Chương 13: Vũ Trụ Không Sụp Đổ
"Vật Chất Không Biến Mất, Nó Chỉ Lùi Về Một Ngày Chưa Tới"
Hồ sơ số 13. Tang vật: một dãy gương chiếu hậu xe máy. Nhân chứng: không nêu tên. Tình trạng: thực nghiệm tiếp diễn, không ai hay biết.
Con phố trưa vắng. Nắng dội xuống mặt nhựa, hắt ngược lên loang loáng. Hàng quán hai bên khép cửa tránh nắng, mái hiên đổ bóng ngắn ngủn xuống chân tường. Tôi đi giữa lòng đường, chân đặt xuống đều, mỗi bước một nhịp, về một hướng. Ngón trỏ tay phải có một vệt hằn đỏ vòng quanh đốt, in sâu, như vừa ghì chặt một vật gì thuôn dài suốt một quãng lâu.
Ven đường, một dãy xe máy đậu sát nhau, yên còn ram ráp hơi nắng. Cạnh đó, một cái bàn gỗ thấp của hàng nước vỉa hè, chân trước khập khiễng phải kê thêm miếng gạch, đứng lọt thỏm giữa đám xe. Tôi đưa tay quẹt qua mặt một cái gương chiếu hậu, thấy nó ấm và cong, ngón tay trượt theo đúng độ vồng của kính. Mỗi cái gương ngoái một góc riêng, cái nghiêng trái, cái vổng lên trời, cái cụp gằm mặt đường, nhưng vài cái cùng bắt được đúng cái bàn đó vào khung. Trong gương này, mặt bàn kéo dài ra, hai đầu vểnh cong như sắp gãy. Gương kế bên lại nén nó ngắn ngủn, chân bàn khuất hẳn sau một vệt sáng lóa. Gương thứ ba cắt cụt mất một góc, chỉ còn ba chân, chân thứ tư biến mất không dấu vết. Cùng một cái bàn, đứng yên một chỗ, không hề nhúc nhích, mà không hai cái gương nào cho ra cùng một hình dạng. Tôi đi ngang, liếc qua từng cái, thấy đúng con phố này vỡ ra thành chục mảnh vụn, mảnh nào cũng méo một kiểu, không mảnh nào ôm trọn nổi cả con phố.
Vậy mà gộp hết mấy mảnh vụn méo mó đó lại trong đầu, tôi vẫn nhận ra ngay đây đúng là con phố đang đứng, không lẫn vào đâu được. Không một mảnh nào ôm trọn, nhưng gộp đủ mảnh thì dựng lại được cả cái tổng thể, sai lệch từng phần mà đúng ở toàn cục.
Xa xa cuối phố, một cây cần trục công trình đứng im, cái móc sắt đầu cần đong đưa nhẹ theo gió. Cái đong đưa đó kéo theo một câu, câu bỏ lửng từ buổi chiều đầu tiên bên ly trà đá, đá lạnh kêu lanh canh. Giả dụ có một ngày xấu trời, moi mỏi mắt không ra nổi một giọt mồ hôi lao động nào để mà bám vào, thì cái thế giới hai nền đó, vật chất một bên, ý thức một bên, có xẹp lép xuống còn đúng một nền hay không, cái nền chỉ toàn niềm tin, chẳng cần vật chất nào chống lưng.
Buổi chiều tối tôi ngồi bệt giữa bãi đất Hoài Đức, vạch số xuống đất bằng một nhánh cây khô, nặn ra đúng con số một trăm năm mươi triệu tiền chênh, giờ đúng là cái hiện trường tôi từng mỏi mắt tìm để mà bóc tách cho ra nhẽ.
Mũi tôi bắt được mùi luộc bốc lên từ một hàng dồi ai đó vừa bày ra đầu ngõ, khói còn nghi ngút trên chảo. Tôi liếc qua, thấy bà hàng đang cột lạt buộc từng khúc dồi căng tròn, trĩu tay.
Tôi tạm gọi cái trò ở Hoài Đức là Nhồi, đúng y boong cảnh trước mắt. Giống hệt người bán dồi kia, đáng lẽ nhồi tiết với thịt băm thật vào ruột phèo rồi mới đem luộc, lại chỉ nhồi vào đó một lời hứa suông, mai mốt tôi nhét thịt sau. Khúc dồi rỗng đó vẫn được buộc lạt, bày bán đàng hoàng như dồi thật, chưa ai rạch ra coi thử bên trong. Mỗi lần miếng đất sang tay, từ mụ B qua Cô C rồi tới Anh A, người sau lại nhồi thêm một lớp hứa hẹn như vậy vào giá, nhồi nguyên một vòng làm lụng chưa từng ra đời. Nhồi càng dày, món nợ càng nặng, mà món nợ đó chẳng bao giờ được ghi tên trên bìa sổ đỏ nào cả.
