Quyển 1: Cổ Nguyệt Đại Trận
Chương 71: Thoát Thai Hoán Cốt Không Phải Uống Vài Viên Thuốc
Sau khi đám người lần lượt ổn định thương thế, Anh Tịch bà mới thật sự trở lại bên giường Đình Khánh.
Gian phòng bên trong yên hơn hẳn ngoài sân. Hơi thuốc từ lò nhỏ đặt cạnh cửa sổ tỏa ra thành từng làn mỏng, quấn quanh mấy túi thảo dược treo trên vách rồi tan vào mái nhà thấp. Đình Khánh vẫn nằm trên giường trúc, khuôn mặt không có bao nhiêu sinh khí. So với lúc mới đến Vụ U Sơn, hơi thở của hắn đã đều hơn một chút, nhưng chỉ cần nhìn kỹ sẽ thấy mỗi nhịp thở đều rất nông, như thân thể này đang miễn cưỡng giữ lấy một sợi khí cuối cùng mà chưa chịu buông.
Anh Tịch bà đứng bên giường rất lâu.
Bà không lập tức châm kim, cũng không hỏi thêm. Đôi mắt già nua nhưng sắc sảo dừng trên từng điểm khí mạch của Đình Khánh, từ ấn đường, yết hầu, lồng ngực, xuống đến bụng dưới và hai đầu gối. Trong đầu bà hẳn đã xoay qua rất nhiều phương án, vì mấy lần đầu ngón tay bà khẽ nhúc nhích, như muốn đặt xuống một huyệt vị nào đó, rồi lại thu về. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy bà trầm mặc, nhưng Huyền Chấn đứng bên cạnh biết rõ: chính sự chậm trễ ấy mới chứng tỏ việc này khó.
Thoát thai hoán cốt không phải chữa một vết thương.
Nó là phá cái cũ, dựng cái mới, lại phải giữ hồn phách người bệnh ở giữa ranh giới mong manh ấy. Thể chất có thể chịu được việc này mấy trăm năm nay gần như chưa từng xuất hiện. Tiên Thiên Linh Thể của Đình Khánh cho họ một khả năng, nhưng khả năng không có nghĩa chắc chắn. Ván cược này nếu thua, hắn không chỉ tàn phế. Rất có thể ngay cả hồn phách cũng không giữ nổi.
Huyền Chấn hiếm khi không nói nhảm. Ông đứng một bên, Càn Khôn Chấn Linh Phiến khép lại trong tay. Vẻ mặt vẫn là cái kiểu thản nhiên khó đoán, nhưng ngón cái lại vô thức miết lên nan quạt. Một động tác rất nhỏ, lặp lại mấy lần.
Cuối cùng, Anh Tịch bà lên tiếng:
“Ta sẽ thử những cách ta biết. Nhưng ngươi đừng kỳ vọng quá.”
Huyền Chấn nhìn Đình Khánh, một lát sau mới đáp:
“Nhân duyên của thằng nhóc này còn rắc rối lắm. Sẽ không dễ đứt vậy đâu.”
Anh Tịch bà liếc ông.
“Ngươi nói như thể mình nhìn thấy được mệnh số của nó.”
“Không nhìn thấy.” Huyền Chấn đáp rất nhanh. “Nhưng ta còn chưa thu đủ tiền nợ. Nó mà đi, ta lỗ nặng. Trời đất có mắt, chắc không đến nỗi tàn nhẫn với ta như vậy.”
Anh Tịch bà nhìn ông thêm một nhịp, rồi thở ra.
“Miệng ngươi đúng là không cứu được.”
“Cứu người trước, cứu miệng ta sau cũng được.”
Bà không để ông tiếp tục. Tay áo khẽ phất lên, Tiểu Mãn lập tức bước tới, đặt chiếc hộp gỗ đựng kim châm, ba bình thuốc, một túi bột khoáng màu vàng đất và một cuộn phù trắng lên bàn. Anh Tịch bà mở nắp một bình thuốc. Mùi dược liệu vừa thoát ra, hơi thở yếu ớt của Đình Khánh như được kéo lại một chút.
