Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 1: Kiệu Hoa Đi Lạc Đường

Đăng: 29/05/2026 10:21 3,033 từ 10 lượt đọc
Điều đầu tiên Tiết Lan Chu nhận ra sau khi chết đi là mình vẫn đang nợ tiền.

Không phải theo nghĩa bóng mà là nợ thật, nợ tận năm trăm lượng bạc. Mẹ anh đã nhận trước khi anh kịp tỉnh dậy để phản đối.

Ký ức của thân chủ cũ ùa về như nước vỡ đập trong lúc anh còn đang nằm im và cố hiểu tại sao trên mặt mình lại có một tấm vải đỏ, tại sao xung quanh đang lắc lư, và tại sao mùi hương trầm lại nồng đến mức gần ngộp thở.

Anh đưa tay kéo tấm vải xuống rồi ngồi dậy từ từ. Hóa ra đây là bên trong một chiếc kiệu hoa. Bốn vách rèm thêu chỉ đỏ chỉ vàng ken dày, sàn trải đệm gấm thêu hoa mẫu đơn, một khay trái cây đặt ở góc trong chưa có ai đụng vào.

Bên ngoài là tiếng bước chân đều đặn của người khiêng kiệu, tiếng bát âm náo nhiệt, tiếng người dân hai bên đường bàn tán xôn xao. Chiếc kiệu đang di chuyển chậm rãi và trang trọng như thể đang chở thứ gì đó rất quý giá. Trần Minh Triết ngồi giữa tất cả những thứ đó, tay vẫn cầm tấm khăn đỏ và nhận ra mình không ngạc nhiên chút nào.

Ký ức của người mà anh vừa trở thành đã lý giải mọi việc hết rồi. Thân chủ thân xác tên là Tiết Lan Chu, hai mươi hai tuổi, Tân khoa Trạng Nguyên năm Kiến Hưng thứ mười bảy của triều Đại Tần. Tiết Lan Chu xuất thân hàn môn, mẹ hắn vừa bán con trai mình cho Trấn Bắc Hầu gia làm rể với giá năm trăm lượng bạc.

Năm trăm lượng để mua 1 trạng nguyên, nghe cũng không tồi chút nào.

Trần Kinh Triết đặt tấm khăn đỏ xuống đệm rồi nhìn chằm chằm vào nó một lúc. Ở kiếp trước, anh ta là giáo viên lịch sử, chết ở tuổi hai mươi tám vì làm việc quá sức. Vừa phải làm gia sư ba ca một ngày, về nhà còn soạn giáo án đến tận hai giờ sáng, tất cả chỉ để trả nợ cho mẹ và lo tiền thuốc cho bà.

Ngày cuối cùng, anh gục xuống bàn phím ngay giữa chừng một bài giảng về lịch sử quân sự cuối triều Đường và không dậy nữa. Đến kiếp này, anh chưa kịp làm gì đã bị bán đi. Kiếp trước mẹ anh cần tiền, anh dạy thêm ba ca. Kiếp này vẫn là mẹ cần tiền và anh được đem bán. Về bản chất thì cũng na ná nhau, chỉ khác là lần này anh không được hỏi ý kiến trước. Trần Minh Triết nghĩ mình sẽ rất tức giận hoặc đau khổ khóc lóc, hoặc ít nhất là hoảng loạn một chút cho đúng quy trình của người vừa xuyên không lần đầu. Nhưng ngồi thêm một lúc, anh nhận ra trong lòng mình chỉ có một cảm giác quen thuộc đến mức buồn cười.

Anh cảm thấy mệt mỏi.

Tình thương mà anh biết từ nhỏ luôn đi kèm hoá đơn, chỉ là lần này hoá đơn lại ghi năm trăm lượng.

Tiếng pháo lại nổ, rộn ràng hơn lần trước và kiệu bắt đầu chậm lại. Anh kéo rèm ra một chút và nhìn qua khe hẹp.

