Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 62: Thư Từ Biên Cương

Đăng: 17/07/2026 04:18 3,256 từ 1 lượt đọc

Lệnh đến sáng sớm, trước bữa ăn sáng. Chinh Vũ đọc xong tờ công văn rồi đặt xuống bàn, nhìn ra cửa sổ phòng một lúc. Bên ngoài trời còn tối dần về phía tây, nhưng phía đông đã đổ một vệt hồng mỏng dọc theo mép mái hiên. Cô đứng đó đủ lâu để vệt hồng đó rộng ra thêm một chút, rồi quay người đi.

Bộ giáp nhẹ treo ở giá, cô mặc vào, thắt đai, gài khóa bên hông, tất cả theo đúng thứ tự đã làm mấy trăm lần không cần suy nghĩ. Kiếm đặt trên giá bên cạnh, cô với tay lấy kiếm, rồi dừng và đặt lại.

Sau đó cô đi ra khỏi phòng, đi qua sân, sang dãy chính.

Anh đang ngồi ở bàn, trước mặt là tập công văn Hộ bộ mượn về đọc, tay phải cầm bút, ngón trái gõ nhẹ lên mặt bàn theo đúng bốn nhịp quen thuộc. Nghe tiếng bước chân, anh ngẩng lên.

Cô đứng ở cửa, mặc giáp. Anh nhìn bộ giáp, nhìn lên mặt cô, nhìn xuống tay cô không cầm kiếm thì liền đặt bút xuống.

"Lệnh biên cương?"

Anh hỏi.

"Đồn Thanh Phong báo có nhóm kỵ binh lạ xuất hiện gần biên cương. Cần người ra kiểm tra." Cô bước vào, đứng trước bàn.

"Ta đi bảy ngày, có thể mười ngày. Phúc Bá biết rồi."

Anh nhìn cô, cô nhìn anh.

"Ta đi đây."

Cô nói, lần này nhẹ hơn, kiểu nhẹ không phải vì cô muốn nói nhẹ mà vì câu nói bỗng ngắn hơn dự định.

"Nàng ăn sáng chưa?"

Anh hỏi.

Cô mở miệng rồi đóng lại.

"Chưa."

Anh đứng dậy.

Bếp lúc đó chỉ có Tiểu Hà đang nhóm lửa. Cô bé thấy hai người bước vào thì đứng dậy, nhưng anh ra hiệu để cô bé ngồi xuống, rồi tự lấy nồi xuống bếp. Cô đứng ở cửa bếp, nhìn anh nấu, tư thế của người không biết mình nên đứng hay ngồi.

"Ngươi không cần."

Cô nói.

"Nàng chưa ăn sáng."

Anh nói mà không quay lại.

"Ở đồn có thức ăn."

"Đồn Thanh Phong cách kinh thành hai tiếng cưỡi ngựa."

Anh lấy mì ra, đổ vào nồi.

"Nàng sẽ không ăn gì cho đến giờ Ngọ."

Cô không nói gì thêm.

Tiểu Hà ngồi ở góc bếp, tay vân vê góc tạp dề, nhìn từ tiểu thư sang cô gia, rồi lại nhìn sang tiểu thư, mím miệng lại theo kiểu cô bé đang cố không nói gì.

Anh nấu mì, không phải cháo, không phải cơm, mì vì mì là món nhanh nhất. Trong khi chờ nước sôi, anh thái hành, thêm ít muối, vắt thêm một nắm rau khô vào nồi. Cô đứng ở cửa nhìn anh thái hành với vẻ của người đang quan sát quy trình chuẩn bị trận địa, không phải chuẩn bị dùng bữa sáng.

"Ngươi nấu mì ăn một mình mấy năm trước."

Cô nói.

"Ừ."

"Sao ngươi biết cách nấu?"

Anh nhìn sang, cô đang hỏi thật, không phải hỏi cho có.

"Thì tự học. Mà cũng đơn giản thôi, mì thì có khó gì."

Cô nhìn nồi mì.

"Ta nấu cháo trước đây cháy hai lần."

"Ta biết."

Cô nhìn anh, mặt hơi đổi.

"Biết từ bao giờ?"

"Tiểu Hà kể."

Anh múc mì ra bát, thêm nước, đặt lên khay.

"Và ta ngửi thấy mùi khét."

Tiểu Hà ở góc bếp bỗng tập trung nhìn vào cái nắp nồi với vẻ rất quan tâm đến cái nắp nồi.

