Chương 92: Thần Tốc
Anh không ngủ cả đêm. Chính biến dẹp xong, Thái Hậu an toàn, Ngũ Hoàng Tử bị giam, kinh thành dần yên tĩnh trở lại dưới ánh bình minh. Mọi người xung quanh anh đều thở phào, Phúc Bá lau nước mắt, Lục Kính Đường đứng nghiêm ở cổng cung, Chu Đình Nghiêu ngồi xuống uống chén trà đầu tiên sau một đêm không ngồi, nhưng Lan Chu không thở phào vì anh đang đếm.
Anh đang đếm giờ. Từ kinh thành đến biên cương, ngựa trạm chạy nhanh nhất mất năm ngày. Quân hành quân thường mất mười hai đến mười lăm ngày. Bức thư cuối cùng của cô gửi về đã hơn hai tuần và hai tuần trước cô viết "vẫn giữ được" bằng giọng của người gần không giữ được. Mỗi ngày anh chậm là một ngày cô ít thêm thời gian.
Anh đi thẳng vào hậu cung, xin gặp Thái Hậu. Bà đang ngồi ở bàn, Thất Hoàng Tử ngủ trên giường phía sau, mặt bà mệt nhưng mắt tỉnh. Khi anh bước vào bà đã biết anh đến vì chuyện gì trước khi anh mở miệng, vì đêm qua bà đã gật đầu với anh ở hành lang. Cái gật đầu đó không chỉ là cám ơn mà còn là bà đã tin tưởng anh đủ để nghe bất kỳ điều gì anh sắp nói.
"Biên cương."
Anh nói.
"Ta biết."
Bà đáp.
"Ngũ Hoàng Tử chặn viện binh bao lâu rồi?"
"Bốn tháng. Chinh Vũ đang bị Ca Lặc dồn tổng lực. Nếu không có quân tiếp viện trong mười ngày, thần không chắc cô ấy giữ được."
Thái Hậu nhìn anh thật lâu, nhìn bằng mắt của người vừa bị giam suốt đêm mà không sụp, người đã ôm con ngủ trên đùi mình giữa chính biến mà sáng ra vẫn ngồi thẳng lưng ở bàn làm việc. Đơn giản vì bà là Thái Hậu và Thái Hậu không được gục dù đêm qua bà suýt chết.
"Ngươi muốn tự đi."
Bà nói, không phải hỏi.
"Thần phải đi. Quân trong kinh thành không còn nhiều, phần lớn đã theo Chinh Vũ ra biên cương hoặc bị Ngũ Hoàng Tử điều tản đi các nơi. Thần gom được khoảng ba nghìn, cộng hậu cần. Chưa đủ nửa số quân Ca Lặc có, nhưng thần không cần đủ, thần cần nhanh."
Bà không hỏi anh sẽ đánh thế nào với ba nghìn quân chống lại một đội quân Hung Nô đông gấp đôi, vì bà đã thấy anh lật chính biến bằng mười bảy người già cầm kiếm và một ông tướng giả chết, nên bà không nghi ngờ anh biết cách dùng ba nghìn người cho đúng.
Bà đứng dậy, đi đến bàn, ngồi xuống và cầm bút. Sau đó bà viết sắc lệnh điều binh, ký tên, đóng ấn. Mực chưa kịp khô bà đã đưa cho anh.
"Đi nhanh."
Thái Hậu nói, rồi nói thêm với giọng nhẹ hơn một chút.
"Mang cô ấy về."
Anh nhận sắc lệnh, cúi đầu và quay đi.
Ra khỏi cung, anh gặp Phúc Bá ở cổng. Lão đứng đó, mắt còn đỏ, nhưng lưng thẳng. Khi thấy anh đi nhanh ra cổng thì lão không hỏi đi đâu, lão chỉ bước theo, vì lão đã nói rồi: anh đi đâu thì lão đi đó.
"Phúc Bá."