Ngẫm cho tới cùng cái khúc dồi đó, tôi mới thấy cái trò Nhồi này chẳng qua là đảo lộn cái trước với cái sau. Cái đáng lẽ phải có trước, tức mồ hôi với vật liệu thật đổ vào, thì bị gác lại phía sau. Cái đáng lẽ chỉ được hưởng sau cùng, tức khoản lời, lại bị lôi ra xài trước tiên, để trơ lại cái gốc chưa ai trả nằm chỏng chơ đằng sau lưng.
Tới đây, đủ để trả lời câu tôi bỏ lửng từ buổi trà đá năm nào. Cái thế giới hai nền đó không hề xẹp xuống còn một nền. Vật chất vẫn còn nguyên, chỉ là bị đám con buôn đánh tráo, đẩy lùi về một ngày chưa tới, chứ chẳng có gì bốc hơi sất.
Ý thức của Anh A, cái tin mình có cặp mắt nhìn xa hơn cả họ hàng, sống được cả mấy tháng trời không tắt ngay, tôi ngẫm ra không phải vì nó đối chọi với vật chất. Nó sống được, ăn được, chính là nhờ bám vào đúng khoản vật chất chưa tới kia mà hút lấy chất sống. Không có một trăm năm mươi triệu tương lai đó làm nền, niềm tin của Anh A đã chết yểu từ tháng đầu, chẳng cần đợi ai vạch trần.
Con số một trăm năm mươi triệu là cái đã chốt xong, cầm nắm được, đếm ra là ra. Nhưng cái nó hứa hẹn đại diện, tức mồ hôi thật sẽ có ngày đổ xuống bãi đất đó, còn treo đó, còn tùy vào một ngày chưa tới, tùy người đời lúc đó chịu bỏ ra bao nhiêu công thật mới chuộc lại được nó.
Nghĩ tới đó tôi thấy lạnh gáy hơn cả lúc nãy. Không chỉ con số đã lệch khỏi cái nó hứa hẹn, mà ngay cả cái thước để đo độ lệch đó cũng đang trôi, không đứng yên một chỗ chờ tôi đo cho xong.
Bước chân nhẹ hẳn ra, sải dài hơn. Được mấy bước, một ý khác xọc ngang, cắt phăng cái nhẹ đó.
Cái vừa gọi chắc nịch là vật chất thật, là cái nền gốc đó. Dựa vào đâu mà dám chắc nó đúng là gốc. Ai cũng chỉ có đúng một góc nhìn riêng, mà góc nhìn đó, không ai từng thấy được góc của ai, kể cả khi ngồi sát cạnh nhau cả đời. Vật hiện ra trong mắt mỗi người, vì vậy, mỗi người một hình dạng khác, không ai trùng ai.
Tôi ngoái lại nhìn dãy gương ban nãy, giờ nhìn bằng một con mắt khác hẳn. Không phải một mình tôi so được các gương với nhau để dựng lại con phố thật đâu. Tôi cũng chỉ đang đứng ở đúng một góc, đúng một cái gương của riêng mình, không cách nào bước ra ngoài để so nó với gương của người khác.
Một mình không xác nhận nổi, vậy phải cậy nhờ đám đông. Càng đông người cùng thấy giống nhau, càng chắc đó là thật, chứ còn gì.
Ý đó vừa nhen lên, tôi đã tự thấy chỗ thủng. Đám đông nào cũng thấy y hệt nhau chuyện ma quỷ hiện hồn, đền nào miếu nào cũng linh nghiệm với đúng những kẻ đã tin sẵn từ trước. Cứ đông người đồng thanh là thật, thì phải gọi luôn cả ma quỷ đền miếu là thật nốt, mà cái đó thì tôi không nuốt trôi.
Câu đó chặn ngang họng tôi. Cái phép đo càng đông càng thật, tưởng là lối thoát, hóa ra lủng ngay từ chỗ đó, mà tới giờ tôi vẫn chưa thấy ai vá xong.
Tôi chững bước, bàn tay theo phản xạ đưa về phía túi áo ngực, chỗ vẫn hay nhét một cuốn sổ. Chỉ chạm phải vải trơn, không có gì để nắm. Ngón tay quờ thêm một vòng nữa rồi thôi, bám đại vào tay lái một chiếc xe máy đậu gần đó, siết nhẹ, thấy vậy cũng tạm ổn, bước tiếp.
Nhớ tới đám đông, tôi chợt nhớ tới cái ý từng làm tôi mừng rơn hồi nào, rằng cứ thả nổi cho chợ búa tự chạy thì mọi tin tức đang trôi nổi sẽ tự gộp hết lại thành đúng một cái giá duy nhất, khỏi cần ai đứng ra làm trọng tài. Hồi đó tôi tưởng đã vớ được đúng ông trọng tài mình cần tìm bấy lâu.