“Trọng điểm không phải truyền thêm sức mạnh cho nó.” Anh Tịch bà nói, ánh mắt vẫn đặt trên thân thể Đình Khánh. “Thân thể hiện tại của nó không chứa nổi. Cứ nhồi linh lực vào chỉ làm kinh mạch vỡ thêm. Việc đầu tiên là giữ sinh cơ, sau đó nắn lại xương cốt, nối đường khí chính, làm kinh mạch chịu được Kim linh khí vốn có của Tiên Thiên Linh Thể.”
Huyền Chấn gật đầu.
“Mộc không thể nhập căn cơ.”
“Đúng vậy.” Bà đáp. “Nó thuộc Kim. Mộc khí nếu đi thẳng vào linh thể sẽ thành khắc chế. Nhưng dược tính Mộc vẫn có thể hộ sinh. Thuốc là thuốc, khí là khí. Dùng sai thì hại, dùng đúng thì giữ mạng.”
Bà lấy một viên đan màu xanh lá đậm, có mùi cỏ cây đắng và mùi rễ khô hòa lại, không thơm nhưng rất vững. Vì Đình Khánh bất tỉnh nên Anh Tịch bà đã dùng vụ đan, tức là đốt bằng kỹ thuật đốt đan dược của Linh Y đạo sư, rồi dùng luồng khói hơi đó dẫn và cơ thể qua mũi và miệng.
“Bước đầu, Thanh Mộc Hộ Sinh.”
Giọng Anh Tịch bà không cao, nhưng mấy người đứng ngoài cửa đều nghe rõ.
“Mộc chỉ giữ sinh lực, không nhập linh căn. Dùng dược liệu Mộc tính để níu hơi thở, giữ huyết khí, tránh trong lúc nắn cốt, đổi mạch thì thân thể suy kiệt mà tắt mệnh. Nói đơn giản, phải để nó còn đủ sức chịu đựng những bước sau.”
Đám người kia cũng cố giữ yên lặng để không làm bà ta phân tâm. Họ biết rõ tình trạng của Đình Khánh là thập tử nhất sinh. Không giống như họ, sai một chút có thể giết luôn hắn.
Thanh Mộc Hộ Sinh kéo dài suốt năm ngày.
Năm ngày ấy không có cảnh thiên lôi địa hỏa, cũng không có pháp quang bùng nổ. Tất cả đều diễn ra chậm, kỹ, gần như nhàm đến mức khiến người ngoài sốt ruột. Mỗi ngày Anh Tịch bà đều dùng dược dịch khác nhau lau qua các điểm mạch trên thân Đình Khánh, sau đó châm sáu cây Mộc châm ở quanh tim, gan, cổ tay và mắt cá chân để giữ huyết khí không tán.
Cứ cách ba canh giờ, Tiểu Mãn lại đen đan dược mới, vì không ai biết cách đốt đan được tạo vụ đan nên Anh Tịch Bà đều phải tự làm.
Có khi à vụ đan, có khi là nước rễ cây Kim Đằng đã qua luyện bỏ Mộc khí thô, có khi là vài giọt dịch thảo mộc xanh thẫm được Anh Tịch bà nhỏ trực tiếp lên ấn đường và mệnh môn. Dược lực đi vào thân thể hắn không làm khí tức mạnh lên ngay, chỉ như một sợi dây mảnh buộc lấy sinh cơ rời rạc, không để nó tiếp tục tản mất.
Huyền Chấn mấy ngày đầu còn đứng xem rất nghiêm túc. Đến ngày thứ ba thì bắt đầu ngáp. Đến ngày thứ tư, ông vừa ngáp vừa cắn hạt dưa. Đến ngày thứ năm, ông đã hoàn toàn nằm ngoài ghế tre mà cắn hạt dưa. Chu Cửu Nhi không nói gì nhiều, chỉ ngồi bên nhìn ông mỉm cười với đầy vẻ thú vị.
Đám người còn lại cũng không lười biếng trong thời gian ấy. Anh Tịch bà đã cho họ phương pháp Quy Tức Dẫn Mạch, lại dùng Kim Châm khai mạch rút ứ, nên ai cũng tự biết không thể phí cơ hội. Trường Thiên mỗi ngày đúng ba chu thiên, không hơn nửa nhịp. Sau khi chân khí Thiên Sư dần ổn, ngọc bài màu cam bên hông hắn không còn lúc sáng lúc tắt như ngày đầu.
