Chương 95: Gặp Nhau Trên Chiến Trường
Trận chiến chưa kết thúc. Ca Lặc rút nhưng tàn quân Hung Nô vẫn rải rác trên cánh đồng phía bắc và dọc theo tuyến đông, những tốp kỵ binh nhỏ vỡ ra từ liên minh tan rã. Có tốp rút theo Ca Lặc, có tốp chạy tán loạn sang hai bên, và Chinh Vũ không thể để chúng tập hợp lại vì Ca Lặc là người biết gom tàn quân nhanh hơn bất kỳ ai mà cô từng gặp.
Cô sai Trần Hựu dẫn hai cánh kỵ binh truy kích hướng đông bắc, tự mình dẫn cánh chính hướng bắc, đuổi theo đội hình lõi của Ca Lặc đủ xa để hắn không dừng lại tập hợp. Cô cũng không đuổi quá gần để dính vào bẫy phản kích vì cô biết hắn thua rồi vẫn nguy hiểm, kiểu người thua mà đầu vẫn tỉnh thì lúc nào cũng nguy hiểm.
Đuổi đến chiều muộn, khi bóng tối bắt đầu xuống và ngựa đã mệt đến mức phi chậm dần dù cô không kìm cương, cô ra lệnh dừng. Đủ rồi, hắn đã rút quá xa để quay lại trong đêm. Cô cần giữ sức cho quân vì đây là đội quân đã đánh liên tục từ rạng sáng đến giờ mà chưa ăn bữa nào.
Cô quay ngựa. Phía sau, cánh đồng chiến trường vẫn còn bụi lắng và xác ngựa và vết cày của hàng nghìn vó ngựa trên mặt đất, trông như ai đó vừa cào lên cả một vùng bằng lưỡi kiếm khổng lồ. Phía trước ở hướng nam, nơi trinh sát nói viện binh đang đóng, nơi có người không mặc giáp ngồi xe ngựa cùng lão tướng tay bó bột.
Cô thúc ngựa, phi về phía nam.
Doanh trại hậu phương nằm ở chân gò đất, lều vải bạt dựng hai hàng dọc theo con suối cạn, bếp dã chiến bốc khói ở cuối dãy, ngựa buộc dưới gốc cây thưa. Nhỏ và gọn theo kiểu doanh trại của người không có nhiều quân nên không cần nhiều lều.
Cô phi ngựa đến và lính gác nhận ra cô từ xa vì không ai cưỡi ngựa kiểu đó ngoài La Sát. Kiểu phi không kìm, lưng thẳng, giáp dội nắng chiều lấp lánh. Họ đứng dạt ra hai bên mở đường mà không ai kịp hô báo.
Cô dừng ngựa ở giữa doanh trại. Anh đứng trước lều chỉ huy tạm, cách cô chừng hai mươi bước. Áo thư sinh, không giáp, dính bụi đường từ vai xuống gấu, bụi vàng loang lổ trên vải trắng ngả xám. Kiểu bụi của người ngồi xe ngựa xuyên qua vùng chiến sự mấy ngày liền mà không kịp thay đồ. Tay phải của anh đang cầm bản đồ cuộn dở, tay trái đang chỉ vào gì đó trên bản đồ mà viên lính đứng cạnh đang cúi xuống nghe. Mặt anh mệt, quầng thâm dưới mắt, gầy hơn lần cuối cô thấy anh ở kinh thành, gầy kiểu người không ngủ đủ trong nhiều ngày liền chứ không phải gầy vì thiếu ăn.
Bên cạnh anh, Vương Hắc ngồi trên xe ngựa, tay phải bó bột gác lên thành xe, tay trái đang cầm bát cháo mà ông ta chưa ăn vì ông ta đang mắng viên lính hậu cần bằng giọng quen thuộc đến mức cô nhận ra trước khi nghe rõ nội dung:
"Cháo gì mà nước trong như rửa bát, bỏ thêm nắm gạo có chết ai không?"
Anh ngẩng lên khi nghe tiếng vó ngựa dừng.
Hai người nhìn nhau. Khoảng cách hai mươi bước, anh đứng, cô ngồi trên ngựa, giữa họ là bụi và nắng chiều và tiếng Vương Hắc mắng lính đang tắt dần vì ông ta cũng ngẩng lên nhìn. Doanh trại im đi một nhịp, kiểu im của những người xung quanh nhận ra mình đang đứng giữa thứ gì đó mà mình không nên ở giữa.