Một tòa phủ lớn đang hiện ra trước mặt với cổng gỗ sơn đỏ sừng sững. Hai bên là đèn lồng treo dày như sao sa, binh sĩ mặc giáp đứng thành hàng ngay ngắn dọc lối vào. Trên tấm biển gỗ treo cao phía trên cổng, ba chữ được khắc sâu sơn vàng: Trấn Bắc Hầu.

Trần Minh Triết buông rèm xuống, ngồi thẳng lưng. Kiếp trước anh hay bắt đầu bài giảng bằng một câu là khi bước vào một triều đại mới, việc đầu tiên cần làm chính là quan sát, không phải hành động. Câu đó anh nói với học sinh ba mươi lần, chưa bao giờ nghĩ có ngày mình là người phải tự áp dụng cho bản thân.

Thật ra thì tình huống hiện tại không có nhiều thứ để tìm hiểu. Đơn giản tóm lược về thân thế mới này là không tiền, không thế lực, không võ công và danh hiệu Trạng Nguyên đẹp trên giấy tờ nhưng trong phủ của một vị hầu tước trấn thủ biên cương thì chữ nghĩa không nặng bằng thanh kiếm.

Bản thân anh là chàng rể được mua về, nghĩa là địa vị thực tế không khác gì đồ vật vừa được giao hàng. Điểm mạnh duy nhất đáng kể của anh là bộ não với gần ba mươi năm kiến thức lịch sử và chính trị cổ đại, đặc biệt là giai đoạn cuối triều Đường mà cái triều Đại Tần này trông rất giống nếu đặt cạnh nhau so sánh. Thêm vào đó là vẻ bề ngoài thân thể mới này trông hoàn toàn vô hại, đây là ưu thế không phải ai cũng có được mà không cần cố gắng.

Chiến lược tốt nhất lúc này là cứ nằm im và quan sát.

Trần Minh Triết biết mình cần hiểu luật chơi trước khi đi nước đầu tiên.

Lúc này kiệu đã dừng hẳn và giọng người bên ngoài vang lên:

"Đã đến nơi rồi, xin mời tân lang xuống kiệu."

Anh nhẹ nhàng sửa lại vạt áo, vuốt phẳng nếp gấm, rồi bước ra ngoài với dáng vẻ bình thản của người vừa đi dạo về chứ không phải vừa hoàn hồn sau một chuyến xuyên không.

Ánh nắng chiều đổ xuống, anh đưa tay lên che mắt trong chốc lát rồi hạ xuống. Khoảng sân trước Hầu phủ lát đá xanh rộng, xung quanh là gia nhân xếp thành hai hàng chỉnh tề.

Bọn họ nhìn anh và anh nhìn lại họ.

Trần Minh Triết đọc được trong ánh mắt đó đủ thứ cảm xúc từ tò mò đến xem thường, đến thờ ơ hoàn toàn. Thú vị là không có một ánh mắt nào tỏ ra chào đón anh cả.

Kiếp trước anh hay dạy học sinh rằng khi bước vào căn phòng xa lạ thì hãy nhìn xem ai cúi đầu, ai ngẩng mặt, ai đứng im.

Ba mươi lần dạy câu đó, hôm nay mới dùng đến lần đầu. Kết quả là không ai cúi đầu. Trong khoảng lặng ngắn đó, anh nghe thấy ai đó ở hàng bên trái thì thầm với người đứng cạnh: "

Gầy thế này à, trông như cây sậy vừa qua mùa đông."

Người kia khẽ đáp:

"Tiểu thư mà nhìn thấy chắc lại bảo Hầu gia mua nhầm hàng rồi."

Có tiếng cười khúc khích bị kìm nén lại, không đủ để thành tiếng nhưng đủ để Trần Minh Triết nhận ra. Anh nghe thấy hết, ghi nhớ hết, và không phản ứng gì cả. Gia nhân không sợ mình, nghĩa là vị thế thực tế của tân lang trong phủ này ngang với không khí. Biết được điều đó từ đầu thì còn hơn là ảo tưởng rồi vỡ mộng về sau.

