Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 63: Sứ Giả Thảo Nguyên

Đăng: 19/07/2026 00:06 2,365 từ 4 lượt đọc

Đoàn sứ giả Hung Nô vào triều đường đúng giờ vào giờ Mão. Anh đứng ở hàng cuối trong số quan văn phẩm cấp thấp, vị trí của người mới được sắc phong chưa đầy hai tháng, nhìn về phía trước. Hàng quan văn, hàng quan võ, rồi khoảng trống giữa hai dãy, rồi cửa lớn cuối sảnh đường mở ra. Bên ngoài trời còn lạnh theo kiểu lạnh đầu đông không có nắng.

Bọn họ bước vào. Anh đếm được mười bốn người. Chín người theo hầu, trang phục gọn, không mang vũ khí, bước đi của người quen đi xa trên ngựa hơn đi bộ trong nhà. Bốn người phụ trợ cầm lễ vật và người đi đầu.

Người đầu tiên đó mặc áo bào màu lam thẫm, thiết kế theo kiểu Đại Tần nhưng không hoàn toàn theo kiểu Đại Tần: cổ áo cao hơn một chút, tay áo hẹp hơn một chút, kiểu thiết kế của người quen mặc để đi ngựa chứ không phải để đứng trong phòng. Tóc người này vấn gọn, trâm cài bằng bạc, không cầu kỳ, không đeo đồ trang sức.

Hắn ta trạc ba mươi, không cao hơn anh nhiều, vai rộng theo kiểu vai của người lớn lên ngoài trời chứ không phải ở thư phòng. Hắn bước đi không nhanh không chậm, không nghiêng không vẹo, không kiểu cách. Đó là bước đi của người không cần chú ý đến bước đi của mình.

Khi đi qua cửa sảnh, hắn ngẩng lên nhìn mái cung điện phía trên, nhìn chỉ một nhịp. Mắt hắn đi dọc theo đường mái ngói, xuống cột đá chạm rồng, dọc theo tường đến tận cuối sảnh, rồi hạ xuống ngang mặt người. Cách người ta nhìn một căn nhà khi muốn biết giá trị bao nhiêu.

Anh nhìn mắt hắn. Mắt hắn tiếp tục quét chậm và đều qua triều đường theo hướng từ trái sang phải, không dừng ở đâu lâu hơn chỗ nào. Không phải kiểu nhìn tham quan, không phải kiểu nhìn ngưỡng mộ, mà là kiểu nhìn của người đang đo đạc, ghi nhớ khoảng cách từ cửa đến ngai vàng, chiều rộng sảnh, số lượng cột, vị trí đứng của từng nhóm người.

Ánh mắt đó quét qua hàng quan văn phía anh đứng, dừng chưa đến một nhịp thở rồi tiếp tục. Hắn không nhìn anh lâu hơn bất kỳ ai. Anh ghi nhận điều đó.

Quan lễ tuyên đọc quốc thư. Đoàn Hung Nô đến "cầu hòa, mong hai nước giao hảo, biên cương an lạc". Câu chữ chuẩn, không thêm không bớt, nghe như đọc từ mẫu văn thư ngoại giao mà ai cũng biết, một kiểu văn mẫu thuần túy.

Thủ lĩnh đoàn sứ giả đứng im trong lúc quan lễ đọc. Hắn ta không nhìn xuống, không nhìn xung quanh, chỉ nhìn thẳng về phía trước theo hướng ngai vàng với vẻ của người đang không cần nghe vì đã biết nội dung từ trước.

Hoàng đế gật đầu. Bên cạnh ông, người phiên dịch chuẩn bị. Thủ lĩnh đoàn sứ giả lên tiếng trước khi người phiên dịch mở miệng.

"Thần là Ca Lặc, Hãn tộc Hung Nô, kính bái bệ hạ."

Tiếng Đại Tần không có giọng lạ, không vấp, câu ngắn và rõ.

"Không cần phiên dịch. Thần tự nói được."

Phía trái sảnh đường có tiếng động nhỏ, kiểu tiếng động của nhiều người cùng lúc hơi dịch chuyển. Anh nhìn sang, thấy ba viên quan văn trung phẩm trao nhau ánh mắt.

