nói Hầu gia đang hấp hối, cả phủ đang lo tang. Đuốc trong phủ tắt bớt, chỉ để đèn phòng Hầu gia, cho giống nhà có người bệnh nặng."

Phúc Bá nhìn anh và trong ánh mắt lão có thứ gì đó giống với cách Hầu gia nhìn anh hồi chiều, kiểu nhìn của người biết mình đang theo một người trẻ hơn mình ba bốn chục tuổi mà không thấy ngại, vì người trẻ đó nghĩ nhanh hơn bất kỳ ai lão từng gặp trong sáu mươi năm. Lão gật đầu quay đi, sai người tắt đuốc.

Hầu phủ tối dần, chỉ còn ánh đèn dầu từ phòng Hầu gia hắt ra ngoài sân vàng và yếu, trông đúng như nhà có người sắp mất.

Giờ Tý, tiếng trống cung cấm vang lên. Không phải trống điểm canh thường lệ. Trống này đánh liên hồi, gấp gáp, kiểu trống báo biến trong cung mà dân kinh thành đã không nghe thấy kể từ ngày tiên hoàng băng hà. Lần trước khi nó vang lên thì là tang sự, lần này vang lên giữa đêm không phải vì có ai chết.

Lan Chu đứng yên trong thư phòng tối nghe tiếng trống và đếm nhịp. Trống đánh ba hồi chín tiếng, đó là hiệu lệnh phong tỏa cung cấm, nghĩa là phó tướng đã ra tay, cổng cung đã đóng. Thái Hậu và Thất Hoàng Tử ở bên trong và bây giờ họ không còn là Thái Hậu và vua nữa mà là con tin.

Anh nghe thấy tiếng la ó ở đâu đó xa xa trong thành, vọng qua mấy lớp tường, rồi tiếng la đó tắt dần, không phải vì người la ngừng mà vì có thứ gì đó bắt họ ngừng.

Tiếng ngựa phi ngoài đường, lần này không giấu nữa, lần này hối hả, và anh nghe thấy tiếng ai đó hét lệnh ở đầu phố, giọng rõ và dứt khoát:

"Nhiếp chính vương ra lệnh! Giới nghiêm toàn thành! Ai ra đường sau giờ Tý, bắt!"

Nhiếp chính vương.

Hắn đã tự xưng rồi.

Rồi tiếng ngựa dừng ngay trước cổng phủ, và một giọng khác vang lên, giọng lính truyền lệnh đọc chiếu, sang sảng trong đêm, đọc chậm và rõ để cả khu phố đều nghe:

"Nhiếp chính vương chiếu cáo thiên hạ: phụ chính đại thần Ngũ Hoàng Tử Tiêu Thần Uyên, vì quốc gia lâm nguy, biên cương đổ máu, nay phát hiện Tiết Lan Chu, viên Hàn Lâm biên tu thất phẩm, câu kết Tả Tướng Quốc Chu Đình Nghiêu, ngụy tạo bằng chứng, mạo danh mật chiếu tiên hoàng, thao túng Thái Hậu phế truất phụ chính đại thần trên triều đường, mưu đồ lũng đoạn triều chính. Nay tạm nhiếp chính quyền, phong tỏa cung cấm bảo vệ thánh thượng, giới nghiêm toàn thành truy bắt phản tặc. Ai chứa chấp Tiết Lan Chu và đồng đảng, cùng tội."

Anh đứng trong bóng tối nghe từng chữ.

Hắn giỏi. Anh phải thừa nhận điều đó. Mỗi câu trong bản chiếu đó đều được viết bằng tay hắn, anh nhận ra giọng văn nhẹ nhàng và chậm rãi, câu nào cũng có vẻ hợp lý nếu chỉ nghe một lần mà không nghĩ kỹ, và đó chính là ý đồ. Hắn không cần dân tin, hắn chỉ cần dân sợ. Hắn không cần quan lại đồng ý, hắn chỉ cần quan lại im lặng. Và bản chiếu này cho cả hai thứ đó: một cái tên cụ thể để ghét, một cái cớ hợp lý để tuân lệnh, và một lời đe dọa ở câu cuối để ai muốn phản đối cũng phải tính trước mình có sẵn sàng bị gọi là "đồng đảng" hay không.