Đúng lúc này, một lão gia nhân chợt bước ra khỏi hàng, cúi chào anh theo đúng lễ. Tuổi ông ta khoảng bảy mươi, dáng gầy nhưng lưng thẳng, mắt sáng và tinh anh. Ông ta khác với những người còn lại nhìn anh với vẻ xem thường hoặc tò mò. Cái nhìn của lão ta chỉ là quan sát, không hàm chứa phán xét.

Lão là Phúc Bá, quản gia Hầu phủ. Xin mời tân lang vào trong, Hầu gia đang chờ."

Trần Minh Triết gật đầu đáp lễ.

"Phiền lão dẫn đường."

Phúc Bá dẫn anh đi qua mấy dãy hành lang. Anh ta theo sau, bước chân đều, mắt nhìn thẳng nhưng tầm nhìn đang quét kỹ hai bên theo thói quen cũ của người quen quan sát địa hình. Dọc hành lang, mấy bình hoa đặt ở mỗi góc đều cắm hoa cúc dại và cỏ bạc đầu, loại hoa mọc tự nhiên ở thảo nguyên phía bắc chứ không phải như ở kinh thành vốn ưa chuộng mẫu đơn và lan hồ điệp. Ai đó trong phủ này cố tình mang mùi biên cương về đặt ở những nơi mắt thường xuyên nhìn thấy nhất, như thể sợ sẽ quên mất.

Ở bên phải, qua khe hở giữa hai dãy nhà, Trần Minh Triết thoáng thấy một góc sân luyện võ. Nền cát vẫn còn vết cắm của cán thương chưa kịp san phẳng, dấu vết của người luyện tập từ sáng sớm.

Kiếp trước điểm thể dục của Trần Minh Triết là năm rưỡi trên mười, kiếp này anh lại bước vào một tòa phủ toàn dấu thương và vết kiếm. Ông trời chọn người cũng có khiếu hài hước thật.

Phúc Bá dừng lại trước một căn phòng lớn rồi đẩy cửa vào. Bên trong, Trấn Bắc Hầu Tầm Khải Sơn đang ngồi sau chiếc bàn trà thấp. Anh nhìn ông ta và nhận ra ngay đây không phải người dễ đối phó.

Tuổi Trấn Bắc Hầu khoảng năm mươi lăm, khuôn mặt sạm nắng của người cả đời ở biên cương, tóc đã điểm bạc nhưng lưng vẫn thẳng như cây thương chưa từng gãy. Đôi mắt ông ta nhìn anh bước vào không biểu lộ gì, chỉ quan sát từng chi tiết một với cái nhìn của người quen đánh giá tình thế trên chiến trường.

Anh cúi chào đúng lễ, không thêm không bớt: "Tại hạ Tiết Lan Chu, ra mắt Hầu gia."

Trấn Bắc Hầu không nói gì ngay. Ông ta rót một chén trà và đẩy về phía trước, rồi chỉ tay mời anh ngồi.

Trần Minh Triết ngồi xuống, đưa tay cầm chén. Chén trà vừa rót còn nóng, nóng đến mức tay người bình thường sẽ phải đặt xuống ngay. Anh nhận ra điều đó trong khoảnh khắc ngón tay chạm vào thành sứ nhưng không đặt xuống. Anh giữ chén trên tay, vẻ mặt bình thản rồi uống một ngụm nhỏ, không một chút biểu hiện nào khác.

Trấn Bắc Hầu nhìn tay anh cầm chén, rồi ông mới bắt đầu nói chuyện, giọng trầm và chậm:

"Con gái ta tên Tầm Chinh Vũ, hai mươi lăm tuổi. Từ năm mười lăm đã theo ta ra biên cương. Năm trước thiên hạ gọi nó là La Sát biên ải."

Ông ta dừng lại.

"Nó không biết nấu ăn, không biết thêu thùa, cũng không biết những thứ mà con gái nhà lành thường biết."

Trần Minh Triết gật đầu và vẫn thể hiện ra đang lắng nghe.

"Ta không cần nó biết những thứ đó"

Trấn Bắc Hầu tiếp tục, giọng ông không thay đổi.

"Nhưng ta cần bên cạnh nó có người biết chữ, biết nghĩa, biết nhìn xa hơn mũi kiếm."