Cô nhìn anh, nhìn bụi trên áo anh, nhìn bản đồ trong tay anh, nhìn quầng thâm dưới mắt anh. Cô muốn xuống ngựa, muốn bước qua hai mươi bước đó, muốn nói gì đó, bất cứ gì, nhưng cô không biết nói gì vì cô chưa bao giờ biết nói gì vào những lúc quan trọng nhất.
Anh nhìn cô, nhìn giáp dính máu, nhìn kiếm chưa tra vỏ, nhìn mặt cô dính bụi và mồ hôi khô và có một vệt máu ai đó trên trán mà cô chưa lau. Anh mỉm cười nhẹ, kiểu cười mà cô đã thấy rất nhiều lần trong ba năm sống cùng nhau, kiểu cười của người nói "ta ở đây" mà không cần mở miệng.
Cô không cười lại. Cô chỉ nhìn anh thêm một nhịp, hai nhịp, ba nhịp, đếm nhịp như đếm nhịp tim, rồi cô nắm cương ngựa chặt hơn, vì nếu cô không nắm chặt thì cô sẽ xuống. Nếu cô xuống thì cô sẽ không lên lại được, và trận chiến chưa kết thúc.
Vương Hắc nhìn hai người, rồi ông ta quay sang viên lính hậu cần, hạ giọng xuống thấp hơn bình thường, thấp đến mức gần như thì thầm, kiểu thì thầm của người lão luyện trong việc nhìn ra khi nào mình nên biến thành vô hình:
"Đi đi. Cháo mang vào trong nấu lại."
Viên lính ngơ ngác nhưng nghe lệnh ông ta thì đi. Mấy người lính khác đứng gần cũng tản ra, không ai bảo ai, vì lính theo Vương Hắc thì hiểu mắt ông ta. Và mắt ông ta lúc này đang nói "biến đi".
Nhưng cô không xuống ngựa. Cô nhìn anh lần cuối, nhìn lâu, nhìn kiểu người đang cố ghi nhớ một thứ mà mình sợ nếu nhắm mắt sẽ biến mất. Rồi cô gật đầu nhẹ, kiểu gật mà anh sẽ hiểu vì anh luôn hiểu, gật nghĩa là "ta thấy rồi, ta biết rồi, ngươi ở đây rồi, ta sẽ quay lại".
Rồi cô quay ngựa, thúc gót, phi ra khỏi doanh trại về phía bắc, nơi tàn quân Hung Nô vẫn đang rải rác và trận chiến chưa kết thúc.
Bụi ngựa bay lên sau lưng cô, vàng trong nắng chiều, rồi lắng dần.
Anh đứng nhìn bụi lắng. Bản đồ trong tay anh đã rơi xuống đất từ lúc nào mà anh không biết. Tay anh trống, và tay trống thì run, nên anh cúi xuống nhặt bản đồ lên, phủi bụi, cuộn lại, làm việc gì đó cho tay bận để tay ngừng run.
Vương Hắc nhìn anh từ xe ngựa và im lặng lâu hơn bình thường, lâu hơn cả lúc ông ta mắng cháo loãng. Rồi ông ta nói với giọng trầm nhẹ, không giống giọng ông ta thường ngày:
"Tướng quân sẽ quay lại."
Anh gật đầu.
"Ta biết."
"Quân sư run kìa."
Anh nhìn tay mình thì thấy run thật. Anh nắm lại, ép ngừng, kiểu ép quen rồi vì mấy ngày nay anh ép tay ngừng run nhiều lần.
"Ta không run."
Anh nói.
Vương Hắc nhìn anh rồi cười, cười bằng mắt, kiểu cười mà ông ta đã cười từ hồi ngồi trong bếp Đào Nương ăn cơm và nhìn hai vợ chồng ngồi cạnh nhau mà giữ khoảng cách lịch sự đến nực cười.
"Ừ."
Vương Hắc nói.
"Không run."
Rồi ông ta cầm bát cháo lên húp một ngụm, nhăn mặt, và quát viên lính hậu cần đang núp ở góc lều:
"Nấu lại! Cháo gì mà như nước giặt đồ!"
Doanh trại trở lại bình thường. Lính đi qua lại, bếp bốc khói, ngựa hí ở gốc cây. Anh đứng đó thêm một lúc, nhìn phía bắc, nơi bụi ngựa đã lắng hẳn và chỉ còn cánh đồng trải dài dưới nắng chiều.
Cô sẽ quay lại. Anh biết, nhưng biết cũng không bớt nhớ chút nào.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.