Cô đứng yên một lúc, rồi bước vào bếp, ngồi xuống ghế cạnh bàn. Anh đặt bát mì trước mặt cô, đặt đôi đũa lên cạnh bát. Cô nhìn bát mì, nhìn anh rồi nhìn lại bát mì.

"Ăn đi."

Anh nói.

"Nước dùng còn nóng."

Cô cầm đũa lên.

Tiểu Hà nhớ rằng sau này cô bé sẽ kể với Vương Hắc rằng tiểu thư hôm đó ăn hết sạch bát mì, không để lại một sợi, và trong suốt bữa sáng không nói gì ngoài đúng một câu:

"Hành nhiều vừa thôi."

Vương Hắc sẽ gắt:

"Kể cái đó làm gì."

Tiểu Hà sẽ không giải thích được, nhưng cô bé biết có lý do, chỉ là chưa tìm ra chữ nào phù hợp.

Cổng Hầu phủ mở lúc trời vừa sáng hẳn. Vương Hắc đã chờ ngoài cổng cùng mấy chục kỵ binh, ngựa và hành lý đủ dùng cho mười ngày. Ông ta nhìn thấy cô bước ra, gật đầu đúng một cái kiểu quen thuộc từ mấy chục năm nay. Nhìn thấy anh bước ra theo cô, ông ta không nói gì nhưng nhìn sang chỗ khác theo kiểu của người đang giả vờ kiểm tra yên ngựa mà con ngựa đó đã kiểm tra xong từ lâu.

Cô lên ngựa, kiểm tra dây cương, kiểm tra đai yên, nhìn qua một lượt đội hình nhanh đến mức người không quen sẽ không biết cô vừa kiểm tra cái gì.

Rồi cô nhìn xuống. Anh đứng ở cổng Hầu phủ với áo thư sinh. Gió sáng sớm thổi vào, lạnh hơn mấy ngày trước, kiểu cái lạnh báo hiệu mùa đông đang đến gần.

"Ta đi."

Cô nói, lần này chỉ còn hai chữ.

"Nàng đi."

Anh nói.

Cô nhìn anh một nhịp nữa. Nhịp đó chỉ dài bằng một hơi thở, ngắn đến mức Vương Hắc ở cạnh không nhận ra, nhưng anh nhận ra vì anh đang đứng dưới nhìn lên và thấy rõ mặt cô hơn bất cứ ai.

Cô quay ngựa, ra hiệu cho đội hình xuất phát, rồi phi ngựa vào buổi sáng đang rạng dần.

Anh đứng thêm một lúc sau khi bóng ngựa đã mất sau góc đường, rồi quay vào.

Buổi sáng đó anh sang thăm Hầu gia. Ông ngồi ở ghế bên cửa sổ thư phòng, chỗ ông hay ngồi, nhưng bên cạnh ghế có thêm cái gối tựa lưng mà mấy tuần trước không có. Trà trên bàn còn nguyên, nguội từ lúc nào không biết.

"Hiền tế."

Ông nói, giọng chậm hơn mấy tháng trước một nhịp mà nếu không quen nghe sẽ không nhận ra.

"Con bé đi rồi."

"Dạ, từ sáng sớm."

Ông gật đầu, nhìn ra sân. Ông ho nhẹ một tiếng, cố kiềm lại, nhưng tiếng ho vẫn vọng trong phòng lâu hơn ông muốn. Anh nhìn cách ông đưa tay lên ngực rồi hạ xuống, nhìn tách trà nguội, nhìn cái gối tựa lưng.

"Nhạc phụ hôm nay dậy muộn hơn."

Anh nói, không phải câu hỏi.

Ông nhìn anh, hơi cười.

"Người già ngủ nhiều hơn."

Rồi ông không nói thêm về chuyện đó.

"Ngồi xuống, uống trà với ta."

Anh ngồi xuống. Trà nguội nhưng anh uống, và Phúc Bá vào rót ấm mới dù không ai bảo.

Bức thư đầu tiên đến sau bốn ngày, khi anh đang đọc tập tấu chương mượn từ đồng liêu ở Hàn Lâm Viện thì Tiểu Hà gõ cửa, trao phong thư, rồi cô bé đứng ngoài cửa chờ theo kiểu muốn biết thư nói gì nhưng vì phép tắc nên không dám hỏi thẳng.

Anh cầm phong thư. Chữ ngoài bì thư viết bằng nét chữ từ tay cô, nét bút dứt khoát, không có dấu do dự.

Thư dài hơn anh đoán.

