Chương 14: Không Ai Từng Xác Nhận
"Ba Vòng Sang Tay, Không Một Vòng Nào Sạch"
Hồ sơ số 14. Tang vật: một tờ tiền mệnh giá nhỏ, một tô bún. Nhân chứng: không nêu tên. Tình trạng: hai ảo giác đã có hình hài, không ai trong đó thấy lạ.
Mũi tôi bắt được mùi xôi nếp mới đồ bốc lên từ một quầy hàng đầu ngõ, hơi nóng còn nghi ngút trên mẹt lá chuối.
Bụng cồn cào đúng lúc, tôi dừng chân, gọi một gói xôi lạc. Bà bán xôi xới một muôi đầy, gói gọn trong lá chuối, tay thoăn thoắt buộc dây. Tôi móc ví, lục tìm đúng một tờ mười ngàn nhàu nát, quăn góc, lờ hẳn tờ năm trăm ngàn còn mới cứng nằm ngay bên cạnh, đưa cho bà không chút do dự. Bà cầm lấy, mặt giãn ra, tính rẻ hẳn, còn thối lại nhiều hơn hẳn mức giá niêm yết, coi như chuyện đương nhiên.
Đứa bé đứng sau lưng chờ mua kẹo cũng móc ra đúng một xấp mười ngàn lẻ, đếm rất thạo, mặt tỉnh bơ, không ai buồn nhướn mày. Một ông chạy xe ôm tấp vào mua thêm hai gói.
"Thối tiền lẻ giùm nghe bà. Đừng đưa tờ to, tôi ngại tiêu lắm."
"Biết rồi ông, lần nào cũng dặn." Bà bán xôi thối lại một nắm tiền lẻ nhàu, ông xe ôm cầm lấy, nhét vào túi ngực, vẻ hài lòng thấy rõ.
Trong lòng bàn tay tôi, tờ mười ngàn nhàu nát nằm đó, quăn góc, sờn mép. Tờ năm trăm ngàn mới cứng vẫn nằm yên trong ví. Bàn tay đã chọn xong từ lúc nào, dứt khoát, không một nhịp ngập ngừng, như một phản xạ luyện đã lâu lắm rồi.
Cái đồng mười ngàn nhàu nát đó, chỉ vì khó tiêu hơn, mà đủ đông người xúm vào quý nó hơn, thế là nó đắt hơn thật, đắt hơn ngay trước mắt tôi, không cần ai đem cân đo lại xem đúc nó tốn bao nhiêu công, in nó tốn bao nhiêu của. Càng nhiều người tin vậy, cái niềm tin đó càng chắc nịch, chẳng cần một chỉ vàng nào nằm sau lưng làm chứng.
Tôi rảo bước tiếp, ngang qua một quán bún riêu treo tấm bảng giá viết tay, mực còn hơi lem. Tô ninh ba tiếng, năm mươi ngàn. Tô nấu nhanh hai mươi phút, mười lăm ngàn.
Cùng một nồi riêu, cùng bấy nhiêu nguyên liệu, chỉ khác cái công đứng bếp, đứng lâu thì tính đắt, đứng mau thì tính rẻ. Chẳng ai buồn hỏi tô ninh lâu có thật sự ngon hơn tô nấu nhanh hay không, giá cứ theo giờ mà tính, ngon dở là chuyện khác, không nằm trong cái phép tính này.
Tôi gọi tô ninh ba tiếng, ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp lè tè. Bà chủ múc bún, chan nước, bưng ra.
"Nay nước hơi nhạt cô ơi." Tôi húp một muỗng, buột miệng.
"Ừ, xương dạo này mắc quá chú." Bà nói tỉnh bơ, tay vẫn thoăn thoắt chan tô khác. "Ninh ít lại một chút, chớ giá đó tôi lỗ."
"Vậy cái tô mười lăm ngàn kia thì sao cô?"
"Tô đó nấu nhanh, hai chục phút là xong, nên rẻ." Bà đặt tô bún xuống bàn bên cạnh. "Tô của chú ninh ba tiếng lận, công đâu cho lại."
"Nhưng nếu nước tô ba tiếng cũng nhạt vầy, thì khác gì tô hai chục phút đâu cô?"
Bà khựng tay một thoáng, rồi cười xòa. "Chú hỏi lạ. Ninh lâu thì tính đắt hơn chớ sao. Ai đi tính chuyện ngon dở."