Minh Triết ngồi dưới mái hiên tụng những đoạn kinh ngắn của Tây Phương Giáo, hơi thở phối với dược lực, từng chút đẩy chấn thương trong ngực ra ngoài. Có lúc ông ho ra máu bầm, Huyền Chấn đi ngang lập tức che mũi bảo “đầu trọc ngươi hư bên trong hơi nặng”, sau đó bị Anh Tịch bà ném một cái chén gỗ suýt trúng đầu.
An Kỳ và Cao Diệp Thư ở chung một gian phòng nhỏ bên phải. Diệp Thư mỗi ngày đều phải dẫn một sợi linh khí từ gương đồng vào cơ thể, không được nhiều hơn. Ban đầu nàng luôn nôn nóng, cảm thấy một sợi linh khí quá ít, nhưng chỉ sau hai lần thử, nàng đã hiểu vì sao Anh Tịch bà nghiêm khắc.
Linh khí trong gương nhìn qua dịu hòa, nhưng đối với kinh mạch chưa luyện của nàng, nó giống nước lũ đi vào mương hẹp. Nếu không có kim châm và Quy Tức Dẫn Mạch giữ đường, chỉ một chút quá mức cũng đủ khiến lồng ngực nàng nghẹn lại, hai tay run lên.
An Kỳ ngồi đối diện nàng, tự điều khí xong thì mở mắt nhìn.
“Đừng vội.”
Diệp Thư cắn môi, vẻ mặt không cam nói:
“Ta biết. Nhưng cảm giác bản thân quá chậm rất khó chịu.”
“Chậm còn hơn chết.”
Câu này rất thẳng, nhưng Diệp Thư lại nghe vào. Nàng nhìn gương đồng trên gối, rồi nhìn An Kỳ, hỏi:
“Chị lúc mới tu luyện cũng như vậy sao?”
An Kỳ im lặng một chút.
“Ta từ nhỏ đã bị ép luyện. Khi ấy không có thời gian nghĩ nhanh hay chậm. Làm sai thì đau, làm đúng thì tiếp tục. Lâu dần thành thói quen.”
Cao Diệp Thư nghe vậy, bỗng thấy những lời muốn than phiền đều nghẹn lại. Nàng cúi đầu, thử dẫn linh khí một lần nữa, lần này chậm hơn, nhẹ hơn. Một sợi khí từ gương đồng theo cổ tay vào mạch, qua ngực rồi lắng xuống bụng dưới. Cảm giác không còn chèn ép như trước.
An Kỳ nhìn nàng, khóe môi động rất nhẹ:
“Đúng rồi. Nhớ cảm giác đó.”
Diệp Thư mở mắt, mệt đến trán đổ mồ hôi, nhưng ánh mắt sáng hơn.
“Thì ra là vậy…”
…
Thanh Mộc Hộ Sinh kết thúc sau năm ngày. Sinh cơ của Đình Khánh đã được giữ lại, mệnh hỏa không còn chập chờn như lúc mới đến. Nhưng thân thể hắn vẫn chỉ là một cái khung sắp vỡ, được thuốc giữ cho chưa rơi ra từng mảnh. Sang giai đoạn thứ hai, Anh Tịch bà bắt đầu Hậu Thổ Sinh Kim.
Bà dùng địa tủy luyện thành cao, ngọc phấn nghiền rất mịn, thêm thổ tức lấy từ một mạch đất dưới Vụ U Sơn, trộn với đan dược chuyên bồi căn cốt. Hỗn hợp ấy không đưa vào người Đình Khánh một lần, mà chia thành nhiều lượt. Mỗi ngày, bà dùng Thổ châm mở bốn điểm ở lưng và hai điểm ở đầu gối, sau đó lấy dược lực thấm vào da, để nó đi xuống xương cốt trước rồi mới vào mạch.
“Thổ sinh Kim.” Anh Tịch bà nói khi Huyền Chấn đứng bên cạnh. “Kim của nó vốn có, nhưng hiện tại không có nền để tụ. Xương là giá, mạch là đường, khí là hơi. Nếu nền không ổn, Kim linh khí càng mạnh càng phá thân.”