Anh nói, vừa đi vừa nói, không dừng dù chỉ nửa giây.
"Lão về phủ thu xếp lương khô, thuốc, bản đồ biên cương trong ngăn bàn, hộp gỗ thư của cô để nguyên, giao cho Tiểu Hà cất. Lão nói Hầu gia rằng tôi đi biên cương, nhạc phụ cứ ở phủ dưỡng bệnh, Tiểu Hà sẽ lo."
Phúc Bá ghi nhận từng câu, gật đầu, rồi hỏi:
"Cô gia đi một mình?"
"Ba nghìn quân."
Anh nói.
Lão không bình luận con số. Lão chỉ hỏi thêm một câu:
"Lão có đi không?"
Anh dừng lại nhìn lão. Lão sáu mươi tuổi, đêm qua thức trắng, mắt đỏ, tay vẫn còn vết bụi đường từ lúc cầm đuốc chạy khắp cung cấm. Thế mà bây giờ lão đang hỏi anh lão có được đi ra biên cương đánh trận không, bằng giọng bình thường như hỏi sáng nay nấu cháo loại gì.
"Lão ở lại trông Hầu gia."
Anh nói nhẹ.
"Ông ấy vừa mặc giáp xong đêm qua, cơ thể chưa hồi phục hẳn nên cần người. Và Tiểu Hà cần lão hơn cần tôi."
Phúc Bá nhìn anh và im lặng một lúc, rồi lão gật đầu. lão không vui nhưng lão hiểu. Sau đó lão quay đi, bước nhanh, và trước khi khuất vào ngõ phố lão quay lại nói:
"Cô gia nhớ ăn đủ bữa. Đừng quên."
Anh cười nhẹ. Phúc Bá dặn anh ăn cơm trước khi anh đi đánh trận, y như cách lão dặn anh ăn cơm mỗi ngày suốt mấy năm qua. Cái "y như" đó mới là thứ nặng, vì nó nghĩa là lão tin anh sẽ về.
Quân sĩ tập hợp ngoài cổng thành phía bắc vào giữa buổi sáng. Ba nghìn lính, trông không giống ba nghìn vì họ xếp hàng thưa và không phải ai cũng mang giáp đầy đủ. Phần lớn là lính đồn trú kinh thành, chưa từng ra biên cương, chưa từng thấy kỵ binh Hung Nô ngoài đời thật. Đoàn hậu cần phía sau gồm mười hai xe lương, tám xe thuốc và một đội quân y mà anh nhất quyết mang theo dù viên tướng phụ trách hậu cần nói rằng quân y nặng nề và chậm chạp. Anh nhìn ông ta và nói rằng người chết thì nhanh hơn quân y nhiều, nên nhanh chậm không phải vấn đề. Viên tướng không nói gì thêm.
Anh đang đứng ở đầu đoàn quân kiểm tra lần cuối thì nghe thấy tiếng xe ngựa phía sau kẽo kẹt và tiếng ai đó mắng phu xe "nhanh lên, chiến trường có chờ ngươi không".
Anh quay lại. Vương Hắc ngồi trên xe ngựa kéo vải bạt, tay phải bó bột từ cùi chỏ xuống cổ tay, quấn vải trắng đã ngả vàng vì mấy tuần không thay, tay trái cầm kiếm đặt ngang đùi. Ông ta mặc giáp, nhưng giáp chỉ mặc được nửa bên trái vì bên phải vướng tay bó bột. Nửa bên phải phập phồng vì không buộc dây được, trông vừa đáng sợ vừa đáng thương, kiểu lão tướng giận dữ vì cơ thể không nghe lời ông ta nữa.
Đào Nương đứng ở cổng thành nhìn theo, tay cầm cái bọc vải mà Vương Hắc không chịu mang vì "bọc gì, lão phu đi đánh giặc không phải đi chợ". Nhưng bà ta vẫn nhét vào xe trước khi ông ta kịp ném ra.