"Câu kết Tả Tướng Quốc."

Anh nhẩm lại rất nhỏ. Hắn biết Chu Đình Nghiêu đã thoát. Hắn không biết ông đang ở đâu, nhưng hắn biết ông không còn trong phủ quản thúc nữa. Hắn ghép ông vào cùng bản chiếu với Lan Chu để biến ông từ đại thần bị oan thành đồng phạm, để khi ông xuất hiện ở cổng thành lúc canh ba, bất kỳ ai đọc bản chiếu này đều có thể nói rằng ông là phản tặc chứ không phải trung thần.

Nước cờ trong nước cờ. Hắn thua trên triều đường sáng nay bằng lời, nên đêm nay hắn đánh lại bằng lời trước khi đánh bằng kiếm.

Anh hít một hơi dài rồi thở ra chậm. Ngón tay gõ nhẹ lên bàn, một hai ba bốn, rồi dừng ở bốn.

Hắn nhanh hơn anh tính. Anh dự đoán hắn sẽ ra tay giờ Sửu, khi kinh thành ngủ sâu nhất, nhưng hắn ra tay giờ Tý, sớm hơn một canh giờ, có lẽ vì hắn biết canh giờ là thứ mà kẻ địch cũng sẽ tính. Cách tốt nhất để phá tính toán của đối phương là nhanh hơn tính toán đó. Hoặc đơn giản hơn: hắn không còn đủ kiên nhẫn để chờ thêm, vì kẻ bị dồn vào đường cùng thường không còn kiên nhẫn cho bất kỳ thứ gì ngoài hành động.

Nhưng nhanh hơn một canh giờ không thay đổi gì. Lục Kính Đường và Chu Đình Nghiêu đã ở vị trí từ đầu buổi tối và chờ sẵn. Thân vệ cũ đã trong phủ. Hầu gia đã sẵn sàng. Mọi thứ anh chuẩn bị suốt mấy tháng không phụ thuộc vào canh giờ chính xác, mà phụ thuộc vào việc hắn có ra tay không, và bây giờ hắn đã ra tay rồi.

Anh mỉm cười nhẹ trong bóng tối thư phòng, kiểu cười mà không ai nhìn thấy, kiểu cười tự giễu vì nhận ra mình vừa sợ đúng ba nhịp tim rồi hết.

Ba nhịp thì cũng đủ rồi.

Anh bước ra hành lang. Hầu phủ yên tĩnh đến mức nghe được tiếng gió luồn qua kẽ mái ngói, và bên dưới cái yên tĩnh đó là một thứ yên tĩnh khác nặng hơn, thứ yên tĩnh của những người đang thức mà không dám thở mạnh.

Anh đi ngang phòng khách và nhìn vào. Mười bảy người đàn ông ngồi im trong đó, kiếm đặt ngang đùi, không nói chuyện, không uống trà, chỉ ngồi và chờ. Họ là thân vệ cũ của Hầu gia, lính già giải ngũ, người trẻ nhất cũng bốn mươi, người già nhất gần sáu mươi, tay chai và lưng đã hơi cong vì bao nhiêu năm cầm cuốc thay vì cầm kiếm. Nhưng khi họ ngồi đó trong bóng tối, kiếm ngang đùi, mắt nhìn ra cửa, họ không giống nông dân nữa. Anh gật đầu với họ, họ gật lại, không ai nói gì.

Mười bảy người.