Giai đoạn này kéo dài đúng bảy ngày.
Bảy ngày ấy đòi hỏi sự kiên nhẫn gần như khắt khe. Mỗi canh giờ đều phải kiểm lại thân nhiệt, mạch đập, phản ứng của linh thể. Đình Khánh có lúc sốt nhẹ, có lúc cả người lạnh đi, có lúc xương khớp phát ra tiếng rất nhỏ như gỗ khô co lại. Cao Diệp Thư lần đầu nghe thấy đã đứng bật dậy, mặt trắng đến dọa người. Anh Tịch bà chỉ nói một câu “xương đang nhận dược lực”, nàng mới miễn cưỡng ngồi xuống, nhưng cả buổi sau không rời cửa phòng.
Đến ngày thứ ba của Hậu Thổ Sinh Kim, Huyền Chấn bỗng đem Thất Tinh Càn Nguyên Kiếm đặt bên cạnh Đình Khánh.
Thanh kiếm nằm ngay ngắn cạnh giường, vỏ kiếm không mở, nhưng khí tức Kim hệ từ thân kiếm vẫn tỏa ra rất rõ. So với những loại kim khí sắc bén bình thường, cương khí của Càn Nguyên Kiếm ổn hơn nhiều, có một loại chính khí dứt khoát và cứng cáp, rất phù hợp với căn cơ của Đình Khánh.
Anh Tịch bà nhìn thanh kiếm, mày nhíu lại.
“Ngươi lại muốn làm gì?”
Huyền Chấn vội nói:
“Không thêm bừa. Càn Nguyên Kiếm là chí bảo thuộc Kim, đồng bộ với linh thể của Đình Khánh. Không rút kiếm, không dẫn cương khí mạnh, chỉ đặt cạnh để nó giữ Kim vị. Như vậy lúc Thổ khí bồi nền, cơ thể nó có thể tự động hấp thu linh khí của Càn Nguyên.”
Anh Tịch bà không đáp ngay. Bà nhìn thanh kiếm rất lâu, có vẻ không hoàn toàn đồng ý. Nhưng cuối cùng, bà không ngăn cản.
“Không được để kiếm khí động.”
“Ta biết rồi.” Huyền Chấn lập tức đáp. “Càn Nguyên mà dám động bừa, ta nhét vào chum gạo.”
Trong vỏ kiếm, dường như có một tiếng ngân rất nhỏ vang lên, nghe qua giống bất mãn.
Huyền Chấn chỉ vào kiếm.
“Nghe chưa? Chum gạo.”
Thanh kiếm im bặt.
Anh Tịch bà nhìn cảnh ấy, không biết nên mắng người hay mắng kiếm.
Ngoài sân, Huyền Chấn nằm phè trên ghế tre. Hết ăn vặt lại ngủ, hết ngủ lại lẩm bẩm đói bụng. Mấy ngày trôi qua bình lặng đến mức khiến người ta gần như quên mất họ mới vừa bò ra từ một cổ mộ ngàn năm.
Vụ U Sơn mưa rồi tạnh, tạnh rồi lại mưa. Kỳ Môn cục ngoài rừng vẫn lặng lẽ vận chuyển, không cho người ngoài đi vào. Thỉnh thoảng, xa xa có tiếng chim lạ vang lên rồi tắt ngay. Căn nhà tranh giống một điểm dừng nhỏ, tạm thời cắt đoàn người khỏi những nguy hiểm đang chờ bên ngoài.
Một buổi chiều, Diệp Thư ngồi dưới hiên, nhìn Huyền Chấn đang nằm nghiêng trên ghế tre, bụng phơi ra, tay còn cầm nửa cái bánh.
Nàng nhịn một lúc, cuối cùng hỏi Anh Tịch bà đang phơi thuốc gần đó:
“Rõ ràng ông ta cũng bị thương khi đánh Thi Vương, còn tiêu hao chân khí nhiều như vậy. Tại sao lại không nặng như chúng ta?”
Anh Tịch bà không ngẩng đầu, chỉ dùng kẹp trúc gắp từng lát thuốc đặt lên nia.