"Quân sư."
Vương Hắc gọi bằng giọng gằn, kiểu giọng của người đang đau mà không chịu thừa nhận.
"Lão phu nghe nói quân sư đi biên cương mà không nói cho ta biết."
Anh nhìn lão, nhìn tay bó bột, nhìn giáp mặc nửa bên, nhìn cây kiếm cầm tay trái trong khi Vương Hắc thuận tay phải. Anh biết rằng bây giờ dù anh nói gì thì ông ta cũng không quay về, vì Vương Hắc là kiểu người mà khi đã leo lên xe rồi thì ông trời bảo xuống ông ta cũng không xuống.
"Vương tướng quân cầm kiếm tay đó được không?"
Anh hỏi.
"Cầm được."
Vương Hắc đáp với tốc độ nhanh quá mức cần thiết.
"Tay trái?"
"Tay trái."
Ông ta thừa nhận, hơi cau mày.
"Nhưng ta không cần đánh, ta cần bàn. Quân sư biết mưu, lão phu biết trận. Quân sư thiếu người biết về chiến trận."
Anh im một nhịp vì Vương Hắc nói đúng. Anh biết lịch sử, biết mưu kế, biết địa hình qua bản đồ, nhưng anh chưa từng đứng trên chiến trường thật sự, chưa từng nghe tiếng vó ngựa nghìn con chạy cùng lúc ngoài đời thật, chưa từng ngửi mùi máu trộn đất trộn mồ hôi trên cánh đồng sau trận. Anh cần một người biết mùi đó và người đó đang ngồi trên xe ngựa nhìn anh bằng mắt không chấp nhận bị bỏ lại.
"Lên xe."
Anh nói.
Vương Hắc cười, cười kiểu người vừa thắng một trận nhỏ mà vui hơn thắng trận lớn, rồi dịch sang bên nhường chỗ. Anh leo lên ngồi cạnh ông ta và rút bản đồ biên cương ra trải trên đùi hai người. Xe ngựa chạy, bản đồ rung theo nhịp bánh xe và hai người bắt đầu nói chuyện.
Hình ảnh đó đi ngược lại tất cả những gì người ta tưởng tượng về một đoàn quân ra trận: không có tướng cưỡi ngựa oai phong ở đầu đoàn, không có cờ xí bay phấp phới, không có hịch xuất quân đọc trước ba quân. Chỉ có một tên thư sinh và một lão tướng tay bó bột ngồi co lại trong xe ngựa kéo vải bạt, trải bản đồ trên đùi, tay chỉ tay gạch, tranh luận về đường nào nhanh nhất đến biên cương trong khi xe xóc và lão tướng nhăn mặt mỗi khi cái tay bó bột va vào thành xe.
Ngày thứ hai, đoàn quân đi qua huyện Thanh Sơn nằm ở rìa vùng biên cương. Lan Chu nhận ra mình đang đi trên chính con đường mà ba năm trước anh cưỡi ngựa đi khảo sát đất đai lần đầu, con đường mà hai bên là ruộng bỏ hoang và dân chạy giặc, nhà cửa đóng im, chợ trống không. Bây giờ hai bên đường là ruộng lúa đã gặt xong, gốc rạ vàng đều tăm tắp, nhà cửa có khói bếp, chợ nhỏ đầu huyện còn vài người bán rau buổi sáng trước khi nghe tin có quân đi qua mà vội vàng dọn hàng.
Anh nhìn cánh đồng rạ và nhớ rằng giống lúa đó là giống mà anh gợi ý cho lý trưởng Thanh Sơn thử trồng từ năm kia, giống ngắn ngày chịu hạn tốt mà anh nhớ từ bài giảng nông nghiệp cổ đại trong sách giáo khoa kiếp trước. Hồi đó lý trưởng nhìn anh bằng mắt nửa tin nửa ngờ, kiểu mắt nhìn thằng rể con nhà quan mang sách ra đồng bảo nông dân trồng khác đi, rồi ông thử một mảnh nhỏ vì "thử cũng không chết ai". Kết quả mảnh nhỏ đó thành cánh đồng lúa bây giờ.