Ông nhìn thẳng vào mắt Trần Minh Triết.

"Đó là lý do ta chọn Trạng Nguyên, không chọn người khác."

Anh im lặng một nhịp trước khi đáp:

"Hầu gia lo cho tiểu thư."

Không phải câu hỏi mà chỉ là nhận xét.

Trấn Bắc Hầu cũng không trả lời mà chỉ đứng dậy, coi như buổi gặp mặt đã kết thúc, ra hiệu cho Phúc Bá dẫn anh rời đi.

Trần Minh Triết cũng đứng dậy, cúi chào và bước ra khỏi phòng. Khi đã ra đến hành lang, khuất khỏi tầm mắt của vị Hầu gia, anh ta mới nhận ra trà anh vừa uống có vị rất đắng mà lúc ngồi trong đó anh hoàn toàn không cảm thấy.

Có lẽ vì lúc nãy anh còn bận nhận ra một điều gì khác. Người đàn ông vừa bỏ ra năm trăm lượng bạc để mua đứa con rể cho con gái mình không hề nhìn anh như nhìn món hàng vừa giao đến. Ông nhìn anh như nhìn một ẩn số chưa giải được và buổi gặp mặt vừa rồi là lần thử đầu tiên.

Chén trà nóng.

Bài kiểm tra đơn giản nhưng hiệu quả. Anh không biết mình vừa thông qua hay vừa trượt. Nhưng Hầu gia đã bắt đầu nói chuyện với anh sau đó, vậy thì ít nhất là chưa trượt hẳn.

Phúc Bá dẫn Trần Minh Triết lên một cầu thang gỗ cũ kỹ, rồi dừng lại trước một căn phòng nhỏ cuối hành lang phía đông. Ông ta đẩy cửa vào, trong phòng có một chiếc giường gỗ kê sát tường, một bàn viết đặt cạnh cửa sổ, một tủ quần áo nhỏ, và một ô cửa sổ nhìn ra khoảng sân hẹp trồng mấy khóm trúc đang ngả nghiêng trong gió chiều. Căn phòng sạch, gọn gàng và rõ ràng là phòng dành cho khách tạm trú, không phải phòng của người chồng trong nhà.

"Tân lang tạm nghỉ ở đây"

Phúc Bá nói.

"Bữa tối sẽ có người mang đến."

Trần Minh Triết nhìn quanh một lượt.

"Đa tạ lão."

Phúc Bá chuẩn bị bước ra thì chợt dừng lại ở cửa. Lão không quay người mà chỉ nói khẽ, giọng nhẹ và bình thản nhưng anh nghe ra sau lớp bình thản đó là điều gì đó ấm áp hơn:

"Tân lang đến đây lần đầu, nhiều thứ chưa quen. Có gì cứ gọi lão."

Rồi tiếng bước chân lão khuất dần xuống hành lang. Trần Minh Triết đứng giữa căn phòng nhỏ, nhìn theo cho đến khi không còn nghe thấy gì nữa. Trong cả Hầu phủ này, từ lúc anh bước vào đến giờ, Phúc Bá là người duy nhất nói chuyện với anh như nói chuyện với một con người thật sự.

Sau đó, anh bước đến bàn viết, kéo ghế ngồi xuống. Trên mặt bàn có sẵn nghiên mực đã mài, bút lông cắm trong ống đồng, giấy trắng xếp gọn một bên, ai đó đã chuẩn bị sẵn trước khi anh đến. Anh không viết gì mà chỉ đặt tay lên mặt bàn, vô thức gõ nhẹ ngón tay theo nhịp cũ như gõ bàn phím. Đó là cái thói quen từ kiếp trước mà anh biết mình sẽ mất rất lâu mới bỏ được.

Trời cũng tối dần. Qua ô cửa sổ nhỏ, khoảng sân trồng trúc đang chìm vào bóng đêm, chỉ còn tiếng gió len qua kẽ lá nghe xào xạc. Đến khi ngọn nến trên bàn cần được thắp lên thì có tiếng gõ cửa. Một gia nhân trẻ đẩy cửa vào, bưng theo một khay gỗ đặt xuống bàn rồi quay ra đi ngay. Tiếng bước chân rời khỏi căn phòng nhanh chóng như người đang cố thoát khỏi chỗ họ không muốn ở lại.

