Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 97: Gặp Lại

Đăng: 30/08/2026 02:05 3,700 từ 3 lượt đọc

Sáng hôm sau buổi rượu với Ca Lặc, anh thức dậy trong lều quân sự ở biên cương, đầu hơi nặng vì uống đến gần sáng mới dừng, và việc đầu tiên anh làm là ngồi dậy viết thư.

Không phải thư cho cô mà là thư cho Phúc Bá. Anh viết ngắn, chỉ mấy dòng: kinh thành sắp có người về, bếp dọn sẵn, gạo mì đủ, lò than nhóm trước. Viết xong anh gập thư lại, gọi lính truyền tin bảo phi ngựa gấp, phải đến trước ít nhất ba ngày.

Viên lính hỏi gửi cho ai, anh nói "Phúc Bá, quản gia Hầu phủ". Nghe xong, viên lính nhìn anh với vẻ mặt của người không hiểu tại sao quân sư vừa đánh thắng trận lớn nhất trong mười năm qua mà thư đầu tiên gửi về là cho quản gia, nội dung liên quan đến bếp ăn.

Anh không giải thích, có những thứ giải thích mất thời gian lâu hơn là cứ để người ta không hiểu.

Hai ngày sau, đại quân rút về. Chinh Vũ dẫn quân chính đi trước, đội hình hành quân dài theo đường lớn phía đông, đi chậm vì có thương binh và xe chở quân nhu. Anh dẫn đoàn hậu cần nhỏ đi đường phía tây, nhanh hơn vì ít người và xe ngựa nhẹ.

Hai đường chia nhau ở ngã ba phía nam doanh trại, cách nhau chừng bốn năm dặm, nếu đứng trên gò cao nhìn sang thì thấy được đội hình bên kia nhưng không phân biệt được ai là ai. Anh biết vì anh đã thử, sáng đầu tiên hành quân, khi xe ngựa qua gò đất cao nhất trên đường, anh bảo Vương Hắc dừng lại, nhìn sang phía đông. Anh thấy cờ Trấn Bắc Hầu ở đầu đoàn quân, thấy đội kỵ binh đi đầu, thấy bụi đường vàng bốc lên trong nắng sớm nhưng không thấy cô.

Vương Hắc ngồi cạnh, tay cầm bát cháo, nhìn theo hướng anh nhìn, rồi nhìn lại anh.

"Quân sư, nhìn cái gì vậy?"

"Xem đường."

"Đường nằm dưới chân xe, không nằm trên gò".

Ông ta nói vừa húp một ngụm cháo. Giọng ông ta bình thường như thể câu hỏi vừa rồi không phải câu hỏi.

"Bốn ngày nữa là đến kinh thành. Đường đông bằng phẳng hơn nhưng xa hơn. Đường tây ngắn, gập ghềnh, xe ngựa xóc nhưng đến trước. Quân sư tính đi trước phải không?"

Anh nhìn Vương Hắc. Ông ta húp thêm ngụm cháo, mặt không đổi, kiểu mặt của người đã đi theo anh đủ lâu để biết khi nào anh đang tính gì mà không nói.

"Lão phu tính đi trước."

Vương Hắc nói tiếp, duỗi cái chân bó nẹp gác lên thành xe, nhìn ra phía trước đường tây uốn lượn giữa đồi thấp.

"Lão có người phải về gặp. Trận vừa rồi mấy phen tưởng nằm lại ngoài đó, giờ về được thì muốn về cho nhanh."

Anh nhìn lão thêm một lúc.

'"Ừ thì Đào Nương."

Vương Hắc cười, cái cười to và thật đến mức cháo suýt đổ ra xe.

"Bà ấy nấu canh mặn cả đời, lão phu chê cả đời, vậy mà đi chuyến này lão mới thấy thiếu cái vị mặn ấy. Hôm lão lên đường bà ấy nhét cho cái bọc, buông đúng một câu, sống mà về thì bà nấu cho bát canh, chết ngoài kia thì đừng hòng bà khóc. Lão phu nghe mà chân bước không nổi. Ba mươi năm đánh giặc chưa ai dọa ta kiểu đó."


Anh không nói gì, chỉ nhìn ra phía đông nơi đoàn quân của cô đang tiến chậm, rồi nhìn về phía tây nơi con đường ngắn hơn, gập ghềnh hơn nhưng đến trước.

