Chương 4: Vi Khuẩn Lam
Khi ánh mặt trời đầu tiên chiếu xuống, thời gian bên trong không gian đã trôi qua thêm vài chục năm.
Nhiệt độ dần tăng lên.
Băng tuyết bắt đầu tan chảy.
Đại dương cùng mặt đất từng bước hồi sinh.
Những sinh vật bị đóng băng suốt 5000 năm cuối cùng cũng được giải thoát khỏi lớp băng vĩnh cửu.
Phần lớn đã chết nhưng vẫn còn số ít còn sống sót. Tuy số lượng còn sống sót không nhiều, nhưng trong đó vẫn tồn tại một số sinh vật có khả năng quang hợp.
Dường như 5000 năm đóng băng vẫn chưa đủ để hủy diệt hoàn toàn chúng.
Khi ánh sáng, nước cùng CO₂ đồng thời xuất hiện trở lại, những sinh vật ấy lập tức bắt đầu quang hợp.
Đó cũng chính là khởi đầu mới của hệ sinh thái nơi thế giới này.
Lại trôi qua thêm 2 giờ, mà bên trong không gian đã là 10 triệu năm.
Cùng với sự hồi sinh của các sinh vật có khả năng quang hợp, nồng độ oxy trong thế giới bắt đầu tăng mạnh.
Trong số đó tồn tại một loài vi khuẩn lam có tốc độ sinh sôi cực kỳ đáng sợ. Chỉ sau 1 triệu năm ngắn ngủi, chúng đã phủ kín toàn bộ đại dương bằng một màu xanh thẫm.
Tầng tầng lớp lớp vi khuẩn lam nổi trên mặt nước, tạo thành một “thảm độc” khổng lồ, ngăn ánh sáng xuyên xuống đáy biển.
Những sinh vật sống dưới nước dần mất đi nguồn sáng để quang hợp, môi trường sống cũng theo đó mà bị thu hẹp từng chút một.
Dưới hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, một số loài bắt đầu tiến hóa theo hướng rời khỏi mặt nước.
Nhưng thế giới này, suy cho cùng, cũng chỉ là một không gian nhân tạo.
Nơi đây không tồn tại một chu trình khí hậu hoàn chỉnh, lượng nước bốc hơi khỏi đại dương chưa từng quay trở lại dưới dạng mưa.
Mà cũng chính vì vậy, trên đất liền, mặt đất trở nên khô cằn, gần như không còn dấu vết của sự sống.
Sau hàng triệu năm, mực nước biển bắt đầu hạ xuống từng chút một. Trước sự biến đổi của đại dương, vô số loài sinh vật bị ép đến bờ vực tuyệt chủng.
Thế nhưng tiến hóa chưa từng dừng lại.
Sau hàng triệu năm cạnh tranh trong đại dương tối tăm, một vài loài dần từ bỏ hoàn toàn khả năng quang hợp. Chúng bắt đầu hấp thu chất hữu cơ từ xác sinh vật chết cùng vi khuẩn lam, đồng thời sử dụng lượng oxy dồi dào trong khí quyển để tạo ra năng lượng hiệu quả hơn.
Đó là lần đầu tiên trong lịch sử của thế giới này xuất hiện những sinh vật hô hấp hiếu khí thực thụ.
Cũng nhờ sự tiến hóa ấy, số lượng vi khuẩn lam đã giảm đi một cách rõ rệt vì chính nó đã trở thành thức ăn của những sinh vật tiến hóa.
Tất nhiên, vi khuẩn lam cũng không vì thế mà tuyệt chủng, ngược lại dù cho có sinh sản bao nhiêu thì vẫn sẽ trở thành thức ăn, khiến nó trở nên cân bằng.
Sâu bên trong lục địa là vùng đất chết nên việc sống gần đại dương trở thành địa điểm sống lý tưởng cho các loài sinh vật tiến hóa với mục đích lên bờ.
Có nước, có thức ăn, có ánh sáng, có oxy.
Theo thời gian, những sinh vật nhỏ bé ấy dần tụ tập lại với nhau, hình thành nên từng quần thể sơ khai. Dù phương thức hoạt động vẫn còn vô cùng đơn giản, chỉ dựa trên bản năng và phản ứng sinh học nguyên thủy, nhưng việc chúng bắt đầu sống tập trung đã khiến tốc độ sinh tồn tăng lên đáng kể.
Các hoạt động thường ngày của những sinh vật nhỏ này chỉ quanh đi quẩn lại là đi săn rồi sinh sản, mà cũng chính vì vậy, số lượng sinh vật trong thế giới bắt đầu bùng nổ với tốc độ đáng sợ.
Các quần thể ngày càng mở rộng, kéo theo lượng thức ăn cần thiết cũng tăng lên không ngừng.
Nhưng tốc độ sinh sản của vi khuẩn lam cuối cùng vẫn có giới hạn. Dù chúng từng phủ kín cả đại dương, cũng không thể mãi chống đỡ sự tiêu thụ khổng lồ của vô số sinh vật săn mồi.
