Chương 96: Rượu Với Tri Kỷ
Ca Lặc không bị bắt. Hắn tự đến ba ngày sau trận đánh, khi tàn quân đã rút hết về thảo nguyên và Chinh Vũ đã siết xong phòng tuyến phía bắc. Hắn cưỡi ngựa một mình, không giáp, không cờ, không hộ vệ và đi thẳng vào tuyến trinh sát của Đại Tần như người đi chợ. Khi lính chĩa giáo vào mặt hắn thì hắn nói bằng tiếng Đại Tần lưu loát:
"Báo với quân sư của các ngươi rằng Ca Lặc đến uống rượu."
Tin truyền về doanh trại trong nửa canh giờ. Anh nghe xong thì im lặng và gõ ngón tay lên bản đồ bốn nhịp, rồi sai người mang rượu ra lều ngoài cùng, cái lều xa nhất khỏi doanh trại chính, quay mặt về phía thảo nguyên.
Vương Hắc nghe lệnh đó, mắt nheo lại, tay trái siết cán kiếm:
"Quân sư tin hắn?"
"Hắn đến một mình không vũ khí, lão nghĩ hắn đến để đánh nhau à?"
"Lão phu nghĩ hắn đến để tính toán."
"Thì ta cũng tính."
Anh nói.
"Hai người cùng tính toán thì gọi là nói chuyện."
Vương Hắc nhìn anh, nhìn kiểu ông ta nhìn khi ông ta biết anh đang đúng nhưng ông ta không thích cái đúng đó. Rồi ông ta gật đầu và sai hai mươi lính mai phục xung quanh lều vì ông ta tin quân sư nhưng ông ta không tin Hung Nô.
Ca Lặc bước vào lều khi nắng chiều vừa xuyên qua khe vải bạt, hắt một vệt dài trên mặt đất giữa hai người. Hắn gầy hơn lần cuối anh thấy ở tiệc Hồng Lô Tự, gầy theo kiểu người vừa thua trận và đi đường xa mấy ngày không ngủ đủ. Nhưng lưng hắn vẫn thẳng và mắt hắn vẫn sáng, vẫn là mắt của người đang đánh giá mọi thứ xung quanh ngay cả khi đang bước vào lều kẻ thù. Hắn nhìn rượu trên bàn, nhìn hai cái chén, nhìn anh, rồi ngồi xuống, không chờ mời.
Anh rót rượu, đẩy một chén sang. Ca Lặc cầm chén lên ngửi, rồi uống một ngụm và nhăn mặt.
"Vẫn ngọt."
Hắn nói.
"Vẫn là rượu Đại Tần."
Anh nói.
"Lần trước ở sân Hồng Lô Tự ngươi cũng rót cho ta rượu ngọt."
Ca Lặc đặt chén xuống và nhìn anh.
"Lần đó ta mạnh, ngươi yếu. Lần này ngược lại nhưng rượu không đổi."
Anh gật đầu.
"Rượu không đổi."
Ca Lặc nhìn anh một lúc lâu, kiểu nhìn của người đang kiểm tra xem câu đó có nghĩa gì ngoài nghĩa bề mặt không. Sau đó hắn gật đầu nhẹ, kiểu gật của người chấp nhận rằng câu đó đúng là chỉ có nghĩa bề mặt.
Hai người uống im lặng một lúc. Không phải im vì không biết nói gì, mà im vì cả hai đều là người biết rằng câu đầu tiên quan trọng hơn mười câu sau, và câu đầu tiên thì không nên là của mình.
Ca Lặc nói trước.
"Lửa giả."
Hắn nói hai chữ với giọng bằng phẳng.
"Ta đã nghi từ đêm thứ hai. Lửa di chuyển quá đều, trống đánh nhịp hơi sai, bụi đường bay lặp tuyến. Nhưng ta không dám chắc."
Hắn dừng lại.
"Và không chắc thì ta phải đề phòng."
Anh nghe và không ngạc nhiên, vì anh đã tính rằng Ca Lặc sẽ nghi ngờ.
"Đến bao giờ ngươi biết chắc là giả?"
Anh hỏi.
"Khi La Sát xông ra."
Ca Lặc nói.
"Nếu viện binh thật thì cô ấy không cần tung hết vào kẽ nứt. Cô ấy tung hết nghĩa là cô ấy không biết viện binh là giả, nghĩa là viện binh không phải của cô ấy, nghĩa là có người khác đốt lửa mà cô ấy không biết."
Hắn nhìn anh.
"Nghĩa là ngươi."
Anh không nói gì mà chỉ uống rượu.
"Ngươi đánh ta bằng dân cày và trống chiêng mượn từ làng."