Đoàn quân dừng nghỉ ở đầu huyện, lính đổ nước, ngựa ăn cỏ. Anh xuống xe đi bộ qua chợ, duỗi chân vì ngồi xe lâu quá, và một bà bán rau nhận ra anh.
"Thầy giáo Lan Chu?"
Anh quay lại. Bà khoảng năm mươi, mặt sạm nắng, tay còn cầm bó hành. Bà nhìn anh bằng mắt vừa ngỡ ngàng vừa mừng, kiểu mắt nhìn người quen lâu ngày gặp lại ở nơi không ngờ.
"Bác là..."
Anh hỏi.
"Mẹ thằng Hùng, học trò ở trường của thầy ở Thanh Phong năm ngoái."
Bà nói nhanh.
"Thầy đi đâu vậy? Mang quân đi đâu?"
"Biên cương."
Anh nói.
"Chinh Vũ tướng quân đang cần viện binh."
Bà nghe xong thì im lặng, nhìn đoàn quân phía sau, nhìn lính đang nghỉ, nhìn xe ngựa Vương Hắc. Rồi bà quay đi, chạy vào trong chợ, và anh nghe thấy tiếng bà gọi ai đó, rồi tiếng người nói chuyện ồn và nhanh, kiểu người truyền tin cho nhau trong chợ nhỏ.
Nửa canh giờ sau, khi đoàn quân bắt đầu chuyển bánh, anh nhìn ra phía sau qua khe vải bạt và thấy khoảng ba chục người đi theo. Tất cả đều là dân chúng, không phải binh lính. Đàn ông là chủ yếu, vài người phụ nữ, mang cuốc mang liềm, có người mang cung săn, có người chỉ mang gậy tre. Mặt họ sạm nắng, lưng quen cúi vì bao nhiêu năm cúi xuống ruộng, nhưng chân bước nhanh và mắt nhìn về phía đầu đoàn quân nơi xe ngựa kéo vải bạt đang chạy.
Anh nhìn Vương Hắc. Lão cũng đang nhìn ra phía sau, mắt hơi nheo lại.
"Dân đi theo."
Ông ta nói với giọng bằng phẳng, nhưng lông mày nhíu nhẹ, kiểu lão tướng ba mươi năm biết rằng dân theo quân là chuyện phức tạp chứ không chỉ cảm động.
"Lão nghĩ gì?"
Anh hỏi.
"Dân không biết đánh."
Vương Hắc nói.
"Dân ra trận là chết."
"Nếu họ không đánh?"
Ông ta nhìn anh, nhíu mày hơn.
"Không đánh thì theo làm gì?"
Anh không trả lời ngay. Anh nhìn lại bản đồ, nhìn tuyến biên cương dài hàng trăm dặm, nhìn những cánh đồng trống, những con đường mòn, những ngọn đồi thấp mà anh đã đánh dấu bằng mực đỏ trên bản đồ từ lúc ngồi trong thư phòng ở kinh thành. Trong đầu anh một kế hoạch đã bắt đầu thành hình từ trước khi anh rời kinh thành, kế hoạch mà ba nghìn lính không đủ để thực hiện nhưng ba nghìn lính cộng thêm dân chúng thì có thể.
"Lão từng nghe chuyện Gia Cát Lượng gảy đàn trên thành trống chưa?"
Anh hỏi.
Lão nhìn anh bằng mắt nửa tò mò nửa cảnh giác.
"Chuyện trong sách. Quân sư định đem chuyện trong sách ra đánh trận thật?"
"Chuyện trong sách có trước, trận thật có sau."
Anh nói.
