Chương 93: Lửa Giả
Anh tìm ra mảnh ghép còn thiếu vào sáng hôm sau, khi đoàn quân dừng nghỉ ở thung lũng cuối cùng trước khi vào vùng chiến sự. Một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, da sạm, lưng hơi còng theo kiểu người quen gánh nặng, đi bộ đến trước xe ngựa anh và cúi đầu.
"Thầy giáo, tôi là Tào Phúc, nhà ở bìa rừng phía tây Thanh Phong."
Ông ta nói, giọng rụt rè nhưng cố giữ thẳng.
" Tôi là binh sĩ đồn Ưng Sơn. Cha con canh gác đèo hai mươi năm. Cha chết năm ngoái."
Anh nhìn ông ta gật đầu,.
"Tôi biết đường mòn từ Thanh Phong ra phía bắc mà bản đồ quân sự không vẽ, vì đường đó chỉ trâu đi và người đi chợ sáng sớm mới biết."
Tào Phúc nói.
"Tôi cũng biết chỗ nào trong thung lũng tiếng vọng xa nhất, vì hồi nhỏ tôi hay đứng ở đó gọi trâu về mà cả làng bên kia đồi đều nghe."
Anh nhìn Vương Hắc. Ông ta đang nhìn Tào Phúc bằng mắt nửa lơ đãng nửa sắc, kiểu ông ta nhìn mọi người khi ông ta đang suy nghĩ.
"Chỗ nào?"
Anh hỏi.
Tào Phúc chỉ lên bản đồ, ngón tay thô ráp dừng ở một vị trí giữa hai dãy đồi thấp mà anh đã đánh dấu mực đỏ từ ở kinh thành, nhưng anh đánh dấu vì đó là chỗ có thể đặt lửa giả, còn ông ta chỉ vào đó vì một lý do khác hoàn toàn.
"Thung lũng này hai bên là đá."
Tào Phúc nói chậm, cố diễn đạt cho rõ vì ông không quen giải thích chiến thuật mà quen giải thích đường đi.
"Tiếng trống đánh trong thung lũng vọng sang hai bên nghe như trống đánh ở bốn năm chỗ cùng lúc. Hồi tôi còn nhỏ, cha tôi kể rằng Hầu gia từng dùng chỗ này đặt trống báo hiệu khi Hung Nô tấn công, vì một cái trống mà nghe như mười cái."
Anh nhìn vào bản đồ, nhìn vào vị trí ông ta chỉ, rồi nhìn ra toàn cảnh tuyến phía nam mà anh định triển khai nghi binh. Tay anh gõ lên mặt bản đồ, một hai ba bốn.
Đây là thứ anh thiếu. Lửa giả và bụi đường lừa được mắt của địch, nhưng Ca Lặc không phải người chỉ dùng mắt. Hắn sẽ sai trinh sát kiểm tra, sẽ tính số lửa, sẽ ước lượng quân số. Nếu hắn tính ra con số không khớp thì hắn sẽ biết là giả. Nhưng nếu hắn không chỉ thấy lửa mà còn nghe thấy tiếng quân hành quân vọng từ bốn phía, nếu trinh sát của hắn báo về rằng tiếng trống chiêng dội khắp thung lũng theo kiểu quân đoàn lớn di chuyển, thì dù hắn nghi ngờ hắn cũng không dám chắc, và Ca Lặc là người không đánh khi không chắc.
Anh nhớ điều đó từ những gì cô viết trong thư, từ phân tích của cô ở mặt sau bản đồ chiến trường mà Vương Hắc chuyển cho anh trước khi rời kinh thành. Cô viết rằng hắn không bao giờ liều, rằng hắn chỉ đánh khi chắc thắng. Lỗ hổng của hắn nằm ở chỗ hắn quá thông minh để liều. Anh đọc câu đó hai lần, rồi gấp thư lại, vì cô đã tìm ra lỗ hổng nhưng không có đủ quân để khai thác, còn anh có cách khai thác nhưng cần một người biết chỗ nào tiếng vọng xa nhất.
Bây giờ người đó đang đứng trước mặt anh, chỉ tay lên bản đồ. Mọi thứ khớp vào nhau theo cách mà anh đã từng giảng cho học trò ở kiếp trước: lịch sử không bao giờ lặp lại y hệt, nhưng những nguyên tắc cũ luôn đúng nếu người dùng hiểu vì sao chúng đúng chứ không chỉ nhớ chúng từng xảy ra.