“Tên tiểu tử đó, các ngươi không thể đem ra so với mình được.”
Diệp Thư ngẩng đầu nhìn bà. Anh Tịch bà đặt xong lát thuốc cuối cùng, lúc này mới liếc Huyền Chấn một cái. Ông nằm ngoài kia như không nghe thấy, nhưng tai rõ ràng hơi động.
“Thậm chí sư phụ nó cũng không hiểu hết được nó. Kẻ được thiên tượng khóa chân thân, tốt nhất đừng nhiều chuyện.”
Cao Diệp Thư nghe không hiểu hết, nhưng mấy chữ “khóa chân thân” làm nàng nhớ đến rất nhiều chuyện quanh Huyền Chấn: Âm Ty nhún nhường, Thất Tinh Càn Nguyên Kiếm bị hạn chế, thân phận Nhân Gian Thần Quan, những lời Dương Niệm Sinh từng nói trong cổ mộ. Thậm chí cả nữ nhân trong gương cũng úp úp mở mở. Nàng còn muốn hỏi thêm, nhưng Anh Tịch bà đã thu nia thuốc lại, rõ ràng không định nói tiếp.
Ngoài hiên, Huyền Chấn trở mình, lầu bầu:
“Hiển nhiên cao nhân ta thế gian không có người thứ hai.”
Diệp Thư cuối cùng thu lại suy nghĩ: “Có lẽ ông ta chắc cũng là kẻ bị thần kinh thôi.” nói xong nàng đi vào trong.
…
Bảy ngày Hậu Thổ Sinh Kim kết thúc, thân thể Đình Khánh đã có thay đổi rõ ràng. Da mặt vẫn tái, người vẫn chưa tỉnh, nhưng hơi thở có lực hơn trước. Khi Anh Tịch bà đặt tay lên mạch, Kim linh khí trong người hắn đã không còn tán loạn như mảnh vụn bị gió cuốn, mà bắt đầu tụ về vài đường chính. Xương cốt bên trong tuy còn tổn thương, nhưng đã có dấu hiệu tiếp nhận dược lực.
Đến bước tiếp theo, Anh Tịch bà thu lại toàn bộ thuốc Thổ tính.
“Văn Hỏa Luyện Kim Thân.”
Sau khi Thổ khí đã lập nền, phải dùng hỏa rất nhỏ, rất ổn định để luyện lại Kim khí trong thân Đình Khánh. Hỏa này không phải để đốt, càng không phải hỏa chú trừ tà. Nó giống lửa trong lò luyện, không bùng lên, không táp ra ngoài, chỉ giữ một mức nhiệt vừa đủ để ép âm khí, thi khí và tạp khí còn sót lại trong xương mạch rời ra. Nếu lửa quá yếu, tạp khí không ra. Nếu quá mạnh, Kim linh thể bị kích động, kinh mạch mới ổn một chút sẽ nứt trở lại.
Anh Tịch bà dựng một lò văn hỏa bằng sáu viên đá đỏ quanh giường. Giữa sáu viên đá đặt phù Hỏa nhưng không đốt bằng chân hỏa của Huyền Môn, mà dùng một loại thảo mộc phơi khô màu đỏ nâu. Khi châm lên, lửa không lớn, chỉ âm ỉ dưới lớp tro mỏng, tỏa ra hơi ấm rất đều.
Bà dùng Hỏa châm châm vào các điểm quanh vai, ngực, bụng dưới và hai chân Đình Khánh. Mỗi lần kim rung, trong cơ thể hắn lại có một sợi khí đục bị ép ra ngoài qua đầu kim, rồi bị phù giấy hứng lấy, đốt thành tro.
Giai đoạn này cũng mất bảy ngày. Bởi vì Anh Tịch bà cần cẩn thận điều chỉnh kim châm và liên tục truyền hỏa khí qua kim châm để nắn lại xương và kinh mạch.
Những ngày ở Vụ U Sơn, không ai dám đi lung tung. Trường Thiên mấy lần quan sát cục trận, càng nhìn càng cảm thấy cách bố trí của Anh Tịch bà rất tinh diệu. Nó không dọa người bằng sát trận, nhưng mỗi phương vị đều vừa đủ để khiến người vô duyên tự rời khỏi.