Ca Lặc nói, giọng không giận, không cay, giọng của người đang mổ xẻ một bài toán đã có đáp án và muốn hiểu lời giải.
"Ba nghìn lính, hai nghìn dân, một thung lũng vọng âm. Ta có năm nghìn kỵ binh và ta thua."
"Ngươi thua vì ngươi quá thông minh."
Anh nói.
Ca Lặc nhìn anh, mắt hơi nheo lại.
"Ngươi quá thông minh để liều."
Anh giải thích chậm, giọng giảng bài dù anh không cố ý, giọng đó tự ra khi anh đang giải thích thứ anh hiểu rõ.
"Người ngu thì bỏ qua ba nguồn tin mà đánh thẳng. Ngươi thông minh, ngươi nghi ngờ, ngươi phải kiểm tra, ngươi phải phòng bị. Và phòng bị thì chia quân, mà chia quân thì hở."
Ca Lặc im lặng rồi uống rượu. Sau đó hắn đặt chén xuống, rồi cười nhẹ, kiểu cười của người vừa nghe ai đó chỉ ra lỗi của mình mà lỗi đó đúng đến mức không thể cãi.
"Phu nhân ngươi cũng viết phân tích giống vậy."
Hắn nói.
"Bản đồ ta tịch được từ trinh sát, mặt sau có chữ viết của cô ấy, viết rằng ta không bao giờ liều. Cô ấy tìm ra lỗ hổng nhưng không có quân để khai thác."
Hắn nhìn anh.
"Ngươi có."
"Cô ấy tìm ra lỗ hổng."
Anh nói.
"Ta chỉ đốt lửa."
"Vợ chồng bổ sung nhau."
Ca Lặc nói, lặp lại đúng câu hắn đã nói ở tiệc Hồng Lô Tự hai năm trước, nhưng lần này giọng khác, không phải giọng đánh giá nữa mà là giọng thừa nhận.
Rượu cạn bình thứ nhất, anh sai lính mang bình thứ hai. Nắng chiều tắt dần, ánh sáng trong lều chuyển từ vàng sang cam rồi sang xám, và không ai đốt đèn vì cả hai đều quen ngồi trong bóng tối hơn ngồi trong ánh sáng.
"Ngươi biết gì về thảo nguyên?"
Ca Lặc hỏi, giọng đã bớt sắc, rượu ngọt uống nhiều cũng say dù hắn chê.
"Ta biết đủ."
Anh nói. Rồi anh nói thêm, giọng chậm, chọn lời, vì đây là phần anh cần nói đúng mà không được nói quá.
"Ta biết rằng những đế chế thảo nguyên lớn nhất đều không tồn tại lâu. Chiếm rất nhanh, mất cũng rất nhanh. Hung Nô thời Mạo Đốn, Đột Quyết thời Hiệt Lợi, tất cả đều vậy."
Ca Lặc nhìn anh, mắt sắc trở lại dù đang say, vì hắn vừa nghe tên Mạo Đốn và Hiệt Lợi từ miệng một viên biên tu bảy phẩm và những tên đó không nằm trong sách mà quan Đại Tần đọc.
"Ngươi đọc nhiều thật."
Hắn nói, giọng nửa khen nửa dò.
"Ta là thầy giáo."
Anh nói.
"Thầy giáo đọc nhiều là chuyện bình thường."
Ca Lặc không hỏi tiếp, vì hắn là người biết khi nào câu trả lời đã đủ dù chưa đầy đủ.
"Mạo Đốn chiếm được nửa thiên hạ."
Hắn nói với giọng trầm, giọng của người nói về cha ông mà hắn tự nhận dù không cùng huyết thống.
"Rồi con hắn mất một nửa cái nửa đó. Rồi cháu hắn mất nốt."
"Vì chỉ biết đánh mà không biết xây."
Anh nói.
"Chiếm đất mà không trị đất thì đất không phải của mình. Ngựa thảo nguyên chạy nhanh nhưng không cày ruộng được, và đế chế nào cũng cần ruộng."
Ca Lặc im lặng thật lâu. Anh đếm trong đầu, hắn im gần một phần tư canh giờ, ngồi nhìn chén rượu, ngón tay gõ lên mặt bàn theo nhịp không đều, kiểu gõ của người đang nghĩ chứ không phải đang đếm.
"Ngươi đang nói ta sẽ giống Mạo Đốn."
Hắn nói, không phải câu hỏi.
"Ta đang nói ngươi có thể không giống."
Anh nói.
"Nếu ngươi chọn khác."
"Chọn gì?"
Anh đặt chén rượu xuống, nhìn ra ngoài lều, nơi cánh đồng biên cương trải dài dưới ánh hoàng hôn. Phía xa rất xa, là ruộng lúa của dân Thanh Phong vừa gặt xong, gốc rạ vàng đều trong nắng chiều.