Người phiên dịch liền lui về. Phần đối đáp bắt đầu.

Lễ bộ thị lang đặt câu hỏi trước, giọng điềm đạm theo đúng nghi lễ:

"Quý sứ đường xa đến đây, Đại Tần hoan nghênh. Hung Nô cầu hòa, triều đình hân hạnh. Xin hỏi: phía bắc thảo nguyên năm nay mùa màng ra sao, bộ lạc có an bình không?"

Ca Lặc nhìn viên thị lang một lúc.

"Câu hỏi đó."

Hắn nói.

"Bệ hạ đã hỏi mười năm liên tiếp. Câu trả lời vẫn vậy, thảo nguyên không có mùa màng. Thảo nguyên có cỏ và có ngựa. Năm nào cỏ tốt thì ngựa khỏe. Năm nào ngựa khỏe thì không cần đến đây."

Viên thị lang không mất bình tĩnh.

"Vậy năm nay ngựa thế nào?"

"Ngựa tốt."

Ca Lặc nói.

"Thần vẫn đến."

Phía phải sảnh đường có ai đó khẽ ho. Anh không quay lại nhìn.

Binh bộ thị lang tiếp lời, giọng nặng hơn về điều kiện cầu hòa, biên giới phân định, trao đổi thương nhân. Ca Lặc trả lời từng điểm bằng giọng ngắn gọn, có dữ liệu đầy đủ.

"Về biên giới."

Ca Lặc nói.

"Thần đề xuất lấy sông Hắc Thủy làm ranh giới tự nhiên. Từ đầu nguồn ở đèo Ưng Sơn chảy xuống đồng bằng Bạch Lộ, nước sông chia đôi đất, rõ ràng hơn cột mốc, không ai tranh cãi."

Anh nghe hai cái tên đó và ngón tay trái gõ nhẹ lên đùi một nhịp, rồi dừng. Hắn nhắc đến đèo Ưng Sơn bằng tên địa phương mà quan binh kinh thành ít khi dùng, nhắc đến sông Hắc Thủy theo hướng chảy đúng từ tây bắc sang đông nam, kiểu nhắc của người đã nhìn thấy nước chảy chứ không phải người đọc trên bản đồ.

Binh bộ thị lang gật đầu, ghi chú.

"Về thương nhân biên giới, gần đây có tin đường phía đông bắc tắc nghẽn vì nhóm cướp. Quý sứ có biết gì không?"

Ca Lặc hơi nghiêng đầu.

"Đường đông bắc đi qua thung lũng Ba Cánh. Mùa đông tuyết phủ sớm, thung lũng hẹp, ngựa đi hai hàng là hết. Bọn cướp không cần cướp, chỉ cần ba mươi kỵ binh chặn hai đầu thì đoàn buôn nào cũng phải chịu. Gọi đó là cướp hay gọi là địa hình, tùy cách nhìn."

Hắn dừng lại, nhìn viên thị lang.

"Thần nghĩ triều đình biết rõ hơn thần chuyện đó."

Viên Binh bộ thị lang gật đầu, ghi chú tiếp, không hỏi thêm.

Anh nhìn viên thị lang ghi chú mà không hỏi thêm, rồi nhìn sang phía bên kia sảnh, phía hàng quan văn phẩm cấp cao, chỗ Ngũ Hoàng Tử thường đứng. Tiêu Thần Uyên đứng yên, tay buông đúng chỗ, mặt không thay đổi, mắt nhìn thẳng về phía trước theo đúng tư thế của người đang nghe mà không thể hiện ra là đang nghe. Gã không phản ứng gì khi Ca Lặc nhắc đến thung lũng Ba Cánh, không phản ứng gì khi Ca Lặc nói "triều đình biết rõ hơn thần". Gã không phản ứng gì cả.

Lễ bộ thị lang hỏi thêm một câu, giọng đã ấm hơn, kiểu ấm của người đang thấy đối thoại diễn ra thuận lợi:

"Hãn Ca Lặc nói tiếng Đại Tần thông thạo, hẳn đã dành nhiều công sức học hỏi. Quý sứ học từ ai?"

Ca Lặc nhìn viên thị lang.