"Tào Phúc."
Anh nói.
"Dẫn ta đến đó."
Anh mất hai canh giờ đi bộ qua đường mòn mà Tào Phúc dẫn. Đường nhỏ và dốc, lẫn giữa cây bụi và đá vôi, kiểu đường mà chỉ người sống ở đây hai mươi năm mới biết chỗ nào đặt chân không trượt. Vương Hắc không đi được vì tay bó bột leo dốc nguy hiểm, lão ngồi ở xe mắng thầm và chờ.
Khi đứng ở miệng thung lũng, anh hiểu tại sao Hầu gia từng dùng chỗ này.
Hai bên là vách đá vôi thoai thoải, không cao nhưng kín, tạo thành một cái phễu tự nhiên mà âm thanh đi vào thì vọng ra theo nhiều hướng, nó méo đi đủ để người nghe ở ngoài không biết nguồn âm ở đâu. Anh vỗ tay một cái, tiếng vỗ vọng lại bốn lần, mỗi lần từ một hướng khác, nghe như bốn người đứng bốn nơi cùng vỗ tay.
Anh cười một mình giữa thung lũng, kiểu cười của người vừa tìm ra đáp án bài toán mà mấy đêm không ngủ cũng chưa giải xong. Rồi anh lôi sổ tay ra, mở trang ghi chép mưu nghi binh và bắt đầu viết thêm.
Hàn Tín tăng bếp để địch tưởng quân đông. Gia Cát Lượng mở cổng thành để địch tưởng có mai phục. Trương Tuần giữ thành Tuy Dương bằng mọi thứ có trong tay, kể cả thứ địch không ngờ. Mỗi người dùng một mưu khác nhau, nhưng nguyên tắc giống nhau: biến thứ mình không có thành thứ địch tưởng mình có, và biến sự nghi ngờ của địch thành vũ khí.
Anh có ba nghìn lính, gần hai nghìn dân, một thung lũng vọng âm và một Ca Lặc đang tin rằng kinh thành loạn không thể gửi viện binh. Anh không cần Ca Lặc tin rằng viện binh đến thật, anh chỉ cần Ca Lặc không chắc viện binh không đến, vì không chắc thì hắn sẽ chia quân phòng thủ, và chia quân thì vòng vây quanh cô sẽ mỏng đi.
Anh đóng sổ tay rồi đi xuống, và khi về đến xe thì đã hoàng hôn.
Vương Hắc đợi anh bằng một nồi cháo nấu trên bếp dã chiến, cháo lão nấu bằng tay trái nên gạo chưa nở hết và mặn quá vì tay trái đong muối không quen, nhưng nóng, và anh uống hai bát vì anh chưa ăn gì từ sáng.
"Thế nào?"
Vương Hắc hỏi khi nhìn anh ăn, ngón tay trái gõ lên cán kiếm.
Anh đặt bát xuống, lau miệng bằng ống tay áo, rồi trải bản đồ ra giữa hai người.
"Ta sẽ chia dân thành ba mươi nhóm."
Anh nói, tay vẽ trên bản đồ.
"Mỗi nhóm ba người, phụ trách năm đến sáu đống lửa dọc tuyến phía nam. Đêm đốt, ngày tắt, đêm đốt lại, đốt theo lịch xê dịch vị trí mỗi đêm để trinh sát nhìn thấy doanh trại di chuyển chứ không đứng yên. Doanh trại đứng yên thì nghi, di chuyển thì hợp lý."
Vương Hắc nghe, gật đầu, mắt nheo theo kiểu ông ta đang tính trong đầu.
"Ngựa thồ của dân cho kéo cành cây chạy qua lại trên ba tuyến đường lớn dẫn từ nam lên bắc tạo bụi. Mỗi tuyến năm con ngựa, chạy đi chạy về, bụi bay nhìn từ xa như đoàn quân di chuyển. Ban đêm không chạy, ban ngày chạy, đúng nhịp quân hành quân."
"Bụi lừa được trinh sát cưỡi ngựa nhìn từ xa."
Ông ta nói, gật đầu chậm.