"Đi thôi."

Anh nói.

Vương Hắc hất đầu ra hiệu cho phu xe. Xe lăn bánh, lắc nhẹ trên đường đất gồ ghề. Anh ngồi trong xe mở bản đồ ra nhìn nhưng không đọc gì, tay gõ lên mặt gỗ thành xe một hai ba bốn, nhịp nhanh hơn bình thường một chút.

Đường tây ngắn hơn đường đông hai ngày, nếu không nghỉ đêm. Anh lựa chọn không nghỉ đêm.

Vương Hắc ngủ gật trên xe, đầu gục vào thành, miệng há, ngáy to đến mức phu xe ngoảnh lại nhìn. Anh ngồi cạnh, không ngủ, chỉ nhìn trời chuyển từ chiều sang đêm sang rạng sáng qua khung cửa sổ xe ngựa. Anh nghĩ đến nồi nước sôi, cái bếp lò than, tủ gỗ đựng mì khô ở ngăn thứ ba từ trái qua, hũ muối đặt cạnh hũ dầu mè, chỗ treo muôi và chỗ để thớt. Kiếp trước anh cũng nhớ bếp nhà trước khi nhớ bất kỳ thứ gì khác, bếp nhỏ trong căn hộ tầng năm không thang máy, nơi anh nấu mì cho mẹ mỗi tối muộn khi bà đi làm về. Kiếp này cũng vậy.

Xe ngựa xóc qua ổ gà, Vương Hắc chồm người suýt ngã khỏi ghế, tỉnh dậy, mắt nhắm mắt mở nhìn quanh rồi nhìn anh.

"Quân sư chưa ngủ à?"

"Chưa."

Ông ta nhìn ra ngoài, trời mới sáng, sương còn đọng trên cỏ ven đường.

" Suy nghĩ gì mà không ngủ?"

"Nghĩ xem nồi nấu mì ở nhà còn không."

Vương Hắc nhìn anh một lúc, mặt ông ta lúc mới ngủ dậy trông ngơ ngác hơn bình thường. Rồi ông ta gãi đầu, rồi ngoảnh lại nhìn anh bằng con mắt khác, con mắt của người vừa hiểu ra thứ gì đó.

"Lão phu nói thật nhé."

Ông ta nói.

"Tiểu thư mà biết quân sư thức hai đêm liền vì lo chuyện nồi niêu thì tiểu thư đánh ta trước, vì ta không lôi quân sư về ngủ."

"Tiểu thư đánh lão vì đủ thứ lý do, thêm một cái cũng không khác."

Vương Hắc nhìn anh, rồi ông ta phá ra cười, tiếng cười to vang trong xe ngựa, phu xe giật mình ngoảnh lại, ngựa hý. Ông ta vỗ đùi cái đét:

"Quân sư mà nói đùa thì trời sắp sập."

Xe đến kinh thành lúc chiều muộn ngày thứ ba. Anh không đi cổng chính mà bảo phu xe vòng lên phía bắc đến cổng phụ. Cái cổng nhỏ, đường vào hẹp, thường chỉ có xe chở hàng từ phía bắc và lính biên cương về phép dùng.

Vương Hắc nhảy xuống xe trước, vịn thành xe cho khỏi dồn cả người vào chân đau, đứng vững một nhịp rồi mới bước. Ông ta nhìn quanh cổng phụ vắng tanh chỉ có hai lính gác đang ngồi uống trà.

"Quân sư, về Hầu phủ trước đi, tắm rửa, ngủ một giấc rồi tính."

"Lão về trước đi. Đào Nương đang chờ."

Vương Hắc nhìn anh, nhìn cái cổng phụ phía bắc, rồi nhìn con đường phía ngoài cổng dẫn ra hướng bắc, hướng biên cương, hướng đoàn quân của cô đang hành quân trên đường đông, còn ít nhất hai ngày nữa mới đến.

Ông ta gãi đầu.

"Quân sư định đứng đây hai ngày à?"

"Ta về nhà trước, nấu cái gì xong rồi ra đây."