"Từ tù binh."

Cả sảnh đường im lặng. Không phải im theo kiểu sốc, không phải im theo kiểu không hiểu, mà im theo kiểu nhiều người cùng lúc nhận ra câu đó có nghĩa gì và không ai muốn là người tiếp theo lên tiếng.

Ca Lặc không giải thích thêm. Hắn đứng yên chờ với vẻ của người biết sức nặng của câu mình vừa nói và không cần thêm gì nữa.

Viên thị lang gật đầu, ghi chú tiếp, không hỏi nữa.

Giờ Thìn, phần chính kết thúc.

Hoàng đế nói sẽ cho người hồi đáp lại trong vài ngày, rồi sắp xếp chỗ ở cho đoàn sứ giả, mời tiệc chiêu đãi buổi chiều. Ca Lặc cúi đầu đúng lễ, lùi về đúng số bước, quay người đi theo quan lễ dẫn đường.

Trước khi bước ra cửa, hắn dừng lại, không rõ vì lý do gì. Không có gì ở cửa đáng dừng, không có ai gọi. Hắn chỉ dừng, quay lại nhìn vào trong sảnh đường lần nữa, từ phải sang trái, ngược chiều lúc vào, chậm hơn lần đầu. Rồi mắt hắn đi lên, nhìn trần sảnh, nhìn xà ngang chạm rồng, nhìn xuống sàn đá bóng loáng, theo cách người ta nhìn một căn nhà lần cuối trước khi đi mà biết mình sẽ quay lại. Rồi hắn quay người bước ra ngoài.

Buổi thiết triều tan. Mọi người dãn ra, bắt đầu di chuyển, tiếng nói nhỏ nổi lên theo từng nhóm. Anh đứng yên một lúc, để dòng người đi qua, rồi bước ra sau.

Họ Trương đi cạnh anh đến cửa sảnh, giọng nhỏ:

"Tiết biên tu, sứ giả lần này không giống mấy lần trước."

"Ừ."

Anh nói.

"Lần trước họ không nói được tiếng của ta."

"Ừ."

Họ Trương nhìn anh chờ thêm, không thấy gì thêm, rồi thôi.

Anh về đến phủ lúc gần giờ Ngọ. Phúc Bá đứng ở sân chính, nhìn thấy anh bước vào liền gật đầu mà không hỏi gì. Lão đã nghe tin đoàn sứ giả đến từ sáng sớm, nhưng không hỏi vì biết anh sẽ nói khi nào cần.

Anh đi thẳng vào thư phòng, rồi ngồi xuống trước bàn. Tập tấu chương Hộ bộ vẫn ở đó, mảnh giấy ghi chú về người thương nhân thứ ba vẫn đánh dấu để bên trong. Anh lấy mảnh giấy ra, đặt lên mặt bàn, nhìn vào dòng chữ mình viết mấy hôm trước.

"Người thứ ba, không ai biết từ đâu đến, hỏi mua bản đồ vùng biên cương Thanh Phong."

Rồi anh lấy thêm một tờ giấy mới, đặt cạnh và viết thêm ngắn vào:

"Ca Lặc, biết tên đồn Bạch Lộ, biết tên đèo Ưng Sơn theo cách địa phương, biết sông Hắc Thủy chảy theo đúng hướng thực tế. Mô tả thung lũng Ba Cánh: hẹp, ngựa hai hàng, ba mươi kỵ binh chặn hai đầu. Biết đường thương nhân phía đông bắc đang tắc nhưng không hỏi thêm về nhóm cướp."

Anh dừng lại một chút rồi viết thêm dòng cuối, bên dưới, chữ nhỏ hơn:

Mô tả thung lũng như đã đi qua, biết nhóm cướp giống như biết trước. Câu hỏi là ai cho hắn thông tin về lịch tuần tra và quân số đồn trú."

Ngón tay trái anh gõ lên mặt bàn, bốn nhịp rồi dừng, xong lại bốn nhịp nữa.

Trinh sát bằng thương nhân rồi đến chính danh bằng sứ giả, hai bước đi theo thứ tự. Bước thứ ba của hắn là gì thì anh chưa biết.