Đồn Thanh Phong, ngày mười lăm. Tình hình biên cương như sau: nhóm kỵ binh được báo cáo không còn dấu vết tại vị trí cũ. Tuần tra mở rộng mười lăm dặm về phía bắc, ghi nhận dấu ngựa không rõ nguồn gốc ở hai địa điểm. Số lượng ước tính từ ba mươi đến năm mươi con. Hướng di chuyển từ bắc sang đông, không có động thái tiếp cận. Binh sĩ đồn ổn định, không có thương vong hay báo cáo bất thường. Lương thực đủ dùng hai mươi ngày. Thời tiết tốt, không ảnh hưởng tuần tra. Vương tướng quân sức khỏe bình thường.

Thêm: chợ biên cương Thanh Phong tuần này thương nhân thảo nguyên đông hơn tháng trước. Chủ yếu buôn ngựa và da thuộc. Có ba người hỏi mua bản đồ vùng.

Anh đọc đến đó thì dừng lại và đọc lại câu cuối phần đó. Ba người hỏi mua bản đồ vùng. Cô ghi lại như một phần của báo cáo tình hình chợ, xen giữa ngựa và da thuộc, nhưng anh đọc câu đó hai lần và lần thứ hai đọc chậm hơn.

Rồi anh nhìn xuống phần cuối thư. Mực ở phần này đậm hơn phần trước, kiểu đậm của bút nhúng lại sau khi đã dừng viết một lúc. Cô đã viết một câu rồi gạch bỏ, nét gạch ngang thẳng và dứt khoát như cách cô cắt bánh mì, nhưng mực vẫn đủ đậm để đọc qua vết gạch nếu nhìn kỹ: "trời lạnh hơn kinh thành, ngươi nhớ giữ ấm". Cô đã cạch bỏ cả câu. Bên dưới vết gạch, cô viết lại, ngắn hơn, gọn hơn, giọng khác hẳn:

"Nhớ thêm áo."

Anh nhìn vào vết gạch đó, nhìn vào câu bên dưới bị gạch, nhìn cách cô đã viết chín chữ rồi gạch đi vì thấy nó dài quá, quan tâm quá rõ, rồi thay bằng ba chữ gọn lỏn kiểu như ra quân lệnh. Anh cười nhẹ một mình trong phòng, kiểu cười không có ai nhìn nên cứ để vậy.

Rồi anh gấp thư lại và tìm trong ngăn bàn một cái hộp gỗ nhỏ. Hộp đựng bút cũ đã không dùng nữa, anh mở ra, nhìn vào bên trong, không có gì ngoài chút bụi ở góc. Anh phủi sạch, đặt bức thư vào, đậy nắp, rồi nhìn quanh phòng.

Cũng bàn này, cũng sách, cũng đèn dầu, cũng ghế cô hay ngồi góc phòng xử lý công văn. Trước kia anh sống một mình ở dãy đông mấy năm, phòng cũng có bàn có sách có đèn dầu, không thiếu gì, và anh không thấy thiếu gì. Bây giờ phòng này đủ hết mà lại thấy trống trải.

Thư trả lời anh viết buổi tối. Anh ngồi trước bàn, mở tập tấu chương sang một bên, lấy giấy ra nhúng mực. Anh ngồi yên một lúc, nhìn tờ giấy trắng.

Anh không phải người không biết viết thư. Kiếp trước anh dạy văn học và lịch sử, đọc không biết bao nhiêu trang thư của người xưa, biết thư viết thế nào là hay, thế nào là đúng mực, thế nào là vừa đủ. Nhưng bây giờ ngồi trước tờ giấy trắng, anh nhận ra mình đang nghĩ đến chuyện thương nhân thảo nguyên hỏi mua bản đồ vùng trong thư cô, đến ý nghĩa của chi tiết đó nếu so với tin tức biên giới tuần vừa rồi mà anh đọc được trong tập tấu chương, và đang cân nhắc có nên viết phân tích đó ra không.

Thôi thì cứ viết ra vậy.

"Dấu ngựa hướng đông mà nàng ghi trong thư, nếu đối chiếu với báo cáo thương nhân biên giới tuần qua của bộ Hộ thì có một điểm cần chú ý. Thương nhân hỏi mua bản đồ vùng không phải chuyện thường, vì bản đồ địa hình biên cương thuộc loại bị kiểm soát. Nàng để ý xem ba người đó mua ở đâu, qua ai giới thiệu, và liệu có ai ở đồn lén bán không... "

Anh viết bốn đoạn phân tích, rõ ràng và có dữ liệu, xong nhìn lại thấy mình vừa viết một bản phân tích tình báo gửi cho vợ đang đi tuần tra. Anh đọc lại từ đầu, cân nhắc, rồi giữ nguyên vì những gì anh viết là thật và cô cần phải biết.