Các sinh vật không có ý thức nên bọn nó không hiểu nhưng Nguyễn Tĩnh An ngồi ngoài quan sát lại hoàn toàn hiểu được và biết trước tiếp theo sẽ xảy ra vấn đề gì.
Quả nhiên không ngoài dự đoán.
Chỉ sau vài chục nghìn năm, số lượng vi khuẩn lam đã sụt giảm đến mức gần như sụp đổ hoàn toàn.
Những sinh vật phụ thuộc vào chúng lập tức rơi vào khủng hoảng. Và chỉ với vài chục năm, một nửa của các giống loài đã chết.
Giữa cơn đói khát, những cá thể có khả năng săn giết đồng loại hoặc những sinh vật khác bắt đầu sống sót.
Và kể từ khoảnh khắc ấy, cuộc chiến sinh tồn thật sự giữa các giống loài… mới chính thức bắt đầu.
Mặt khác.
Tại một góc của thế giới, trong vô số sinh vật săn mồi mới xuất hiện, có một vài cá thể đã nuốt lấy vi khuẩn lam nhưng không tiêu hóa hoàn toàn chúng. Những vi khuẩn lam còn sống tiếp tục hấp thụ ánh sáng bên trong cơ thể vật chủ, đổi lại chúng được bảo vệ khỏi môi trường bên ngoài.
Đó cũng là một trong những hình thức cộng sinh đầu tiên xuất hiện trên thế giới này
Vậy chúng nó sẽ ăn gì? Dĩ nhiên, chúng vẫn tiếp tục săn và ăn vi khuẩn lam như trước.
Chỉ là khác với những sinh vật khác, chúng sẽ giữ lại một phần nhỏ bên trong cơ thể, còn phần lớn vẫn bị tiêu hóa thành thức ăn. Bọn chúng sống cộng sinh với nhau kéo dài hàng triệu năm, cuối cùng vi khuẩn lam mất đi khả năng hoạt động độc lập trở thành bào quan trong tế bào vật chủ.(lục lạp)
Điều đó mang lại cho chúng một lợi thế mà những sinh vật khác không có. Ngay cả khi môi trường thiếu hụt thức ăn, chúng vẫn có thể hấp thụ ánh sáng để duy trì sự sống.
Theo thời gian, khi số lượng vi khuẩn lam ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm, khả năng quang hợp dần trở thành nguồn năng lượng chính của chúng. Nhưng so với việc trực tiếp săn mồi và tiêu hóa vi khuẩn lam, hiệu suất của quang hợp thấp hơn rất nhiều. Vì vậy, cơ thể của chúng bắt đầu thay đổi theo một hướng khác.
Những cơ quan dùng cho săn mồi và tiêu hóa dần thoái hóa. Chúng không còn lang thang khắp nơi mà bám cố định tại những vùng nước nông ven bờ, nơi ánh sáng luôn dồi dào để duy trì quang hợp.
Đó có thể xem là hình thái thực vật nguyên thủy đầu tiên của thế giới này, sinh trưởng dọc theo các bờ biển và hồ nước.
Trong khi một phía của thế giới vẫn duy trì trạng thái phát triển ổn định, thì ở phía bên kia, các sinh vật cũng bắt đầu bước vào quá trình tiến hóa và thích nghi mới.
Việc săn giết con mồi đòi hỏi ngày càng nhiều yếu tố hơn, trong đó quan trọng nhất chính là tốc độ và khả năng khống chế mục tiêu. Chỉ dựa vào những phản ứng cảm nhận nguyên thủy đã không còn đủ để truy đuổi hoặc trốn thoát nữa.
Phần lớn sinh vật lúc ấy vẫn chỉ có thể thông qua dao động của dòng nước cùng sự thay đổi của môi trường xung quanh để xác định vị trí con mồi. Nhưng cũng chính dưới áp lực sinh tồn ấy, những cá thể thích nghi sớm nhất bắt đầu xuất hiện.
Cơ thể của chúng dần tiến hóa ra những phần mô kéo dài mềm mại, dùng để hỗ trợ di chuyển và bắt giữ con mồi.
Đây được xem là bước ngoặt đầu tiên trong lịch sử tiến hóa của giới động vật. Từ những dải mô mềm đơn giản ấy, về sau sẽ hình thành nên xúc tu, chân, cánh và vô số cơ quan vận động phức tạp khác.
Nguyễn Tĩnh An trở nên cực kỳ kích động.
Hàng chục triệu năm tiến hóa chỉ trôi qua trong vài giờ ngắn ngủi bên ngoài. Đối với thế giới ấy, lịch sử vừa được viết nên. Nhưng đối với cậu, tất cả chỉ diễn ra trong lúc cậu ngồi lặng lẽ quan sát.
Nguyễn Tĩnh An nhìn thấy quá trình tiến hóa này liền không thể không xem tiếp, nhưng bụng cậu đã réo lên liên tục, nên cậu không thể không trở lại trong nhà để ăn sáng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.