Vương Hắc nhìn anh thêm một lúc nữa, rồi cái mặt to bè của ông ta chậm rãi giãn ra. Ông ta cười, cười mà không nói gì, kiểu cười của người vừa hiểu ra thứ gì đó mà ông ta không cần ai giải thích. Ông ta vỗ vai anh, mạnh quá mức cần thiết như mọi lần, rồi quay người đi, bước nhanh nhất mà cái chân đau cho phép, bước của người đang nóng lòng về đòi cho được bát canh mặn mà ông ta chê cả đời.

Hầu phủ yên tĩnh khi anh bước vào. Phúc Bá đứng ở cổng, lưng thẳng, tay chắp sau lưng, nhìn anh với mắt ướt mà lão cố giấu bằng cách nhìn sang chỗ khác rồi nhìn lại.

"Cô gia."

"Bác Phúc."

Lão nhìn anh từ đầu đến chân, nhìn áo bụi, nhìn mặt gầy, nhìn quầng thâm dưới mắt, rồi quay người đi trước dẫn vào, vai hơi rung một cái rồi thẳng lại.

"Bếp đã dọn. Gạo mì đã mua. Than đã nhóm sẵn."

Anh dừng lại ở cửa bếp. Tủ gỗ ngăn thứ ba từ trái qua, hũ muối cạnh hũ dầu mè, nồi treo trên móc, bếp lò than đã nhóm. Mọi thứ đúng chỗ.

Anh bước vào, mở tủ, lấy mì ra. Phúc Bá đứng ở cửa nhìn, không vào.

"Tiểu thư còn mấy ngày nữa về ạ?"

Lão hỏi.

"Hai ngày. Có thể sớm hơn nếu đường không kẹt."

Lão gật đầu, rồi hỏi bằng giọng bình thường, nhưng bàn tay trái nắm lại rồi thả ra theo thói quen:

"Cô gia nấu cho mấy người ạ?"

Anh đứng trước bếp, tay cầm mì, nhìn nồi nước chưa sôi.

"Hai."

Phúc Bá không hỏi thêm. Lão quay người đi ra, bước chân nhẹ trên hành lang. Anh nghe tiếng lão hỉ mũi ngoài sân nhỏ và gọn, kiểu người đang cố không để ai nghe nhưng không giấu được.

Anh nấu mì chiều hôm đó. Anh nấu chậm, không vội, vì còn hai ngày. Nước sôi anh thả mì vào, vớt bọt, thái hành, đập hai quả trứng. Tay anh đập đúng hai quả mà không cần suy nghĩ và lần này anh cười nhẹ khi cái vỏ trứng thứ hai vỡ ra trong tay, cười một mình trong bếp không ai thấy, vì bao nhiêu lần trước tay cứ tự đập hai quả mà đầu chưa kịp đồng ý.

Mì chín thì anh múc ra hai bát, rồi đặt lên khay. Anh ăn một bát, đậy bát kia lại và để trên bếp.

Bát mì nguội dần. Anh đổ đi, nấu bát mới, đậy lại. Rồi bát sau lại nguội, anh lại đổ và lại nấu.

Ngày hôm sau anh nấu lại. Sáng nấu, trưa đổ, chiều nấu, tối đổ.

Tiểu Hà đi ngang bếp và nhìn vào, thấy anh đang đổ bát mì nguội thứ ba trong ngày, mắt cô bé mở to rồi nheo lại rồi mở to lại. Rồi cô bé quay đi rất nhanh, bước chân gấp gáp trên hành lang, tiếng tạp dề bay phành phạch.

Phúc Bá đi ngang sau đó, nhìn vào bếp, nhìn anh, nhìn nồi nước đang sôi lại, nhìn hũ mì vơi đi đáng kể so với hôm qua.

Lão không nói gì, chỉ đặt thêm một hũ mì mới lên kệ, rồi đi ra.

Chiều ngày thứ hai, trinh sát về báo đoàn quân Trấn Bắc Hầu đã qua Thanh Giang, cách kinh thành chừng nửa ngày đường.

Anh đang ngồi trong thư phòng, nghe tin, đặt sách xuống, đứng dậy, đi ra bếp và nấu mì. Lần này tay anh chậm hơn mọi lần, không phải vì lúng túng mà vì anh đang tính. Nửa ngày đường nếu cô hành quân bình thường thì sáng mai đến. Nếu cô phi ngựa trước, để quân đi sau, thì tối nay. Nhưng cô không bao giờ để lính đi sau mình, cô luôn giữ đội hình, vậy thì sáng mai.