Trần Minh Triết nhìn xuống khay cơm, gồm có một bát canh, một đĩa rau, một bát cơm trắng và một đôi đũa.

Đúng một phần, không sai không thiếu.

Không ai đặt thêm thứ gì khác vì không ai nghĩ sẽ có người thứ hai ngồi ăn cùng anh tối nay, hoặc bất kỳ tối nào sau đó.

Anh nhìn đôi đũa đặt trên khay một lúc. Kiếp trước, những đêm mẹ nằm viện, anh cũng hay ăn một mình như thế này.

Cũng một khay, cũng đúng một phần, cũng trong căn phòng không có ai khác...

Qua hai kiếp người mà cái cảnh này vẫn không thay đổi, không biết nên cười hay nên thôi. Trần Minh Triết kéo khay lại gần và nhấc đũa lên, rồi bắt đầu ăn. Canh nguội, rau hơi dập, cơm vẫn còn ấm chút ít vì vừa mới xới. Anh ăn hết sạch, không phải vì ngon mà vì đã quen với điều này từ rất lâu rồi. Anh luôn ăn những gì có trước mặt, không kén chọn, không đợi ai mời thêm.

Khi đặt đũa xuống, ngoài cửa sổ trời đã tối hẳn. Trần Minh Triết đứng dậy, gấp tấm khăn đỏ còn để trên góc bàn từ nãy, xếp gọn vào ngăn tủ, rồi ra đóng cửa sổ lại.

Đây là đêm đầu tiên ở Hầu phủ. Ngày mai anh chưa biết sẽ như thế nào, chưa gặp người vợ mà ông trời cực kỳ có khiếu hài hước đã sắp xếp cho anh. Anh cũng chưa biết mình sẽ ở đây bao lâu, sẽ làm gì, sẽ trở thành gì trong cái tòa phủ không ai buồn nhìn đến mình này. Nhưng kiếp trước anh chết vì không biết dừng lại. Kiếp này, anh sẽ thử xem việc nằm im có đưa người ta đến đâu.

Ngọn nến lung lay trong bóng tối. Anh gõ ngón tay lên mặt bàn một lần cuối, rồi dừng lại.


Sáng hôm sau, khi anh mang trà ra ngồi ở thềm cửa đọc sách lúc trời chưa sáng hẳn thì nghe tiếng kiếm khua dưới sân phía dưới.

Âm thanh đều đặn, nhanh, dứt khoát, là tiếng của người luyện kiếm không phải để biểu diễn mà để giữ tay luôn quen thuộc với binh khí. Trần Minh Triết ngồi im, không nhìn xuống, anh tiếp tục lật trang sách dù ánh sáng chưa đủ để đọc rõ.

Một lúc sau, tiếng kiếm dừng lại, rồi có một giọng nói vọng lên từ bên dưới. Giọng rõ ràng và lạnh nhạt, không thèm hỏi mà chỉ khẳng định:

"Ngươi dậy sớm thế."

Anh lật trang sách, đáp nhẹ:

"Thói quen cũ."

Không có thêm tiếng nói nào vang lên nữa. Tiếng kiếm lại tiếp tục khua. Đó là lần đầu tiên Tầm Chinh Vũ nói chuyện với anh.

Nàng ta không nhìn lên, không hỏi tên, không chào hỏi, chỉ một câu nhận xét rồi thôi, như thể anh là cái cây mọc sai chỗ mà cô chưa kịp sai người nhổ đi.

Anh nhìn xuống trang sách, khẽ cười một mình.

Được rồi. Ít nhất là cô biết anh tồn tại.

Trần Minh Triết hưa kịp cất nụ cười thì Phúc Bá đã đứng ở đầu hành lang, giọng bình thản như nói chuyện thời tiết:

"Tân lang, tiểu thư bảo muốn gặp ngài. Bây giờ."

0