Tôi không hỏi thêm. Cái công đứng bếp đó, hóa ra chưa bao giờ đo được bằng cái đồng hồ bấm giờ đứng một mình. Nó chỉ được tính là đáng đúng vào lúc bát bún bán được, tức đúng lúc có người chịu móc tiền ra trả. Bỏ mất cái vế có người chịu trả đó đi, chỉ còn trơ lại số giờ đứng bếp, thì tô ninh ba tiếng nghiễm nhiên đắt gấp ba, dù nấu vụng, dù nguội tanh, dù chẳng ai buồn ăn cho hết bát. Chính miệng bà vừa nói ra điều đó, gọn hơn mọi thứ tôi ngồi nghĩ, mà bà thì coi như một lẽ thường không có gì đáng bàn.
Buổi trưa cắn trái táo năm nào, cái ly trà đá đầu tiên, bàn tay đếm mấy đồng bạc lẻ, tất cả trở lại cùng một lúc. Ngọt không nằm sẵn trong trái táo. Giá trị không nằm sẵn trong công sức. Cả hai đều phải chờ một cái đầu khác gật đầu chịu nhận mới thành thật. Cái điều tôi từng lật đi lật lại trong đầu suốt bấy nhiêu lâu, giờ nằm ngay trước mặt, có hình, có mùi, có một tô nước lèo nhạt phèo còn bốc khói.
Vậy rốt cuộc, có tồn tại một phép đo giá trị nào hoàn toàn không đi qua cái đám đông gật đầu kia hay không.
Hai cảnh vừa qua, ngồi ngẫm kỹ, là hai đầu ngược nhau của cùng một cái sai. Đồng tiền nhỏ đắt hơn, là đẩy tới cùng cái ý giá trị chỉ cần đủ người tin là xong, chẳng cần gì nằm sau chống lưng. Tô bún tính theo giờ nấu, là đẩy tới cùng cái ý ngược lại, cứ đổ công sức vào là tự khắc sinh ra giá trị, bất kể cái công đó có ma nào cần tới hay không.
Câu hỏi đó vừa dứt, tôi nhớ lại đúng ba vòng sang tay ở Hoài Đức, đúng cái buổi chiều tôi ngồi vạch số dưới đất bằng nhánh cây khô. Mụ B mua một trăm, bán lại một trăm rưỡi, lời năm mươi. Cô C mua một trăm rưỡi, bán lại cho Anh A hai trăm năm mươi, lời một trăm. Cả hai khoản lời đó, không đồng nào chảy ngược vào một vòng làm lụng nào cả, không thuê một công nhân, không dựng một cái sạp, không một viên gạch nào được xây trên mảnh đất đó.
Đòn gánh mẹ Anh A, lệch hẳn một vai, hiện lại rõ mồn một, đứng cạnh đúng hai con số lời đó. Tôi từng dựng hai cảnh công lý ở đúng bãi đất này, cảnh nào cũng đúng, cảnh nào cũng vững, và cảnh nào cũng không phải thứ tôi đi tìm. Giờ ngồi đây, giữa một tô bún nhạt, tôi nhận ra câu hỏi đó chưa từng đóng lại, chỉ tạm gác sang bên.
Dân tình vẫn quen gọi khoản lời của mụ B và Cô C là đã chốt xong, đã ăn chắc rồi. Nhưng theo đúng cái lẽ tôi vừa ngộ ra ở tô bún, một khoản chỉ được tính là đáng khi có một vòng làm lụng chạy trọn và có người chịu trả tiền cho món hàng thật. Bãi đất Hoài Đức chưa từng có vòng nào như vậy chạy qua. Khoản lời hai bà hốt được, truy cho tới cùng, chỉ có thể là rút ra từ đúng cái hố nợ Anh A đang gánh, chứ chẳng có mạch nước ngầm nào tự dưng đùn tiền lên. Ba vòng sang tay, không vòng nào sạch.
Chẳng có luật nào, chẳng có nòng súng nào kề vào màng tang, vậy vì sao mụ B rồi Cô C rồi Anh A cứ tuần tự bước vào đúng cái tròng đó, không ai bị ép, không ai bị lừa trắng trợn. Nửa câu trả lời tôi từng chạm tới rồi, đêm ngồi một mình bên ngọn đèn bàn. Nhưng còn một góc tôi chưa từng lật hẳn ra, đúng cái góc khiến tôi giờ đây, giữa quán bún, phải đặt bát xuống, tay dừng lại nửa chừng.