"Gia Cát Lượng, Hàn Tín, Trương Tuần, ai cũng đánh bằng thứ mình có chứ không đánh bằng thứ mình muốn có. Ta có ba nghìn lính, không đủ đánh Ca Lặc. Nhưng Ta có một thứ Ca Lặc không có là dân."
Vương Hắc im lặng. Ông ta gõ ngón tay trái lên thành xe, kiểu gõ khi ông ta đang nghĩ, nhịp không đều, nhanh chậm nhanh chậm.
"Dân biết gì?"
Ông ta hỏi, giọng đã bớt cảnh giác.
"Dân biết đất. Biết gốc cây nào khuất tầm nhìn, biết bụi cỏ nào đủ cao để giấu lửa, biết con đường mòn nào ngựa chạy tạo bụi nhiều nhất, biết chỗ nào đặt trống thì vang xa nhất."
Anh nhìn ông ta.
"Ta không cần dân đánh. Ta cần dân đốt lửa."
Vương Hắc nhìn anh rất lâu, lâu đến mức xe ngựa xóc qua một ổ gà mà ông ta không nhăn mặt dù cái tay bó bột va vào thành xe. Vì rằng ông ta đang nhìn anh theo kiểu ông ta chưa từng nhìn ai như vậy bao giờ, kiểu người đánh trận ba mươi năm bỗng nghe thấy cách đánh mà mình chưa từng nghĩ tới, không phải vì nó mới mà vì nó đơn giản đến mức khó tin.
"Quân sư."
Vương Hắc nói chậm.
"Lão phu đánh trận ba mươi năm chưa thấy ai đánh kiểu này."
Anh cười.
"Kiểu thầy giáo."
Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm, số người theo đoàn quân tăng dần. Tin tức lan theo cách tin vẫn lan ở vùng biên cương: từ miệng người này sang tai người kia, qua chợ, qua giếng nước, qua hàng rào giữa hai nhà, qua tiếng gọi nhau ngoài đồng lúc chiều.
"Thầy giáo Lan Chu đi biên cương."
"Thầy giáo nào?"
"Thầy giáo trường Thanh Phong, người dạy con nhà lý trưởng đọc chữ, người đem giống lúa mới về, người viết cuốn sách dạy trồng trọt mà lão Bảy ở đầu xóm giữ một bản."
"Ông ấy đi đánh giặc?"
"Ông ấy đi cứu Tầm tướng quân."
Họ đến từng tốp. Ba người ở đầu huyện, năm người ở cuối huyện, bảy người ở ngã ba, mười người ở bến đò. Dân cày, thợ rèn, người buôn nhỏ, con em binh sĩ đang đóng ở biên cương, học trò cũ đã lớn giờ thành thanh niên vai rộng tay chai mà vẫn gọi anh là "thầy". Không ai giỏi võ, không ai mang giáp, nhưng số lượng đông. Mỗi người trong số họ biết vùng đất này như biết lòng bàn tay mình, từng gốc cây, từng khe suối, từng con đường tắt mà bản đồ quân sự không vẽ vì bản đồ quân sự do người kinh thành vẽ.
Anh không từ chối ai. Mỗi lần có nhóm mới đến, anh xuống xe, đứng trước mặt họ, nói ngắn gọn và rõ ràng, nói bằng giọng mà mấy năm trước anh đã dùng khi đứng trước lớp học ở Thanh Phong lần đầu tiên.
"Đừng đánh. Nghe lệnh ta."
Năm chữ và mọi người gật đầu. Không ai hỏi thêm, vì họ theo anh không phải vì anh là tướng quân hay quan lớn, mà vì anh là người đã đến vùng đất của họ ba năm trước khi không ai thèm đến, đã dạy con họ đọc chữ, đã đem giống lúa mới về, đã ngồi ở nhà lý trưởng uống trà nói chuyện mùa vụ đến khuya, đã viết sách rồi phát miễn phí, đã nhớ tên từng người dù anh chỉ gặp họ một lần. Với họ anh là thầy giáo Lan Chu và thầy giáo bảo nghe thì họ nghe.