"Nhưng nếu Ca Lặc sai trinh sát đi gần thì sao?"
"Trinh sát đi gần sẽ nghe thấy trống."
Anh nói.
"Ở đây."
Anh chỉ vào thung lũng Tào Phúc vừa dẫn anh đến.
"Thung lũng vọng âm. Một cái trống nghe như bốn cái. Mười cái trống nghe như bốn mươi cái. Ta sẽ đặt mười bộ trống chiêng mượn từ làng vào thung lũng, và cho người đánh luân phiên theo nhịp hành quân, sáng chiều mỗi ngày. Trinh sát Ca Lặc đứng ở bất kỳ đâu trong vòng năm dặm đều nghe thấy tiếng quân hành quân từ mọi hướng, không xác định được nguồn, không biết bao nhiêu quân."
Vương Hắc im lặng rất lâu. Mắt ông ta nhìn vào bản đồ nhưng anh biết ông ta không nhìn bản đồ nữa, ông ta đang nhìn vào cái mưu kế vừa được bày ra trước mắt. Và ông ta đang tính nó có khả thi không.
"Lửa lừa mắt."
Vương Hắc nói chậm, đếm trên ngón tay.
"Bụi lừa mắt, trống lừa tai. Cộng lại Ca Lặc nhận ba nguồn tin cùng nói một chuyện: có quân ở phía nam."
Ông ta dừng.
"Ba nguồn tin nói cùng một chuyện thì khó bác bỏ lắm. Đúng kiểu chuyện trong sách quân sư kể."
"Đúng kiểu chuyện trong sách."
Anh nói.
"Ta không phát minh gì mới. Gia Cát Lượng đã dùng thành trống, Hàn Tín đã tăng bếp, Trương Tuần đã giữ thành bằng mọi thứ trong tay. Ta chỉ trộn cả ba lại và cho phù hợp địa hình."
Vương Hắc nhìn anh, mắt ông ta hơi lạ, kiểu mắt chưa từng nhìn ai như vậy, kiểu nửa bất ngờ nửa thán phục mà ông ta không chịu thừa nhận thành lời.
"Quân sư."
Ông ta nói, ngón tay gõ lên thành xe.
"Lão phu đánh trận ba mươi năm chưa thấy ai đánh kiểu này."
"Kiểu thầy giáo."
Anh nói và cười nhẹ.
Vương Hắc không cười. Ông ta nhìn anh thêm một nhịp rồi hỏi:
"Nhưng Ca Lặc thông minh. Hắn sẽ nghi ngờ."
"Hắn sẽ nghi."
Anh gật đầu.
"Ta đã tính chuyện đó. Ca Lặc là người không bao giờ đánh khi không chắc. Hắn không cần tin viện binh đến thật, hắn chỉ cần không chắc là không có, và không chắc thì hắn sẽ chia quân phòng thủ phía nam. Chia quân phòng thủ thì vòng vây quanh Chinh Vũ mỏng đi. Vòng vây mỏng đi thì cô ấy sẽ nhìn thấy kẽ nứt."
"Và tướng quân không bỏ lỡ kẽ nứt."
Vương Hắc nói nhưng có gì đó trong cách ông ta nói câu đó, gì đó kiêu hãnh, vì ông ta biết Chinh vũ từ nhỏ và ông ta biết cô đánh trận thế nào khi thấy cơ hội.
Anh không nói thêm. Vương Hắc gật đầu nặng một cái.
Đêm đó anh họp người dân lại. Không phải họp kiểu tướng quân họp quân, vì anh không phải tướng quân và họ không phải quân sĩ. Anh đứng trước khoảng hai nghìn người ngồi trên đất, ánh lửa trại hắt lên mặt từng người, mặt sạm nắng. Mắt họ nhìn anh chăm chú theo kiểu mắt nhìn thầy giáo chứ không phải nhìn chỉ huy.
Anh nói chậm, nói rõ, bằng giọng mà mấy năm trước anh đã dùng khi giảng bài ở trường Thanh Phong, giọng không lên cao không xuống thấp, giọng của người tin rằng người nghe đủ thông minh để hiểu nếu mình giải thích đủ rõ.
"Các người không đánh."
Anh nói.