Niềm tin của người tới sau không chịu đứng ngoài mà ngó giá suông. Nó thò tay vào, đẩy giá lên thật, rồi chính cái giá đã bị đẩy đó quay ngoắt lại, đóng vai bằng chứng cho niềm tin của kẻ tới sau nữa. Mụ B tin đúng, vì có Cô C chịu trả cao hơn để xác nhận giùm. Cô C tin đúng, vì có Anh A chịu trả cao hơn nữa xác nhận tiếp. Chẳng cần thêm một giọt mồ hôi làm lụng thật nào, cái cỗ máy đó vẫn tự vỗ béo lấy chính nó, cứ mỗi vòng lại phình thêm một khấc.
Có thứ niềm tin giống sợi dây cao su, kéo căng ra rồi tự co lại đúng chỗ cũ, tự biết điểm dừng. Lại có thứ niềm tin cứ đẩy hai đầu xa nhau mãi, không có điểm dừng tự nhiên nào, căng tới lúc đứt phựt chứ không chịu co lại. Ba vòng sang tay ở Hoài Đức đúng là loại thứ hai, mỗi vòng lại banh khoảng cách giữa giá và cái nền thật ra thêm một quãng, không có cái phanh nào bên trong nó tự kéo lại được.
Tôi phải rào lại một đường, kẻo lẫn lộn, đúng thói quen nghề cũ, chưa buông một kết luận nào mà không tự vặn lại chính nó trước. Không phải ai vay tiền mua đất, dựng xưởng, mở quán cũng đều sa vào đúng cái vòng chiếm dụng này. Một người vay tiền mở xưởng may, có máy chạy xè xè, có công nhân đứng chuyền, có hàng ra chợ thật, khoản vay đó có một vòng làm lụng thật đứng sau trả nợ, sòng phẳng. Ba vòng sang tay ở Hoài Đức thì khác hẳn, không vòng nào có nổi một cái xưởng, một luống rau, một mái tôn đứng sau làm chứng.
Mụ B không hề vỡ lẽ mình vừa châm ngòi cho một vòng chiếm dụng. Cô C cũng không hề hay mình đang tiếp tay. Cả hai chưa từng ngồi chung một bàn để bàn bạc, chưa từng gặp mặt ngoài vài câu chào hỏi hàng xóm, vậy mà vẫn đủ sức dựng nên một nạn nhân thật, một khoản nợ thật. Một cỗ máy không cần một kẻ chủ mưu nào cả, chỉ cần đúng ba cái đầu tin sái cổ vào ba câu chuyện riêng, nối đuôi nhau bước vào cùng một tròng.
Tôi đứng dậy khỏi ghế nhựa, trả tiền, bước ra khỏi quán, nhưng ý nghĩ vẫn còn vướng lại chỗ bàn ăn dở.
Nếu ngay cả tiền bạc, thứ tưởng đo đếm được rành mạch nhất, cũng chỉ được xác nhận qua một chuỗi niềm tin nối đuôi nhau, không có lấy một mốc đứng ngoài, thì những thứ vốn dĩ mềm hơn tiền bạc nhiều, như đạo đức, như phải trái, liệu có bao giờ được xác nhận theo đúng nghĩa đó không.
Ý đó vừa trồi lên, chân tôi tự dừng phắt lại giữa phố, vì nhận ra mình vừa đi đúng vào một lối mòn đã bước qua hai lần rồi. Lần đầu, cái buổi trưa trà đá xa lắc, tôi từng bắt gặp cái trò quái gở là lấy lý trí ra kết tội chính giác quan, giác quan đưa cho lý trí đủ mọi bằng chứng để mà tin, rồi lý trí quay ngoắt lại phán giác quan là đồ không đáng tin. Lần thứ hai, cái đêm ngồi bên ngọn đèn bàn, tôi lại lấy chính cái đầu ra kết tội cái đầu, muốn lùi ra một chỗ tỉnh táo hơn để soi lại nó, mà cái dùng để soi cũng chính là nó, không có cái thứ hai nào khác mà cầm.
Giờ là lần thứ ba, chỉ khác cái bị đem ra xử.