Mì chín thì anh múc ra bát và đậy lại. Sau đó anh lấy khay xuống, đặt bát mì lên, đặt thêm đôi đũa cạnh rồi bưng khay đi ra cổng phụ phía bắc.

Cổng phụ phía bắc vắng như mọi khi. Hai lính gác quen mặt anh vì anh đã đi qua đây hôm kia, nhìn anh bưng khay mì ra rồi nhìn nhau mà không hỏi. Một người kéo cái ghế dài ra đặt ở gốc cây du cạnh cổng, nói "tiên sinh ngồi đây cho mát" rồi quay về chốt gác.

Anh ngồi xuống, đặt khay lên đùi và chờ. Nắng chiều nghiêng qua cổng thành, rọi lên mặt đường đất ngoài cổng, con đường chạy thẳng ra hướng bắc, uốn nhẹ ở chỗ cây cầu đá bắc qua con kênh nhỏ, rồi mất hút trong đồi thấp phía xa. Đường vắng chỉ có xe bò của nông dân đi qua, và gió từ phía bắc mang theo mùi cỏ khô.

Lính gác thay ca, người mới đến nhìn anh ngồi ở gốc cây, hỏi người cũ "ai vậy". Người cũ nói nhỏ "con rể Hầu phủ, ngồi từ chiều, đừng hỏi". Người mới gật đầu và không hỏi gì.

Trời tối dần, anh vẫn ngồi. Bát mì đã nguội hẳn từ lâu. Sáng nay anh đã đổ đi ba bát rồi, bát này anh giữ.

Đêm xuống, tiếng trống canh vọng từ phía cổng chính xa và đều. Cổng phụ phía bắc vẫn mở vì chờ đoàn quân về, đèn lồng treo hai bên cổng tỏa ánh sáng vàng nhạt xuống mặt đường.

Anh ngồi dưới gốc cây trong bóng tối, chỉ có ánh đèn lồng hắt lên nửa mặt. Khay vẫn trên đùi. Tiếng bước chân từ phía trong thành nhẹ và quen. Phúc Bá đi ra, tay cầm cái áo khoác gấp gọn, không nói gì, đặt lên vai anh rồi quay về.

Anh kéo áo khoác lên vai, không nhìn lại. Anh cứ chờ, không sốt ruột, không lo lắng. Anh chỉ chờ, kiểu chờ của người đã chờ rất nhiều lần, chờ ở bếp, chờ ở hành lang, chờ ở bệ cửa sổ, và mỗi lần chờ đều không biết người mình chờ có đến không. Nhưng anh vẫn chờ, vì anh không biết làm cách nào khác.

Đêm sâu hơn, tiếng trống canh thứ hai vang lên. Rồi từ rất xa, ở đầu con đường phía bắc, ngoài cổng thành, chỗ đường uốn qua cầu đá, có ánh đuốc.

Anh ngồi thẳng lên. Ánh đuốc di chuyển chậm rồi nhanh hơn, rồi tách thành nhiều ngọn, nhiều bóng người và bóng ngựa trên đường, đội hình hành quân kéo dài trong đêm. Ở đầu đội hình, phía trước tất cả, một bóng ngựa phi nhanh hơn những bóng khác, lưng thẳng, giáp đội ánh đuốc, cờ Trấn Bắc Hầu bay sau lưng.

Anh đứng dậy, cầm khay, đứng ở gốc cây cạnh cổng.

Cô dừng ngựa ở cổng. Ngựa hí nhẹ, chân trước cào mặt đất, hơi thở phì phì sau quãng đường dài. Cô ngồi trên lưng ngựa, giáp dính bụi và mồ hôi, tóc buộc cao nhưng mấy sợi xổ ra dính vào cổ, mặt mệt, gầy hơn lần gặp thoáng ở doanh trại. Nhưng mắt cô sáng.

Cô nhìn xuống. Anh đứng dưới, áo thư sinh trắng hơi nhàu, áo khoác trên vai, tay cầm cái khay gỗ có một bát mì.