Anh cất hai tờ giấy vào ngăn bàn, chồng lên nhau, rồi đóng lại.

Chiều hôm đó anh sang thăm Hầu gia. Ông ngồi ở cửa sổ thư phòng như mọi chiều, tay cầm chén trà, nhưng chén trà nguội hơn mọi khi và ông không uống mà chỉ cầm. Anh ngồi xuống ghế đối diện, không nói ngay.

"Hãn Ca Lặc."

Ông nói trước, giọng nhẹ hơn giọng ông mấy tháng trước.

"Ta nghe người của phủ kể."

"Vâng."

Ông nhìn ra sân, ho nhẹ rồi kiềm lại theo thói quen.

"Con bé ở biên cương, chưa biết tin này."

"Thư sáng mai sẽ đến."

Anh nói.

"Cô ấy cần biết để chuẩn bị."

Ông gật đầu và im lặng một lúc, rồi nói tiếp với giọng chậm, giọng của người đang nhớ chứ không phải đang phân tích.

"Ta nhớ tên đó. Cách đây bảy năm, biên cương có trận đánh nhỏ gần đèo Ưng Sơn. Quân ta thắng, bắt được mười mấy kỵ binh Hung Nô. Trong số đó có một người rất trẻ, cưỡi ngựa giỏi hơn tất cả những người còn lại cộng lại."

Ông dừng lại, uống ngụm trà nguội, rồi đặt chén xuống.

"Người phía ta muốn giết hắn. Ta không cho, vì người đó trẻ quá, nên ta đã thả hắn về thảo nguyên."

Anh nhìn ông.

"Ta không biết sau đó hắn trở thành ai."

Ông nói, giọng không phải hối tiếc, không phải tự hào, chỉ là kể lại.

"Chỉ nhớ khi thả đi, hắn cúi đầu một lần theo kiểu người Đại Tần, không nói gì, rồi phi ngựa."

Căn phòng im xuống. Nắng chiều dịch qua cửa sổ, bóng tối lên dần từ góc phòng.

Anh nhìn ông thêm một lúc, nhìn cái gối tựa lưng bên cạnh ghế, nhìn chén trà nguội, nhìn bàn tay ông đặt trên mặt bàn, mu bàn tay gân xanh nổi rõ dưới da mỏng.

"Nhạc phụ."

Anh nói nhẹ.

"Từ đó đến nay bảy năm."

"Ừ."

Ông nói.

"Nhiều thứ thay đổi trong bảy năm."

Phúc Bá vào thay ấm trà mới, đặt xuống bàn, rồi bước ra ngoài không tiếng động. Anh rót trà cho ông trước, rồi rót cho mình. Hai người ngồi uống trà, không nói thêm gì nữa.

Tối hôm đó anh ngồi trước bàn viết thêm vào tờ giấy ghi chú. Anh mở ngăn bàn, lấy hai tờ giấy ra đặt cạnh nhau. Anh đọc lại, rồi viết thêm ở góc tờ thứ hai:

"Bảy năm trước ở Ưng Sơn. Bị bắt, được thả. Cúi đầu kiểu Đại Tần. Học tiếng Đại Tần "từ tù binh" nhưng cũng có thể học từ khi bị bắt."

Anh dừng lại, rồi gạch dưới chữ "được thả", không phải gạch xóa mà gạch dưới để nhấn mạnh.

Sau đó anh cất giấy vào ngăn bàn và khóa lại, rồi lại lấy tờ giấy trắng mới, viết thư cho Chinh Vũ. Lần này thư ngắn hơn mọi lần, không có phân tích dài, chỉ ba đoạn: đoàn sứ giả Hung Nô đã đến, thủ lĩnh tên Ca Lặc, những gì hắn nói và những gì hắn không nói trên triều. Hắn biết Ưng Sơn bằng tên địa phương, biết thung lũng Ba Cánh như người đã đi qua, biết đường thương nhân đang tắc mà không hỏi vì sao. Đoạn cuối anh viết chỉ một câu:

"Nàng đã ở biên cương đủ lâu để biết mình cần chuẩn bị gì."

Không có câu nào về mì, không có câu "về sớm". Lần này không có.

0