"Đất thảo nguyên có gia súc, có da, có ngựa."
Anh nói.
"Đất Đại Tần có lương thực, có vải, có sắt. Ngươi cần thứ ta có, ta cần thứ ngươi có. Đổi cho nhau thì không ai cần chết."
Ca Lặc nhìn theo hướng anh nhìn, nhìn cánh đồng, nhìn gốc rạ, nhìn thứ mà hắn đã thấy trên đường đến đây nhưng chưa nhìn theo cách này.
"Ngũ Hoàng Tử cũng hứa đẹp lắm."
Hắn nói, giọng sắc trở lại, giọng của người đã bị lừa một lần và không chịu bị lừa lần hai.
"Hứa mở cửa biên giới, hứa giao thương, hứa không đánh. Rồi hắn dùng ta để đánh con gái Trấn Bắc Hầu. Ngươi khác gì?"
Anh không trả lời ngay. Anh chỉ ra cánh đồng, chỉ vào gốc rạ vàng.
"Ta cải cách nông nghiệp ba năm."
Anh nói.
"Dân biên cương theo ta ra trận không phải vì ta hứa mà vì ta đã làm. Ngươi hỏi ta khác gì, thì đấy."
Ca Lặc nhìn cánh đồng và cũng nhìn rất lâu. Anh biết hắn đang nhìn gì, hắn đang nhìn bằng chứng, bằng chứng không phải trên giấy mà trên đất, bằng chứng mà không ai giả được vì ruộng lúa không biết nói dối.
"Dân đốt lửa giả cho ngươi."
Hắn nói chậm như đang tự nói với mình.
"Dân kéo ngựa tạo bụi cho ngươi. Dân đánh trống cho ngươi. Không phải lính mà là dân."
Hắn dừng lại.
"Ngũ Hoàng Tử không bao giờ có được thứ đó."
"Vì hắn hứa còn ta làm."
Anh nói và biết rằng đây là câu quan trọng nhất anh nói trong cả cuộc đời này, quan trọng hơn mật chiếu, quan trọng hơn bài giảng trên triều đường. Vì câu này không nói với triều thần mà nói với kẻ thù, và kẻ thù tin thì hòa bình, kẻ thù không tin thì chiến tranh tiếp.
Ca Lặc uống hết chén rượu, đặt xuống, không rót thêm.
"Ta thua mà phục."
Hắn nói.
"Thua kiếm thì không phục, vì kiếm ai cũng có. Thua dân cày và trống chiêng thì phục, vì dân cày không theo ai chỉ vì ai ra mệnh lệnh."
Anh cười nhẹ.
"Ta cũng chỉ là thầy giáo làng."
Ca Lặc nhìn anh và lần đầu tiên kể từ khi hắn bước vào lều, mắt hắn không còn sắc nữa, không còn dò nữa, mắt của người đã quyết xong và đang nhìn người mà hắn vừa quyết định tin. Không phải tin vì lời hứa mà tin vì gốc rạ trên cánh đồng và dân cày đốt lửa giả.
Đêm xuống, không ai đốt đèn. Hai người ngồi trong bóng tối, uống rượu bình thứ hai rồi bình thứ ba, và nói chuyện theo kiểu người ta chỉ nói khi trời tối và rượu đủ say và đối diện là người mà mình không cần giữ gì nhiều.
Ca Lặc kể về thảo nguyên, kể về mùa đông đói rét, kể về trẻ con chết vì lạnh, kể bằng giọng phẳng không than thở, vì hắn không phải người than thở mà là người giải quyết. Hắn đánh Đại Tần vì giải quyết chứ không phải vì ghét. Anh lắng nghe, không ngắt lời, không phán xét, vì anh là thầy giáo và thầy giáo thì biết lắng nghe trước khi nói.
Rồi anh kể, kể về trường học ở Thanh Phong, kể về giống lúa chịu hạn, kể về con đê chắn lũ, kể về cái cách mà dân biên cương từ sợ Hung Nô đến sống chung với Hung Nô nếu hai bên ngừng giết nhau. Anh không dùng từ lớn, không nói "hòa bình vĩnh cửu" hay "đại đồng thiên hạ". Anh nói bằng những thứ cụ thể: bao nhiêu thạch lúa đổi một con ngựa, bao nhiêu tấm vải đổi một con bò, chợ mở ở đâu, tháng nào, ai quản lý, tranh chấp thì ai xử.
Ca Lặc nghe và lần đầu tiên trong đời hắn nghe một người Đại Tần nói về hòa bình mà không giống đang rao bán, vì người này nói bằng con số và lịch trình chứ không bằng lý tưởng và đạo đức.
"Ngươi tính hết rồi."