Nhưng cái đám tin tức mà chợ búa gộp lại đó, có phải là vật chất gốc đâu, chẳng ai khiêng thẳng được cái nền gốc ra chợ mà bán. Nó cũng chẳng phải cái mỗi người tự thấy trong đầu, vì cái chợ có đọc được bụng ai. Cái chợ chỉ đọc được đúng một thứ, là hành vi đã bị ép phẳng ra, một cú xuống tiền, một lệnh bán tháo, cả nghìn người khác nhau cùng bấm đúng một nút y hệt, dù trong đầu mỗi người nghĩ một nẻo trời ơi đất hỡi.
Gộp hết cái đám hành vi đã ép phẳng đó lại, chợ có gộp giỏi cỡ nào cũng chỉ đang gộp đúng cái đã rỗng ruột từ mấy bận nhồi trước, chứ có phép gộp nào hồi sinh lại được cái đã mất. Gộp giỏi hơn, hóa ra không có nghĩa là gộp đúng hơn.
Một cái nền dựng kiểu đó, cùng lắm chỉ đứng vững được theo đúng cái nghĩa khắc nghiệt nhất, là chưa bị cái gì bẻ gãy, chứ không phải đã có ai chứng minh cho là đúng.
Nhưng giá cả phần lớn vẫn nhích đúng hướng thật mà. Chẳng phải đó là bằng chứng rành rành rồi sao.
Tôi định gật gù đáp lại thì ngừng bặt. Câu đó nghe quen, y hệt câu vừa hỏi trước đó vài nhịp, chỉ đổi vài chữ, không tiến thêm được bước nào. Đúng hướng theo tiêu chuẩn nào, đo bằng thước nào, chính cái thước đó lại phải vay mượn từ một hệ khác, chẳng hề đứng ngoài để làm trọng tài trung lập được. Câu hỏi vừa rồi vòng lại đúng chỗ đã bị bẻ, không có gì mới, cứ như một cái máy hết trớn, còn quay nhưng không còn chạy tới đâu nữa.
Ngẫm cho tới cùng, tôi mới thấy rõ cái bế tắc thật sự. Không phải cái nền vật chất đúng, hay cái đám đông đồng thuận đúng. Mỗi cái đúng trong đúng sân chơi của nó. Chẳng có ai đứng ngoài cả hai sân mà phân xử được sân nào hơn sân nào.
Nếu không sân nào làm trọng tài của sân nào, thì ba mươi năm tôi ngồi khép hồ sơ, phán ai có tội ai vô tội, cũng chỉ là tôi chọn liều một sân chơi nào đó rồi tưởng nó là sự thật tuyệt đối, có khác gì Cô C tin sái cổ vào lời mụ B năm nào. Cái công lý tôi vẫn đinh ninh đứng ngoài mà phân xử, hóa ra cũng chỉ là một góc gương trong cả dãy gương, không hơn không kém.
Tôi bật cười khô một tiếng, đúng kiểu tự giễu vẫn quen. Ba mươi năm tưởng mình cầm cân công lý, hóa ra chỉ cầm đúng một cái gương chiếu hậu xe máy, còn chẳng biết lắp đúng góc.
Tôi ngoái lại nhìn dãy gương lần cuối trước khi rẽ sang phố khác. Cái bàn gỗ thấp vẫn đứng đó, chân khập khiễng kê gạch, không hề nhúc nhích suốt từ nãy giờ. Nhưng trong từng cái gương, nó vẫn cứ mỗi nơi một hình dạng, không cái nào chịu giống cái nào, và không có cách nào đứng hẳn ra ngoài tất cả những cái gương đó mà nhìn thẳng vào cái bàn gốc, nếu một cái bàn gốc như vậy còn tồn tại. Trong một cái gương méo mó nhất, tôi thấy thêm cả bóng mình lọt thỏm giữa đám xe cộ, cong vẹo, nhỏ xíu, y hệt cái bàn kia, cũng đang bị bóp méo qua đúng lớp kính đó. Không có gì đảm bảo cái người đang đứng nhìn vào gương, lại không phải chính là một hình chiếu khác, méo theo một kiểu khác, mà thôi.
Không phải cái bàn và cách tôi thấy nó đã nhập làm một. Mà tôi không còn cách nào đứng đủ xa để mà tách chúng ra được nữa, dù chỉ để hỏi xem chúng có đúng là một hay không.
Tôi rảo bước đi tiếp, đúng thói quen cũ, đúng con dã tràng ngày nào cứ ra biển xe cát dù sóng nào cũng cuốn trôi sạch. Chỉ khác, lần này tôi không còn chắc bãi cát dưới chân dã tràng có thật hay không.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.