Hai người nhìn nhau. Họ không ôm, không khóc, không chạy lại.

Gió thổi qua cổng thành, lay ánh đèn lồng, lay tóc cô, lay vạt áo anh. Phía sau cô, đoàn quân dừng lại ở ngoài cổng và cả thế giới đang chờ ai đó nói gì.

Anh nhìn xuống bát mì trên khay rồi nhìn lên cô.

"Mì nguội rồi."

Giọng anh bình thường. Giọng anh nói mỗi ngày, giọng anh gọi cô ăn cơm, giọng anh bảo Tiểu Hà dọn bàn, giọng của người nấu mì cho người khác ăn mà giọng đó không thay đổi từ bát mì đầu tiên đến bát mì này.

"Nhưng nàng có ăn không?"

Cô nhìn anh, nhìn bát mì rồi nhìn lại anh. Cô cười, cười mà mắt đỏ.

Rồi cô xuống ngựa và buông cương, bước đến trước mặt anh. Cô đến gần, gần hơn khoảng cách hai người thường đứng, gần đến mức cô ngửi thấy mùi khói bếp trên áo anh, mùi hành, mùi nước dùng.

Cô lấy đôi đũa trên khay, gắp một đũa mì, đưa lên miệng. Mì nguội, sợi trương nở, nước dùng đông mỡ nhưng lại là bát mì ngon nhất cô từng ăn trong đời.

Cô ăn đũa thứ hai, rồi đũa thứ ba, và anh đứng đó cầm khay nhìn cô ăn, mặt bình thường, tay bình thường, chỉ có khớp ngón tay siết vào mép khay trắng bệch.

Ăn hết nửa bát, cô dừng lại nhìn lên. Mắt vẫn đỏ, nụ cười nhỏ và lệch vẫn còn trên môi.

"Mặn."

Anh nhìn cô.

"Ta biết. Ta nêm vậy từ hồi nào giờ."

Cô nhìn anh thêm một nhịp, rồi cúi xuống ăn nốt nửa bát còn lại. Sau đó cô đặt đũa xuống khay.

Hai người đứng ở cổng phụ phía bắc giữa đêm, đèn lồng vàng nhạt, gió từ hướng biên cương. Phía sau, đoàn quân bắt đầu lần lượt qua cổng, vó ngựa và bánh xe nghiến trên đường đá, và không ai dừng lại nhìn vì lính biên cương biết có những lúc không nên nhìn.

Cô đặt tay lên mu bàn tay anh, tay đang cầm khay. Cô không nắm, chỉ đặt nhẹ nhưng không rụt rè, tay của người đã cầm kiếm đánh xong trận cuối cùng và biết mình muốn chạm vào cái gì trước tiên khi buông kiếm xuống.

"Ta về rồi."

Cô nói.

Anh lật bàn tay nắm lấy tay cô. Tay cô lạnh từ gió đêm và cương ngựa và giáp sắt, tay anh ấm từ bếp lửa và nồi nước và bát mì vừa nấu.

"Về thôi."

Hai người bước đi, tay nắm tay, khay mì rỗng lắc nhẹ theo nhịp bước, họ đi qua cổng phụ vào thành. Phía sau, lính gác nhìn theo hai bóng lưng đi khuất vào đường phố đêm, một bóng cao gầy áo trắng, một bóng thấp hơn mặc giáp, vai sát vai. Rồi lính gác quay lại chốt, ngồi xuống, rót trà.

"Mì nguội mà Tầm tướng quân cũng ăn hết."

Một người nói.

Người kia cầm chén trà lên, nhìn ra con đường tối và không trả lời.

Ngoài Hầu phủ, đèn lồng ở cổng sáng, cổng mở. Phúc Bá đứng đợi, lưng thẳng, tay chắp sau lưng. Lão không nói gì khi hai người bước vào mà chỉ cúi đầu, bước sang bên, mở rộng cổng.

Cô dừng lại ở giữa sân và nhìn quanh. Cô nhìn cây du góc sân, hành lang phía đông, bếp phụ ở cuối dãy, nhìn như người đi xa lâu ngày nhìn lại nơi mình đã sống mà lúc đi không chắc có quay về.

Rồi cô nhìn anh.

"Nấu bát nữa đi. Bát vừa rồi nguội."