Đến ngày thứ bảy, khi đoàn quân đi qua thị trấn cuối cùng trước khi vào vùng chiến sự, Vương Hắc ngồi trên xe đếm người phía sau, rồi quay lại nhìn anh.
"Ba nghìn lính."
Ông ta nói.
"Cộng gần hai nghìn dân."
Anh gật đầu.
"Năm nghìn."
Vương Hắc nói với giọng lạ, giọng nửa cười nửa lắc đầu, kiểu giọng của người không tin mình đang thấy nhưng cũng không phủ nhận.
"Lão phu theo Hầu gia ba mươi năm, mỗi lần ra trận đều phải huy động, cưỡng bức, ép dân đi , , , dân giấu con cái chạy, chưa bao giờ thấy dân tự theo. Quân sư làm cái gì mà họ theo?"
Anh nhìn ra phía sau xe, nhìn đoàn người dài ngoằng trên con đường đất, lính mặc giáp lẫn với dân mặc áo nâu, giáo lẫn với cuốc, kiếm lẫn với liềm, trông không giống đội quân nào mà bất kỳ cuốn binh thư nào mô tả. Nhưng họ đang đi và đi nhanh, đang đi về phía biên cương nơi có người đang chờ.
"Ta dạy học."
Anh nói nhẹ.
"Chỉ vậy."
Vương Hắc nhìn anh, rồi nhìn ra đoàn người phía sau, rồi quay lại và lắc đầu cười. Ông ta không nói gì thêm nhưng ông ta ngồi thẳng lưng hơn trên xe, cây kiếm tay trái nắm chặt hơn. Cái cách ông ta nhìn về phía trước đã khác: không phải nhìn kiểu người đi theo bảo vệ nữa, mà là nhìn kiểu người đi cùng.
Đêm trước khi đến vùng chiến sự, anh ngồi trong lều tạm một mình. Vương Hắc ngủ ở xe vì ông ta nói giường lều cứng hơn sàn xe, nhưng thực ra vì cái tay bó bột đau hơn về đêm và ông ta không muốn ai thấy ông ta nhăn mặt. Binh lính ngủ quanh lửa trại, dân ngủ bìa rừng, gió biên cương thổi qua khe lều lạnh và khô, mang theo mùi cỏ thảo nguyên mà anh đã quên từ lần cuối rời biên cương.
Anh trải bản đồ ra trước mặt, đặt bên cạnh cuốn sổ tay, mở trang ghi chép mưu kế nghi binh mà anh đã viết từ ở kinh thành. Trương Tuần, Gia Cát Lượng, Hàn Tín, ba cái tên từ ba thời đại khác nhau, mỗi người đều đánh bằng thứ mình có chứ không đánh bằng thứ mình muốn có. Anh có ba nghìn lính và hai nghìn dân. Anh cần Ca Lặc tin rằng anh có ba vạn.
Tay anh gõ nhẹ lên mặt bản đồ, một hai ba bốn.
Chưa đủ. Lửa giả và bụi đường lừa được lính trinh sát, nhưng Ca Lặc không phải lính trinh sát. Hắn thông minh, hắn sẽ nghi ngờ, hắn sẽ tính toán. Anh cần thêm một thứ nữa để hắn không chỉ nghi mà phải tin, và thứ đó anh chưa tìm ra, chưa ghép xong, đang nằm đâu đó trong đống dữ kiện mà anh chưa kịp nhìn thấy vì xe xóc quá và mắt anh đã bắt đầu mờ vì bảy ngày không ngủ đủ giấc.
Anh đóng sổ tay lại, tắt đèn dầu và nằm xuống. Khi nhắm mắt, anh thấy ba chữ viết bằng mực loãng trên giấy vàng "vẫn giữ được".
Ngày mai anh sẽ biết ba chữ đó còn đúng không.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.