Chỉ có Huyền Chấn thi thoảng đi dạo.
Nói là đi dạo, thật ra là ông tự xách quạt chui vào rừng một lúc. Mỗi lần ông biến mất sau đám cây ướt, Anh Tịch bà đều trừng mắt nhìn theo, ánh mắt không quá lộ nhưng tuyệt đối không phải không quan tâm.
Chu Cửu Nhi ngồi dưới mái hiên nhìn thấy hết. Nàng không hỏi, cũng không nhắc, chỉ thỉnh thoảng đưa mắt về phía rừng cây, nơi sắc áo mã quái của Huyền Chấn biến mất trong màn sương, nhẹ nhàng mỉm cười.
Hôm nọ ông ta trở về với một con thỏ nhỏ, nói là thấy nó hiền lành nên bắt về chơi cho đỡ chán. Cũng chẳng ai quan tâm lắm, ít ra có con thỏ, cái miệng ông ta cũng bớt đi gây nghiệp.
Vài ngày sau, Huyền Chấn kêu là chán rồi nên quyết định đem nó thả vào rừng.
Trưa hôm đó, Huyền Chấn nằm trên ghế tre, ánh mắt đặt lên con thỏ, sau đó quay sang Chu Cửu Nhi ngồi bên cạnh thắc mắc:
“Rõ ràng là ta đã thả nó đi rồi… làm sao con thỏ này vẫn loay hoay nửa ngày vẫn ở đây. Hay là nó thực sự bị mê hoặc bởi vẻ cao nhân của ta nhỉ?”
Chu Cửu Nhi không nói gì. Ánh mắt nàng đối lại ông bằng một chút sâu lắng.
Đúng lúc này, Tiểu Mãn đem thức ăn lên cho Huyền Chấn.
Đó là một bát mì thuốc nấu với nấm núi, rau non và vài lát thịt thú rừng khô. Huyền Chấn nhận lấy, vừa ngửi đã gật gù.
“Tiểu Mãn cô nương, tay nghề không tệ.”
Tiểu Mãn mỉm cười, đặt thêm một đĩa bánh nhỏ bên cạnh.
Huyền Chấn nhìn cô gái một lúc. Cô không nói được, nhưng động tác rất gọn gàng, ánh mắt cũng trong trẻo, không có vẻ sợ đám người xa lạ như bọn họ. Hơn nữa mấy ngày nay, từ thuốc thang, cơm nước đến phòng ở, gần như đều do nàng lặng lẽ xử lý. Nếu không có Tiểu Mãn, Anh Tịch bà chắc chắn không rảnh tay chăm cả một đám thương binh như vậy.
“Này cô gái.” Huyền Chấn cắn một miếng bánh, hỏi rất tự nhiên. “Cô theo Anh Tịch bà được bao lâu rồi? Sao trước đây ta chưa từng thấy cô?”
Tiểu Mãn chớp mắt, sau đó dùng tay ra hiệu vài cái. Huyền Chấn nghiêm túc nhìn một hồi rồi lắc đầu nói:
“Không hiểu…”
Tiểu Mãn cười, hai vai rung nhẹ. Huyền Chấn thấy vậy cũng không xấu hổ. Đột nhiên ánh mắt ông sáng lên, Huyền Chấn lần mò trong tay áo một lúc, như đang tìm thứ gì đó giữa một kho đồ lộn xộn. Một lát sau, ông lấy ra một cây trâm bạc.
Cây trâm không lớn, thân trâm thon, đầu trâm khắc hình cánh hoa và vài đường vân mây uốn lượn.
Huyền Chấn đưa cho Tiểu Mãn, nói:
“Cái này cho cô. Hôm nọ ta nhặt được trong cổ mộ Thi Vương. Rất sạch sẽ, có thể cài được. Xem như món quà cảm ơn cô đã chăm sóc Anh Tịch bà.”
Nói câu sau, ông cố tình nâng giọng để người trong nhà nghe được.
Quả nhiên, bên trong lập tức vang ra tiếng hừ lạnh của Anh Tịch bà:
“Tiểu tử nhà ngươi bây giờ còn biết đi nịnh đứa hầu cho ta. Thật mất mặt.”