Anh nhìn cô rồi cười nhẹ, cười mà mắt nheo lại, kiểu cười anh hiếm khi cười trước mặt ai vì nó chỉ xuất hiện khi anh thật sự vui, mà thật sự vui thì rất ít.

"Nóng hay nguội?"

"Nóng."

"Mấy bát?"

Cô im lặng một nhịp, rồi nói mà không nhìn anh, chỉ nhìn ra phía bếp:

"Hai."

Anh buông tay cô và quay người đi về phía bếp, khay lắc nhẹ, bước chân trên hành lang gỗ vang nhẹ trong đêm yên tĩnh.

Cô đứng ở giữa sân nhìn theo, nhìn cái lưng áo trắng khuất vào cửa bếp, nhìn ánh lửa bếp bùng lên khi anh thêm than, nghe tiếng nước đổ vào nồi, tiếng muôi chạm thành nồi. Tay cô nắm lại theo phản xạ, nhưng chuôi kiếm không ở đó vì cô đã tháo kiếm đặt trên yên ngựa lúc xuống ngựa. Tay nắm vào không, rồi thả ra. Sau đó cô bước đi về phía bếp, bước nhanh hơn cần thiết.

Cô ngồi xuống cạnh bếp và nhìn anh nấu mì. Lửa nhảy trên trần, bóng anh in trên tường, tay đập trứng, đúng hai quả, không thừa không thiếu.

Nước sôi, anh cho mì vào nồi. Mùi hành thơm lên.

Ở cuối hành lang, có tiếng bước chân rất nhẹ, rồi dừng, rồi tiếng vải phành phạch, rồi im lặng. Anh không quay lại nhưng biết Tiểu Hà đang đứng ở góc hành lang bưng mặt, vì cô bé bưng mặt cũng không im được, kiểu người khóc mà cố nín thì vai rung và tạp dề bay. Cô bé đã khóc kiểu đó từ lần đầu tiên cô bé nghe tiểu thư nói "nhìn được" đến bây giờ, chưa bao giờ khóc nhỏ hơn, chỉ khóc xa hơn để tưởng không ai nghe.

Anh múc mì ra hai bát rồi bưng ra. Chinh Vũ ngồi cạnh bếp nhìn anh đặt bát trước mặt cô, rồi ngồi xuống đối diện, cầm đũa lên.

Hai người ăn mà không nói chuyện. Tiếng đũa nhỏ, tiếng nước dùng nóng húp vào giữa đêm khuya, tiếng lửa bếp tí tách.

Cô ăn hết rồi đặt bát xuống. Anh cũng ăn hết và đặt bát xuống. Họ nhìn nhau qua hai cái bát rỗng và không ai nói gì.

Phúc Bá đứng ở cuối hành lang, nhìn vào bếp qua cửa sổ, thấy hai bóng người ngồi trong ánh lửa, một người nấu, một người nhìn người nấu. Lão đứng đó đủ lâu để chắc chắn mình nhìn đúng, rồi quay đi, vai rung một cái, rồi thẳng lại.

Lão đi vào phòng Hầu gia. Ông ngồi trên giường, đèn dầu cháy thấp, không ngủ, rõ ràng đang chờ.

"Về rồi ạ."

Lão nói.

Hầu gia nhìn lão. Ông ta không hỏi ai về, không hỏi thế nào mà chỉ gật đầu chậm, vai hơi xuôi xuống.

"Hai đứa ở đâu?"

"Ở bếp ạ. Cô gia đang nấu mì."

Hầu gia nhìn lão thêm một lúc. Rồi mép miệng ông hơi nhích lên, không thành cười nhưng gần.

"Mì."

Ông nói, nhẹ, như đang nói với chính mình. Sau đó ông nằm xuống, kéo chăn lên, nhắm mắt.

"Được rồi."

Phúc Bá tắt đèn, khép cửa và đi ra.

Ngoài hành lang, gió đêm thổi qua mái hiên, mang theo mùi mì nấu từ bếp phụ phía đông ấm và nhẹ, bay qua sân, bay qua cây du, bay đến tận phòng Hầu gia. Trong phòng tối, ông nằm nghe mùi mì mà nhắm mắt, vai xuôi hẳn và ông ngủ.

0