Cái đầu đó, cái thứ tôi vừa tự tay chứng minh đi chứng minh lại là bị đánh lừa dễ như bỡn, là không bao giờ leo ra khỏi cái gương méo của riêng nó được, thì chính nó lại đang chễm chệ ngồi ghế quan tòa mà phán xử đạo đức. Mà đạo đức còn trơ trọi hơn giá cả nhiều. Giá cả, dù bị nhồi bị tráo, ít ra còn có một cái hố nợ vật chất thật nằm dưới đáy, như tôi vừa moi ra ở Hoài Đức. Đạo đức thì chẳng có tới cả cái hố đó, chẳng có một mẩu vật chất nào neo dưới, thuần túy chỉ là cái đám đông gật đầu với nhau qua từng thời. Ngay cả giá cả, thứ còn có nền để mà bám, cái đầu còn đo lệch, thì tới đạo đức, thứ chẳng có nền nào, cái đầu lấy gì làm thước ngoài chính nó. Con dao cùn tự lấy mình ra làm thước đo xem chính mình sắc tới đâu.
Tôi đứng sững giữa phố, gói xôi trong tay nguội ngắt lúc nào không hay, thử lần ngược lại vài cái chuẩn mực của những thời đã qua. Có những thời, buông một lời xúc phạm bậc bề trên là mất mạng như chơi, mà chẳng ai coi đó là bất công, người ta coi đó là lẽ đương nhiên phải giữ, y như phải giữ khoảng cách giữa trời với đất. Có những thời, nói thẳng ra rằng mọi người sinh ra vốn ngang quyền nhau sẽ bị nhìn như một kẻ điên loạn, không phải vì người nghe ác tâm, mà vì cả một thời đại chưa từng có sẵn cái khung nào để hứng nổi câu đó.
Điều làm tôi lạnh người không phải mấy cái chuẩn đó man rợ. Mà là cái giọng chắc nịch. Cái con mắt từng nhìn thẳng vào một kiếp người bị coi như súc vật mà phán đó là lẽ tự nhiên, chắc nịch y hệt cái giọng hôm nay phán điều ngược lại. Cùng một con mắt đó, cùng một niềm tin mình đang đứng ngoài mà phân xử công minh. Đỉnh cao lý trí của mỗi thời cũng không hề bước ra ngoài được cái vòng bao lấy nó, không hề hay biết mình đang đứng lọt thỏm trong một niềm tin lớn hơn bất cứ ai từng nhìn thấy.
Vậy ba mươi năm tôi phán ai có tội ai vô tội, dựa đúng luật pháp và đạo đức của thời mình, khác gì hơn. Cũng đúng một con mắt đó, cũng chắc nịch y như vậy, cũng đinh ninh mình đứng ngoài. Cái đêm bên ngọn đèn bàn, tôi đã tự tay đóng đinh rằng cái đầu này không đáng tin. Vậy mà sáng nay, tôi vẫn định vác đúng nó ra phán tiếp. Kẻ đã biết thừa con dao cùn, vẫn cứ cầm đúng con dao đó mà mổ.
Chuẩn mực nào rồi cũng chỉ là một đám đông gật đầu khác, chỉ đổi cái tên gọi, chỉ đổi tốc độ trôi. Đất đai đổi tay từng tháng. Đạo đức đổi tay từng thế kỷ. Không cái nào đứng yên, không cái nào có một mốc đứng ngoài để mà đo cho chuẩn.
Tôi bật cười một tiếng khô khốc, đúng kiểu tự giễu vẫn quen. Vậy ngay cả cái ý nghĩ tôi vừa lôi ra để vạch trần mọi chuẩn mực khác, biết đâu tự nó cũng đang vạch trần chính nó, đứng chưa vững hơn bất cứ thứ nó vừa lật đổ là bao. Cái đám đông gật đầu mà tôi vừa chê, biết đâu chính cái ý chê đó của tôi, nếu đủ đông người tin theo, rồi cũng thành một đám đông gật đầu y hệt, tự làm méo mọi thứ theo đúng cái cách nó vừa mới lên án.
Có một điều duy nhất tôi níu lại được, mỏng như sợi chỉ, mà cũng chẳng cứu nổi gì. Cái đám đông ngoài kia gật đầu mà không hề biết mình đang gật. Còn tôi, ít ra, đã biết cái đầu mình không đáng tin. Cái biết đó không kéo tôi ra khỏi cái gương méo được, không cho tôi một chỗ đứng nào cao hơn ai, nhưng nó cũng không phải là con số không. Chỉ là tôi chưa nghĩ ra nổi, biết mà chẳng đổi được gì, thì cái biết đó rốt cuộc để làm gì.
Tôi rảo bước tiếp, mắt vẫn còn dán vào tấm bảng giá tô bún ninh ba tiếng treo trước quán, tay vẫn cầm gói xôi đã nguội ngắt, chưa biết nên gọi cái gì trước mặt là thật nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.