"Tuyệt đối không đánh. Nếu thấy quân địch thì chạy, chạy là đúng, chạy là giúp ích, đứng lại là chết và chết thì không giúp gì."
Họ gật đầu, không ai nói gì, vì họ biết anh không nói suông và anh không nói thừa.
"Việc các người làm là đốt lửa."
Anh tiếp.
"Mỗi nhóm ba người, nhận vị trí trên bản đồ, đêm đốt năm sáu đống lửa, đốt to, đốt đều, xê dịch vị trí mỗi đêm. Các người là lửa trại của một đạo quân ba vạn người mà đạo quân đó không tồn tại. Nhóm ngựa kéo bụi, ai có ngựa thồ đăng ký với Tào Phúc. Nhóm trống chiêng, ai biết đánh thì đăng ký riêng, vào thung lũng đánh theo nhịp mà ta dạy."
Một thanh niên ở hàng đầu giơ tay, anh nhận ra cậu, học trò cũ ở Thanh Phong, tên A Sơn, hồi đó mười ba tuổi còn giờ đã mười sáu, vai đã rộng hơn anh.
"Thầy, nếu lửa giả mà quân Hung Nô tới xem thì sao?"
"Nếu họ tới xem thì các người chạy trước khi họ tới."
Anh nói.
"Các người biết đất này hơn họ, biết đường nào chạy, biết bụi cỏ nào đủ kín, biết khe đá nào giấu được người. Đó là lý do ta cần các người chứ không cần lính, vì lính kinh thành không biết đất này còn các người thì biết."
A Sơn gật đầu, mặt nghiêm, kiểu mặt nghiêm của trẻ con khi được giao việc người lớn và quyết tâm không làm sai.
Hai ngày sau, anh triển khai. Hai ngày đó anh gần như không ngủ, vì mỗi nhóm dân phải được giao vị trí cụ thể trên bản đồ, phải được dặn dò chi tiết cách đốt lửa sao cho nhìn từ xa giống lửa trại quân sự chứ không giống lửa nấu cơm, phải được chỉ đường thoát nếu bị phát hiện. Tào Phúc dẫn nhóm trống chiêng vào thung lũng tập đánh. Anh đứng ở ngoài nghe, chỉnh nhịp, bảo nhanh hơn, chậm lại, dừng, đánh tiếp, cho đến khi tiếng trống vọng ra từ thung lũng nghe đủ giống tiếng hành quân mà anh đã giảng và mô tả cho học trò bao nhiêu lần ở kiếp trước.
Vương Hắc ngồi trên xe nghe, tay trái gõ nhịp theo, rồi gật đầu.
"Được."
Ông ta nói.
"Nghe giống. Không giống lắm, nhưng đủ giống rồi. Trinh sát nghe từ xa sẽ không phân biệt được."
"Đủ là được."
Anh nói.
"Ta không cần hoàn hảo, ta cần Ca Lặc nghi ngờ."
Đêm thứ nhất, anh đứng trên gò đất phía nam, cách tuyến tiền phương của Ca Lặc khoảng hai mươi dặm, nhìn ra phía trước và phía sau.
Phía trước, tối đen, không thấy gì ngoài gió thổi qua cỏ thảo nguyên và tiếng côn trùng. Đâu đó ngoài kia, trong bóng tối, Ca Lặc đang siết vòng vây quanh cô, và cô đang giữ đồn Bạch Lộ bằng một đội quân đã đánh liên tục mà không có một ngày nghỉ.
Phía sau, dọc tuyến phía nam, lửa bắt đầu cháy từng đống như những ngôi sao rơi xuống mặt đất rồi bám rễ ở đó, sáng lên trong bóng tối, cách nhau khoảng đều đặn, trải dài theo đường cong của địa hình mà anh đã vẽ trên bản đồ. Ba mươi nhóm, mỗi nhóm sáu đống lửa, gần hai trăm đống lửa rải dọc hơn ba mươi dặm, nhìn từ xa như doanh trại của một đạo quân lớn đóng qua đêm trước khi tiến lên phía bắc.