Huyền Chấn cười cười cười đáp:
“Anh Tịch bà, ta đây gọi là hiểu lễ nghĩa. Năm xưa bà đánh ta nhiều như vậy, nay ta tặng quà cho người bên cạnh bà, cũng xem như báo đáp gián tiếp.”
“Ngươi bớt nói hai câu đã là báo đáp rồi.”
Tiểu Mãn nhận trâm, mắt sáng lên. Nàng nhìn trái nhìn phải rất lâu, rồi cẩn thận cài lên tóc. Trâm bạc nằm trên mái tóc đen, vừa vặn đến bất ngờ. Nàng vui vẻ xoay một vòng nhỏ, sau đó đưa tay ra hiệu liên tục với Huyền Chấn, có lẽ đang cảm ơn.
Huyền Chấn gật đầu rất sâu sắc. Tiểu Mãn lại cười, rồi bưng khay trống đi vào trong.
An Kỳ từ đầu đến cuối nhìn cây trâm, ánh mắt đã thay đổi. Ánh mắt nàng trầm xuống, giọng có chút kinh ngạc thốt lên:
“Huyền Chấn, cây trâm đó…”
Huyền Chấn phe phẩy quạt, thản nhiên cắt lời:
“Ta không tặng cô, cô tức à?”
An Kỳ sững lại. Ánh mắt Huyền Chấn đối diện trực tiếp với ánh mắt An Kỳ vài nhịp thở rồi gật đầu một cái, nói:
“Thôi, lần sau ta kiếm được cây nào xấu hơn sẽ tặng cô. Cây đẹp như vậy không hợp với khí chất hung dữ của cô nương bún.”
An Kỳ đứng im một nhịp, đồng tử khẽ co lại rồi sau đó nàng nghiến răng:
“Đê tiện… cái lão háo sắc vô sỉ này!”
Huyền Chấn làm bộ bình thản, cầm bánh lên ăn tiếp, bộ dạng nhàn nhã:
“Đúng là nữ nhân. Đạo tâm chưa tĩnh mà.”
An Kỳ quay người đi vào trong, vừa hay Trường Thiên đứng đó. Hắn hẳn đã chứng kiến toàn bộ, vẻ mặt vẫn điềm đạm, nhưng khóe mắt có cong xuống.
Ánh mắt hai người giao nhau thoáng qua. An Kỳ lạnh lùng nói:
“Xem sư huynh của ngươi đi. Tật xấu nào mà không có.”
Trường Thiên gật đầu, bất lực cười trừ.
Trong thời gian đó, mọi người tiếp tục tu luyện theo hướng dẫn của bà. Diệp Thư đã có thể dẫn linh khí từ gương đồng nhiều hơn và chắc hơn, cô biết cách phải giao tiếp với gương đồng để hai người hiểu nhau.
An Kỳ thương thế ổn dần, khí tức Liên Tông khôi phục độ sắc bén vốn có. Trường Thiên dùng ba chu thiên mỗi ngày, chân khí Thiên Sư được điều chỉnh dồi dào mạnh mẽ hơn, vì vốn trước đó hắn ta đã khổ cực tu luyện tâm pháp khá nhiều. Minh Triết thỉnh thoảng phụ Tiểu Mãn bổ củi, gánh nước, miệng nói là tích công đức, nhưng Huyền Chấn vẫn quy hết vào “phí ăn ở”.
Mọi thứ bình lặng đến mức có chút nhàm chán.
Huyền Chấn là người chịu không nổi nhất. Ông hết ngáp rồi ăn vặt, hết ăn vặt lại ngủ, tỉnh dậy đi dạo, đi dạo về lại hỏi có cơm chưa. Có lần Anh Tịch bà bảo ông nếu rảnh thì đi giã thuốc, ông ôm bụng nói “long thể sau trận Thi Vương chưa lành”, kết quả bị bà ném cho cái chày đá, suýt nữa đập trúng chân.
Đến ngày thứ bảy của Văn Hỏa Luyện Kim Mạch, Thất Tinh Càn Nguyên Kiếm bên cạnh giường bỗng ngân nhẹ nhiều lần. Anh Tịch bà lập tức nhíu mày.