Hắn nói, giọng nửa ngạc nhiên nửa thán phục.
"Ta là thầy giáo."
Anh nói lại câu cũ, nhưng lần này Ca Lặc cười thật, cười to hơn mọi lần, cười kiểu người vừa hiểu ra rằng câu "ta chỉ là thầy giáo" chính là câu nguy hiểm nhất.
Gần sáng, rượu cạn bình thứ ba. Ca Lặc đứng dậy, hơi liêu xiêu vì say, kiểu xiêu của người quen uống rượu cay thảo nguyên mà bị hạ bởi rượu ngọt Đại Tần, thứ say ngầm mà hắn không nhận ra cho đến khi đứng lên.
Anh cũng đứng, cũng say, cũng liêu xiêu, hai người xiêu về hai phía đối diện rồi cùng vịn vào cái bàn giữa lều Khoảnh khắc đó buồn cười đến mức cả hai cùng cười, cười kiểu người vừa đánh nhau suýt chết mà giờ say rượu cùng nhau.
Ca Lặc nhìn anh, mắt đỏ vì rượu, nhưng trong mắt đỏ đó có thứ gì đó trong, kiểu trong của người đã bỏ hết lớp vỏ xuống và đang nhìn bằng mắt thật.
"Nếu ngươi giữ lời."
Hắn nói, giọng trầm chậm, rượu làm giọng hắn nặng hơn nhưng cũng thật hơn.
"Ta sẽ là người đầu tiên dẫn ngựa thảo nguyên qua biên cương để đổi. Không phải để cướp."
Anh nhìn hắn.
"Ta giữ lời."
"Ta biết."
Ca Lặc nói.
"Vì ruộng lúa không biết nói dối."
Hắn bước ra khỏi lều, trời vừa hửng sáng, ánh sáng đầu ngày hắt lên mặt hắn và mặt cánh đồng cùng lúc. Hắn đứng ở cửa lều nhìn ra, nhìn cánh đồng rạ vàng dưới bình minh, nhìn như người lần đầu nhìn thấy thứ mà mình đã đi qua nhiều lần nhưng chưa bao giờ thật sự thấy.
Rồi hắn quay lại, nhìn anh lần cuối.
"Lão Tiết."
Hắn gọi anh bằng hai chữ. Bỏ họ, bỏ chức, bỏ "Tiết biên tu", bỏ "Tiết Lan Chu", chỉ còn "lão Tiết". Kiểu gọi của người thảo nguyên gọi bạn cũ, kiểu gọi mà hắn chưa từng dùng với bất kỳ người Đại Tần nào.
Anh nhìn hắn.
"Ca Lặc."
Cũng bỏ tước hiệu, cũng chỉ còn tên.
Ca Lặc gật đầu và quay người, bước ra nắng sáng, rồi hắn lên ngựa phi về phía bắc, về phía thảo nguyên, không ngoảnh lại, kiểu không ngoảnh lại của người không cần ngoảnh vì biết phía sau có người giữ lời.
Anh đứng ở cửa lều nhìn bụi ngựa bay xa dần, nhìn cho đến khi bụi lắng hẳn và chỉ còn cánh đồng rạ vàng dưới bình minh. Vương Hắc khập khiễng đến từ phía sau, tay trái cầm bát cháo nóng, tay phải bó bột vẫn gác trên nẹp gỗ.
"Hắn đi rồi?"
Ông ta hỏi, giọng vẫn còn cau có vì thức cả đêm canh lều mà không có ai để đánh.
"Đi rồi."
"Quân sư tin hắn?"
Anh nhìn cánh đồng rạ, nhìn hướng Ca Lặc vừa đi, rồi nhìn bát cháo trong tay ông ta.
"Hắn tin ta."
Anh nói.
"Thế là đủ."
Vương Hắc nhìn anh, nhìn kiểu ông ta nhìn khi ông ta không hiểu hết nhưng biết rằng quân sư đang đúng, rồi ông ta đẩy bát cháo về phía anh.
"Ăn đi. Cháo lão phu nấu lần này đặc hơn, đừng có chê."
Anh cầm bát, húp một ngụm. Cháo mặn quá, vì tay trái Vương Hắc đong muối vẫn chưa quen dù đã nấu bao nhiêu lần. Nhưng cháo nóng và sáng sớm biên cương thì cháo nóng là đủ.
Anh ngồi xuống trước cửa lều, ăn cháo nhìn bình minh và nghĩ rằng lần đầu tiên trong hai kiếp, anh đã biến một kẻ thù thành bạn bằng cách không giết hắn. Điều đó, đối với một giáo viên lịch sử đã đọc quá nhiều về chiến tranh, là bài học quan trọng nhất anh từng dạy, dù lần này anh dạy cho chính mình.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.