Anh nhìn lửa cháy và tay hơi run. Không phải run vì lạnh, dù gió biên cương đêm này cắt da. Run vì anh biết rằng nếu Ca Lặc không tin, nếu hắn nhận ra lửa giả và không chia quân, thì cô sẽ chết trong vòng vây mà anh không cứu được. Tất cả những gì anh làm, trường học, sách, lúa, bản đồ, sẽ chỉ là danh sách những việc một thầy giáo từng làm trước khi mất vợ.
Anh nắm chặt tay, ép tay ngừng run, rồi thở ra. Sợ thì sợ, nhưng sợ không phải lý do để dừng. Anh đã dạy điều đó cho học trò ở kiếp trước khi các em sợ đi thi. Anh nói rằng sợ là bình thường, sợ nghĩa là các em đang làm thứ quan trọng, mà thứ quan trọng thì đáng để sợ. Bây giờ anh đang áp dụng bài giảng của chính mình vào đời thật, và đời thật thì đáng sợ hơn phòng thi rất nhiều.
Sáng hôm sau, ngựa kéo bụi bắt đầu chạy trên ba tuyến đường lớn, và trong thung lũng, trống chiêng bắt đầu đánh.
Anh đứng ở miệng thung lũng nghe và lần này không cần chỉnh nữa, vì dân đã quen nhịp. Tiếng trống vọng ra bốn hướng, trộn lẫn với tiếng chiêng, tạo thành một bức tường âm thanh lan khắp cánh đồng, nghe từ xa như đoàn quân đang hành quân trong thung lũng, không biết bao nhiêu nghìn, không biết từ hướng nào, chỉ biết rất đông.
Anh nhắm mắt và lắng nghe. Anh cố nghe bằng tai của Ca Lặc, cố đặt mình vào vị trí trinh sát Hung Nô cưỡi ngựa ở ngoài cánh đồng, nghe thấy trống từ mọi phía, nhìn thấy bụi mù trên đường lớn, nhìn thấy lửa trại ban đêm. Ba nguồn tin, cả ba cùng nói một chuyện. Anh tự hỏi mình nếu là Ca Lặc thì mình có tin không.
Hắn sẽ không tin, nhưng không chắc là giả. Và không chắc là đủ rồi.
Chiều ngày thứ hai, Vương Hắc nhận được tin trinh sát.
"Quân Hung Nô phía bắc có động."
Ông ta nói, giọng kiểm soát cẩn thận, kiểu giọng của người không muốn lộ ra nét mặt vui nào sớm.
"Trinh sát báo cánh quân phía đông nam của Ca Lặc rút bớt khoảng hai nghìn kỵ binh về phía nam. Hướng về phía mình."
Anh nghe xong, im lặng một lúc rồi thở ra, thở dài và chậm, kiểu thở của người nín thở quá lâu.
Ca Lặc chia quân. Hắn đã nghi ngờ, hắn không tin hoàn toàn. Nhưng hắn không dám không phòng, vì nếu viện binh đến thật mà hắn không phòng thì hắn kẹt giữa hai mặt trận. Ca Lặc là người không bao giờ để mình kẹt giữa hai mặt trận. Hắn chia hai nghìn kỵ binh để chặn "viện binh" phía nam, và hai nghìn kỵ binh đó rút ra khỏi vòng vây quanh cô.
Sau cùng vòng vây mỏng đi rồi.
"Lão."
Anh nói với giọng nhẹ, nhưng mắt anh sáng theo cách mà Vương Hắc chưa từng thấy ở anh. Cái sáng không phải vui mà là sắc, kiểu sắc của người vừa đặt quân cờ đúng vị trí và đang chờ đối thủ đi nước tiếp theo.
"Cần bao lâu để tin truyền đến đồn Bạch Lộ rằng vòng vây mỏng đi?"
Ông ta nhìn anh và hiểu ngay.
"Tướng quân không cần ta báo. Cô ấy nhìn thấy trước ta."
"Ta biết."
Anh nói.
"Ta chỉ muốn chắc chắn."
Vương Hắc gật đầu rồi nói thêm, giọng trầm, nói như nói với mình:
"Tướng quân không bỏ lỡ kẽ nứt nào. Ba mươi năm lão chưa thấy ai nắm thời cơ nhanh bằng cô ấy."