Ba tháng trước phủ còn hơn ba trăm thân vệ, lính chính quy ăn lương triều đình đóng tại Hầu phủ từ thời Hầu gia mới về kinh, đủ để giữ một cổng thành chứ không chỉ giữ một cái sân. Rồi Ngũ Hoàng Tử ký lệnh điều quân bổ sung biên cương, lệnh viết rõ "rút thân vệ các phủ Hầu tước trở lên sung vào quân biên phòng, nhằm tăng cường phòng tuyến trong thời chiến". Nghe thì hợp lý đến mức Hầu gia nằm trên giường nghe xong cũng chỉ nhắm mắt cười nhạt, vì ông hiểu rằng lệnh đó không phải tăng quân cho biên cương mà là rút nanh Hầu phủ. Viện binh mà hắn hứa gửi ra biên cương cũng không bao giờ đến, nghĩa là thân vệ bị điều đi không phải để đánh trận mà để biến mất trong bộ máy quân sự mà hắn kiểm soát, còn Hầu phủ thì trống trơn.

Mười bảy người ngồi đây là thứ hắn không tính được, vì họ không nằm trong sổ quân, không ăn lương triều đình, không thuộc bất kỳ đơn vị nào mà hắn có thể ký lệnh điều đi. Họ là lính già đã cởi giáp, đã về trồng rau nuôi gà ở ngoại thành, đã quên mình từng là lính, cho đến khi Phúc Bá mang rượu đến gõ cửa và hỏi một câu mà họ chờ nghe từ lâu lắm rồi.

Anh đi tiếp, ra đến bậc cửa hành lang phía sau rồi ngồi xuống, lưng dựa vào cột gỗ. Anh không ngủ, chỉ nhắm mắt, vì từ canh ba trở đi sẽ không còn lúc nào để nghỉ nữa.

Lúc này anh nghĩ đến cô. Không phải nghĩ theo kiểu nhớ nhung, không phải nghĩ theo kiểu lo lắng mơ hồ, mà nghĩ theo kiểu của người đang đếm từng canh giờ cho hai mặt trận cùng lúc. Ở biên cương, Ca Lặc đang dồn tổng lực và cô đang giữ bằng tất cả những gì còn lại. Bằng binh lính mệt mỏi và lương cạn và ý chí của một người đã viết thư về cho anh ba chữ "vẫn giữ được" bằng giọng của người không chắc mình giữ được bao lâu nữa. Nếu anh thắng đêm nay, sáng mai Thái Hậu sẽ ký lệnh điều viện binh, quân sẽ ra biên cương, cô sẽ có tiếp tế, cô sẽ sống. Nếu anh không thắng, hắn sẽ tiếp tục chặn viện binh, tiếp tục để Ca Lặc siết vòng vây, và cô sẽ chờ ở ngoài đó cho đến khi không còn gì để chờ.

Và cô sẽ không biết anh đã thua ở đây. Cô sẽ chỉ biết viện binh không đến, rồi một ngày nào đó tin từ kinh thành truyền ra biên cương rằng Trấn Bắc Hầu phủ đã bị triệt, rằng chồng cô là phản tặc, rằng cha cô đã chết trên giường bệnh. Còn cô sẽ đứng trong doanh trại đọc tin đó một mình, không có ai cạnh bên để cô đặt tay lên vai mà nắm chặt, vì cô chưa bao giờ quen nắm tay ai khi đau.

Anh mở mắt.

Không được.

Hai canh giờ, cô chờ được và anh cũng chờ được.

Canh ba, anh đứng dậy, phủi bụi trên vạt áo, bước dọc hành lang về phía phòng Hầu gia. Phúc Bá đã đứng sẵn ở cửa phòng, lưng thẳng, hai tay buông hai bên, nhìn anh đi đến.

Anh dừng trước cửa. Đèn dầu bên trong vẫn cháy, ánh sáng hắt qua khe cửa thành một vạch mỏng trên nền đá hành lang. Anh đẩy cửa vào.