“Tiểu Tử Chấn, đem cất thanh kiếm này cho ta.”
Huyền Chấn đang ở ngoài hiên nghe gọi thì khệnh khạng đi vào, miệng còn nhai bánh.
“Sao Anh Tịch bà không tự cất đi, còn kêu ta vào? Bà không phải nói ta ra ngoài đừng làm phiền sao?”
Anh Tịch bà liếc ông, trán nổi gân lên:
“Đồ của ngươi thì ngươi tự giữ. Còn trả treo?”
Bà vừa trừng mắt, Huyền Chấn đã vội nuốt bánh, bước tới cầm Thất Tinh Càn Nguyên Kiếm bỏ vào tay áo. Chỉ cần ông liếc qua một cái, dù cho mấy ngày qua không vào đây nhưng cũng đủ biết, thanh kiếm vẫn chưa hề bị xê dịch.
Sau khi cất kiếm, Anh Tịch bà kiểm lại mạch Đình Khánh lần cuối, rồi bảo Minh Triết đưa hắn vào một bể nước nhỏ đặt phía sau nhà. Bể được làm bằng đá xám, không lớn, chỉ vừa đủ để một người nằm nửa thân. Bên trong đã đổ đầy linh thủy và dược liệu. Mặt nước có màu xanh ngọc rất nhạt, trên đó nổi vài lát rễ trắng, đá khoáng nghiền, cùng mấy lá thuốc mềm đã được loại bỏ Mộc khí thô. Hơi nước bốc lên không nóng, chỉ ấm vừa đủ.
“Bước cuối cùng, Linh Thủy Định Mạch.”
Anh Tịch bà đứng bên bể, chậm rãi nói:
“Sau khi Kim khí được luyện lại, phải dùng linh thủy để tôi và định mạch. Kim quá sắc sẽ tự thương thân. Thủy làm dịu phần sắc đó, khóa khí tức vào đúng đường, để kinh mạch mới bền chắc.”
Minh Triết cẩn thận đặt Đình Khánh vào bể. Nước thuốc vừa chạm vào thân thể hắn, mặt nước lập tức nổi lên nhiều vòng gợn nhỏ. Những điểm chu sa Anh Tịch bà đánh dấu trên người hắn lần lượt nhạt đi, thay vào đó là các đường khí mảnh chuyển động dưới da. Không rõ ràng, nhưng có thể thấy chúng đang dần nối lại theo những mạch chính.
Huyền Chấn đứng bên cạnh, tay nắm Càn Khôn Phiến chặt hơn thường ngày.
Anh Tịch bà lấy ba cây kim cuối cùng trong bộ Thông Huyền Kim Châm, châm vào ấn đường, mệnh môn và khí hải của Đình Khánh. Sau đó bà dùng tay trái đặt lên mặt nước, tay phải nặn quyết.
Nước trong bể chậm rãi xoay.
Không nhanh, không mạnh. Nhưng mỗi vòng xoay đều kéo theo dược lực đi qua thân thể Đình Khánh một lượt. Những chỗ xương cốt từng bị phản chấn, những đoạn kinh mạch từng rạn vỡ, những điểm khí tức từng tắc nghẽn đều được linh thủy tôi qua, như kim loại vừa ra khỏi lò được đặt vào nước để giữ hình.
Anh Tịch bà nói công đoạn này cũng phải mất năm đến bảy này. Ai nấy đều vô cùng hồi hộp vì đây là bước cuối cùng rồi, không biết liệu hắn có tỉnh hay không. Hiện tại họ có thể nhìn ra một tầng kim quang mỏng bao quanh người hắn.
Đến đây, Anh Tịch bà đột nhiên quay sang nhìn Huyền Chấn nói:
“Ta còn một việc muốn ngươi làm. Một thứ giúp hắn tỉnh lại nhanh hơn.”
Huyền Chẩn ngẩn ra, cuối cùng cũng có thứ cho ông làm:
“Là chuyện gì?”
Anh Tịch bà cười nhẹ, nói ra vài chữ trong miệng:
“Đi bắt yêu!”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.