Nhưng bức thư hình như còn thiếu gì đó. Anh nhúng bút lại, viết thêm ở cuối, sau phần phân tích:

"Mì ở nhà ngon hơn mì ngoài biên cương. Nàng nhớ về sớm."

Anh đọc lại câu đó rồi cất bút. Sau đó anh gập thư lại, bỏ vào phong bì, viết tên người nhận ra ngoài bì thư. Cuối cùng anh đặt phong thư lên góc bàn để sáng mai Tiểu Hà mang đi.

Nồi mì anh nấu buổi tối còn nguyên một nửa trên bếp. Anh ăn xong phần mình từ hai tiếng trước rồi để đó vì nấu quen dư một phần, thói quen từ lúc còn có người khác trong nhà để ăn cùng. Bây giờ cái nồi nửa kia đó sẽ để đến sáng. Anh nhìn nồi mì một lúc, rồi dọn vào bếp và tắt đèn đi ngủ.

Đồn Thanh Phong những ngày đó buổi tối thường yên ổn. Lính đổi gác đúng giờ, đốt đuốc dọc tường thành, gió bắc thổi vào theo từng đợt lạnh hơn đêm trước. Chinh Vũ ngồi trong doanh trại xử lý báo cáo buổi chiều, ngoài cửa là tiếng lính đi tuần, thỉnh thoảng là tiếng ngựa phát ra từ chuồng bên kia sân.

Gần giờ Tuất, tiếng cãi nhau nổi lên ở phía quán cơm gần cổng đồn. Không phải tiếng cãi nhau loạn xạ, không phải ẩu đả, chỉ là hai giọng, một nặng và to, một gọn và không nhân nhượng, cãi nhau về chuyện canh mặn hay nhạt với nhiều chi tiết kỹ thuật đến mức nghe như hai người đang tranh luận về chiến thuật quân sự.

Cô ngẩng lên, nhìn qua cửa doanh trại. Vương Hắc đang ngồi ở cái bàn quen thuộc góc quán cơm nhỏ sát cổng đồn, trước mặt là bát canh và người phụ nữ chủ quán đang đứng cạnh bàn với đôi tay khoanh trước ngực theo đúng tư thế ông ta hay khoanh khi đang cãi nhau với Lan Chu về chiến thuật. Bà chủ quán tên Đào Nương, góa phụ của một viên hiệu úy cũ từng dưới quyền Hầu gia, trạc bốn mươi tuổi, tóc búi gọn, tạp dề bếp, và đang giải thích bằng giọng rõ ràng không khoan nhượng rằng canh bà nấu không mặn. Vấn đề ở đây là ông ta ăn sáng ngủ trưa ở doanh trại quanh năm nên vị giác có vấn đề.

Vương Hắc nói canh mặn là mặn, cứng đầu không chịu nghe. Bà chủ quán múc thêm canh vào bát lão, đặt xuống mạnh hơn cần thiết, rồi quay vào bếp không thèm nhìn lão nữa. Vai bà chạm nhẹ khung cửa bếp khi quay người, kiểu chạm của người quay vội hơn mình muốn.

Vương Hắc nhìn theo bà một nhịp, rồi nhìn xuống bát canh được thêm vào không ai mời, ngồi yên một lúc, rồi húp thêm một thìa.

Cô nhìn cảnh đó, nhìn sang chỗ khác, cầm bút lên tiếp tục viết báo cáo.

Bức thư thứ hai cô viết buổi đó khá bức thư đầu. Không phải vì cô cố ý viết khác, mà vì cô viết xong phần báo cáo quân sự rồi đọc lại thư anh gửi, đọc bốn đoạn phân tích tình báo mà anh viết bằng giọng như đang giải thích bài cho học trò, rồi đọc đến câu cuối: "mì ở nhà ngon hơn mì ngoài biên cương, nàng nhớ về sớm."

Cô đọc câu đó hai lần. Rồi cô nhìn vào tờ báo cáo trước mặt và nhận ra mình đang viết thêm ở phía dưới, sau phần tình hình biên cương, bằng chữ nhỏ hơn và chậm hơn:

"Canh ở đây nhạt. Vương tướng quân lại bảo mặn."