Hầu gia không nằm trên giường nữa. Ông đang đứng giữa phòng. Bộ giáp cũ của ông đã được Phúc Bá mang vào từ lúc nào, giáp chiến trường chứ không phải giáp lễ phục, da thuộc phủ sắt đã sờn ở vai và cùi chỏ, nơi chuôi kiếm cọ vào mỗi khi ông vung tay. Chỗ sờn đó sáng bóng vì được chà đi chà lại bởi hàng ngàn nhát chém trong ba mươi năm trấn thủ biên cương. Ông chưa mặc mà để giáp trên giá gỗ cạnh giường, nhưng ông đứng nhìn nó, và cách ông nhìn bộ giáp đó giống cách người ta nhìn một người bạn cũ lâu ngày gặp lại.

Kiếm cũng ở đó, trên giá, cạnh giáp. Kiếm dài, chuôi bọc da, không chạm trổ gì, kiểu kiếm của người dùng kiếm để chém chứ không phải để trưng.

Anh nhìn ông, rồi nhìn giáp và nhìn kiếm.

"Nhạc phụ."

Anh nói nhẹ, nhẹ theo cách anh vẫn nói mỗi khi muốn nói thứ gì quan trọng.

"Đến lúc rồi."

Ông không đáp bằng lời. Ông quay lại, đưa tay ra, chạm vào vai áo giáp, ngón tay lướt qua chỗ sờn sáng bóng ở vai phải, chỗ mà ba mươi năm trước khi ông còn trẻ hơn cả Lan Chu bây giờ. Ông đã mặc bộ giáp này lần đầu tiên phi ngựa ra biên cương và nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ trở về.

Rồi ông bắt đầu mặc giáp. Anh không phụ ông mặc vì ông không cần. Từng miếng da từng khớp sắt ông mặc vào bằng thao tác quen thuộc đến mức đôi tay không cần mắt hướng dẫn, kiểu mặc giáp của người đã làm chuyện này hàng ngàn lần đến mức nó thành một phần của hơi thở. Cuối cùng ông cầm kiếm lên, rút ra khỏi vỏ, nhìn lưỡi kiếm một nhịp, rồi tra lại.

Ông nhìn anh và anh nhìn ông.

Ông không nói "cám ơn" vì ông không phải người nói thứ đó, và anh cũng không cần nghe. Nhưng cách ông đứng đó, mặc giáp, cầm kiếm, lưng thẳng lần đầu tiên sau mấy tháng giả gù, mắt nhìn anh trong ánh đèn dầu, anh đọc được trong đó nhiều hơn bất kỳ câu cám ơn nào. Ông nhìn anh như nhìn người mà nếu ông được chọn lại, ông vẫn sẽ mua về cho con gái mình, không phải vì năm trăm lượng bạc, mà vì tay anh cầm bút mạnh hơn tay nhiều người cầm kiếm.

"Canh ba."

Ông nói với giọng trầm và đều như lệnh quân.

"Canh ba."

Anh đáp.

Ngoài phòng, Phúc Bá đẩy cửa sảnh chính mở ra, và mười bảy người đàn ông đứng dậy cùng một lúc, tiếng kiếm rời đùi chạm vào nhau nghe gọn và sắc trong đêm.

Ông bước ra khỏi phòng, đi qua anh, đi qua Phúc Bá, đi về phía sảnh chính nơi những người lính già đang đứng chờ ông. Bước chân ông trên nền đá vang theo nhịp giáp va vào nhau ở vai, ở hông, ở cùi chỏ, âm thanh kim loại chạm kim loại mà cả Hầu phủ đã không nghe thấy rất lâu rồi, âm thanh của Trấn Bắc Hầu ra trận.

Anh đứng lại ở cửa phòng, nhìn theo lưng ông khuất vào sảnh, nghe tiếng giáp va mỗi lúc một xa dần rồi dừng lại ở cổng Hầu phủ.

Rồi im lặng và có tiếng cổng phủ mở.

0