Anh không nói gì. Anh nhìn ra phía bắc, phía mà cô đang ở, và anh biết rằng bây giờ mọi thứ nằm trong tay cô. Anh đã làm phần của mình: đốt lửa giả, gây bụi, đánh trống trong thung lũng, lừa Ca Lặc chia quân, tạo kẽ nứt trong vòng vây. Phần còn lại là của cô.
Nhưng anh không dừng ở đó. Đêm thứ hai, anh ra lệnh xê dịch toàn bộ lửa trại lên phía bắc mười dặm, đúng như kế hoạch từ đầu, tạo ấn tượng đạo quân đang tiến, không đứng yên. Sáng hôm sau, ngựa kéo bụi chạy trên tuyến mới, gần hơn vị trí Ca Lặc chia quân chặn. Trống trong thung lũng đánh dồn hơn, nhanh hơn, theo nhịp quân gấp rút hành quân.
Anh muốn Ca Lặc tin rằng đạo quân phía nam đang tiến nhanh, rằng thời gian hắn có không nhiều, rằng nếu hắn không giải quyết xong Chinh Vũ trước khi viện binh đến thì hắn sẽ bị kẹp giữa. Áp lực đó sẽ buộc hắn phải chọn giữa việc hoặc dồn toàn lực đánh Chinh Vũ ngay và rút thêm quân từ tuyến phòng thủ phía nam, hoặc rút lui.
Cả hai cách anh đều thắng.
Chiều ngày thứ ba, tin thứ hai đến.
Ca Lặc rút thêm quân. Không phải hai nghìn nữa, lần này ít hơn, khoảng một nghìn, nhưng hắn rút từ cánh bao vây phía tây, cánh đang áp sát đồn Bạch Lộ. Vòng vây hở một khoảng ở tây nam, khoảng mà kỵ binh có thể xông qua nếu đủ nhanh và đủ liều.
Vương Hắc nghe tin, mắt ông ta hơi đỏ lên theo cách mà anh chưa từng thấy ở ông. Kiểu đỏ không phải vì buồn mà vì ông ta đang nhìn thấy thứ mà ông đợi, thứ mà ba mươi năm cầm kiếm ông ta đã học cách nhận ra trước khi nó biến mất.
"Hở rồi."
Vương Hắc nói hai chữ, âm giọng nặng.
Anh gật đầu.
"Cô ấy nhìn thấy chưa?"
Ông ta nhìn anh rồi cười, cười bằng mắt không bằng miệng, kiểu cười của người tin vào ai đó mà không cần giải thích vì sao.
"Quân sư."
Vương Hắc nói.
"Tướng quân nhìn thấy trước cả lão phu."
Đêm đó anh ngồi trong lều, một mình, nghe gió thổi ngoài vải bạt, nghe tiếng trống trong thung lũng vọng ra xa. Anh biết rằng đâu đó ngoài kia, cách anh vài chục dặm, cô đang đứng trên tường đồn Bạch Lộ nhìn xuống, nhìn vào khoảng hở ở tây nam mà Ca Lặc vừa để lại, và cô đang tính toán.
Cô không biết lửa là giả, cô không biết anh ở đây. Cô chỉ biết rằng vòng vây bỗng mỏng đi, rằng có kẽ nứt, và cô là người không bỏ lỡ kẽ nứt.
Anh muốn gửi thư cho cô, muốn nói rằng anh ở đây, rằng anh đã đến, rằng lửa đó là anh đốt cho cô, rằng mỗi đống lửa giả kia là một câu nói mà anh không thể gửi bằng thư vì thư không đến được giữa vòng vây. Nhưng anh không gửi được, và cũng không nên gửi, vì nếu cô biết lửa là giả thì cô sẽ biết viện binh là giả, và biết viện binh là giả thì cô sẽ thận trọng hơn, sẽ không tung toàn lực. Lúc này đây, cô cần tung toàn lực.
Mũi kiếm thì không nên biết rằng bàn tay nắm chuôi đang run.
Anh tắt đèn dầu và nằm xuống. Bên ngoài lửa giả vẫn cháy, trống vẫn vọng, bụi đường vẫn bay, và đâu đó phía bắc, cô đang nhìn kẽ nứt.
Anh nhắm mắt và lần đầu tiên trong mười ngày, anh ngủ được, vì phần của anh đã xong. Phần còn lại thuộc về cô, thuộc về người mà anh tin tưởng hơn tin chính mình.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.