Cô nhìn câu đó, nhìn ra ngoài cửa doanh trại nơi tiếng cãi nhau đã tắt và Vương Hắc đang ăn nốt bát canh trong im lặng, rồi nhìn lại câu cô vừa viết. Cô không xóa mà tiếp tục viết, xuống dòng:

"Trời lạnh thêm. Ngựa đi được nhanh hơn dự kiến. Có thể về trước hai ngày."

Rồi cô dừng, rồi viết thêm, câu ngắn hơn, mực đậm hơn vì cô nhúng bút nhiều hơn cần thiết:

"Ngươi có ăn không?"

Cô đọc lại câu hỏi đó, thấy nó ngắn đến mức có thể bị hiểu là hỏi về tình hình hậu cần, rồi quyết định không giải thích thêm vì giải thích thêm thì sẽ tệ hơn. Cô bèn gập thư lại.

Bên ngoài gió bắc đổi hướng, thổi từ phía thảo nguyên vào, lạnh hơn ban nãy và mang theo mùi đất khô của vùng xa biên giới. Cô ngồi yên, nghe tiếng gió một lúc, rồi lấy thêm tờ giấy ra, viết phần phụ lục phân tích về dấu ngựa bổ sung thêm những gì anh nêu ra trong thư. Ba thương nhân hỏi mua bản đồ cô đã cho người theo dõi, hai trong ba là dân buôn quen mặt không đáng ngại, người thứ ba không ai ở chợ biết từ đâu đến.

Dưới phần phụ lục đó cô để trắng một khoảng, rồi viết dòng cuối bằng chữ bình thường, không nhỏ hơn cũng không lớn hơn:

"Mì ngươi nấu ngon hơn mì ơ đây."

Phúc Bá vào phòng anh sáng hôm sau, đặt phong thư lên bàn, không nói gì rồi bước ra ngoài.

Anh nhìn phong thư, nhận ra chữ ngoài bì thư và cầm lên mở.

Sau khi đọc hết phần báo cáo, anh đọc đến câu "canh ở đây nhạt, Vương tướng quân lại bảo mặn" thì dừng lại. Lần này anh không cười. Anh nhìn câu đó một lúc, rồi đọc tiếp đến "ngươi có ăn không?" và ngón tay trái anh gõ lên mặt bàn một hai ba bốn, chậm hơn bình thường, nhịp gõ của người đang nghĩ chuyện khác trong khi đọc về chuyện khác.

Phần phụ lục phân tích mà cô viết thêm được anh đọc kỹ. Cô ghép đúng manh mối anh nêu ra, và thêm chi tiết mới: người thứ ba không ai biết từ đâu đến. Anh đọc câu đó xong, đặt thư xuống, kéo tập tấu chương Hộ bộ lại gần, lật đến phần báo cáo thương nhân biên giới mà anh đã đọc mấy ngày trước, đọc lại một lần nữa. Rồi anh lấy mảnh giấy riêng, ghi chi tiết về người thứ ba cạnh một dòng ghi chú cũ, đặt mảnh giấy vào giữa tập tấu chương.

Rồi anh đọc xuống câu cuối.

"Mì ngươi nấu ngon hơn mì ở đây."

Anh đặt tờ thư xuống bàn và nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài trời kinh thành lạnh nhưng có nắng, gió thổi qua sân làm rụng thêm mấy lá cuối mùa từ cây góc sân xuống mặt đá. Tiểu Hà đang quét sân, nghe thấy tiếng lá, nhìn lên, thở dài đặt chổi xuống rồi nhặt lá bằng tay.

Anh lấy tờ thư đặt vào hộp gỗ, bên trên bức thư đầu tiên.

Chiều hôm đó anh viết thư trả lời bức thư thứ hai, ngắn hơn bức thư trước, chỉ có phần phân tích về người thương nhân thứ ba và mấy gợi ý cho cô kiểm tra thêm. Viết xong, anh ngồi nhìn chỗ trống cuối trang một lúc, rồi gập lại mà không thêm câu nào. Câu "nàng về sớm" thì anh đã viết rồi, viết lại sẽ giống người nhớ quá mà không muốn thể hiện ra.

Đêm đó anh nấu mì muộn hơn thường lệ sau giờ Hợi. Anh nấu đủ một bát và ăn hết, rồi dọn bát đi. Lần này không để dư.

Xong xuôi, anh nhìn nồi rỗng trên bếp, rồi đi ngủ.

0