Chương 4: Bà Sáu
Tôi tỉnh dậy, đầu nặng trịch và cổ họng khô khốc.
Gió lùa qua khe cửa chớp mang theo tiếng máy cày nổ phành phạch ngoài đường cái và tiếng người í ới gọi nhau đi chợ. Mảng trần nhà ố vàng hiện ra lờ mờ. Dòng chữ trắng sắc lẹm trên màn hình chiếc điện thoại cũ đêm qua vẫn lởn vởn trong đầu, nửa như một trò đùa dai, nửa như một điều gở.
Tôi vục mặt vào chậu nước giếng khoan nồng mùi phèn, súc miệng qua loa rồi xỏ đôi dép lê bước ra sân. Bụng cồn cào rỗng tuếch. Cái tủ lạnh dưới bếp chẳng có gì ngoài nửa chai nước mắm đóng cặn với mấy chai nước lọc Tuấn mang sang.
Khóa cổng xong, tôi đi bộ ra hướng chợ Tân Minh.
Đường làng bê tông mấp mô, bụi xi măng từ mấy đống cát vật liệu xây dựng hai bên đường bay mù mịt, quẩn vào mắt cay xè. Tiếng dao nện chan chát xuống mặt thớt gỗ nghiến của sạp thịt lợn đầu chợ dội lại chát chúa.
Quán bánh cuốn của bà Sáu nép dưới gốc bàng rụng trơ cành, che chắn bằng manh bạt xanh rách bươm đã bạc màu vì nắng quái. Bốn cái bàn nhựa đỏ dính mỡ cáu bẩn, chân kê gập ghềnh trên nền đất ẩm.
Nồi nước tráng bánh bằng nhôm to đùng đặt trên bếp than tổ ong đang bốc khói nghi ngút, phả ra mùi bột gạo chín ấm nồng quyện với mùi hành phi thơm nức mũi.
Bà Sáu đang ngồi sau nồi hấp, lưng hơi còng xuống. Bà mặc chiếc áo bà ba màu nâu đã sờn cổ, tóc bạc quá nửa bới gọn sau gáy bằng một chiếc kẹp nhựa gãy mất một răng. Đôi tay gầy guộc, nổi đầy gân xanh của bà thoăn thoắt dùng que tre mỏng lách quanh mép nồi, nhấc tấm bánh cuốn mỏng dính, trắng muốt ra chiếc mâm nhôm rồi rải một thìa thịt băm mộc nhĩ lên trên.
"Bà cho cháu một đĩa bánh cuốn nhiều hành phi với ạ." Tôi kéo chiếc ghế nhựa thấp tè, ngồi thụt lùi vào góc khuất dưới bóng râm.
Bà Sáu ngẩng đầu lên. Đôi mắt kèm nhèm, đục mờ vì tuổi tác khẽ nheo lại dưới ánh nắng sớm. Bà nhìn tôi chằm chằm mất vài giây, rồi khóe miệng móm mém bỗng giãn ra thành một nụ cười:
"Khang đấy à cháu? Về bao giờ thế này?"
Tôi khựng lại. Đã sáu bảy năm tôi không ghé cái quán này.
"Dạ, cháu mới về tối qua bà ạ."
"Thằng Tuấn sáng sớm nay đi mua đồ ăn có kể qua rồi," bà Sáu lẩm bẩm, tay rải một nhúm thịt băm mộc nhĩ xào lên mặt bánh rồi cuộn tròn lại. "Khổ thân thằng bé... Bố cháu đi đột ngột quá. Hôm đưa tang ông Thành, chân bà đau khớp tấy lên không đi bộ ra nghĩa trang được, chỉ đứng trước ngõ thắp cho ông ấy nén nhang. Bố cháu tốt tính lắm, ngày nào đi dạy về cũng tạt qua đây, khi thì ăn đĩa bánh cuốn, khi thì ngồi uống chén nước chè hỏi han bà mấy câu..."
Bà đặt đĩa bánh cuốn nóng hổi, rắc ngập hành phi vàng ruộm cùng một bát nước chấm thơm phức trước mặt tôi.
"Ăn đi con. Hồi bé tí, cứ thứ hai đầu tuần là bố mày lại đèo xe đạp kẽo kẹt ra đây, mua cho mày gói xôi xéo năm nghìn. Mày hồi đấy còi như cái que, ngậm hạt xôi nửa tiếng không chịu nuốt, ông ấy cứ phải dỗ từng miếng..."
Tôi cầm đôi đũa tre dính dầu mỡ, nhìn đĩa bánh bốc khói nghi ngút mà hai hàm răng tự nhiên cắn chặt lại.
Tôi chẳng nhớ nổi mặt mũi chiếc xe đạp Phượng Hoàng của ông, cũng chẳng nhớ mình ngồi ở gốc bàng này bao nhiêu lần. Ký ức trong tôi chỉ còn sót lại những trận cãi vã tóe lửa, cái nhìn lạnh tanh của ông trước ngày tôi bỏ lên thành phố, và món nợ hàng trăm triệu đang chờ chực nuốt chửng tôi trên kia.
Tôi nuốt vội miếng bánh cuối cùng, đảo mắt nhìn quanh. Quán chưa có thêm khách. Tôi hắng giọng, cố ghìm cho câu hỏi nghe thật vu vơ:
"Bà Sáu ơi..."
"Gì thế cháu?" Bà Sáu với tay lấy chiếc khăn lau mặt bàn nhôm.
"Cháu... cháu dọn phòng làm việc của bố cháu, thấy có ghi chép nhắc đến một cái hộp thiếc..." Tôi lựa lời, cố làm cho câu hỏi nghe tự nhiên nhất có thể. "Hình như bố cháu có giữ hộ bà cái hộp thiếc gì đó phải không ạ?"
Miếng giẻ lau trên tay bà Sáu dừng phắt lại.
Tiếng nước sôi ùng ục dưới đáy nồi bỗng rõ mồn một. Nét mặt xởi lởi của bà cụ co rút lại, khóe miệng móm mém giật nhẹ một cái rồi chìm vào lớp nếp nhăn xám xịt. Bà quay mặt về phía bếp than tổ ong, cời đống xỉ đen dưới đáy:
"Hộp thiếc à... Chắc ông Thành chưa kịp vứt. Cái vỏ hộp bánh quy rỉ sét ấy mà."
"Trong đó có đồ gì quan trọng không bà? Để cháu tìm trả lại bà."
"Quan trọng gì cái ngữ ấy," giọng bà Sáu chùng hẳn xuống, nghe xa xăm và nghẹn lại. "Đồ của thằng Duy nhà bà đấy. Từ hồi nó bỏ đi mười mấy năm trước, ông Thành có sang gom mấy thứ linh tinh của nó mang về cất hộ, bảo để sau này nó mò về thì còn có cái mà nhìn... Mà nó đi biệt tăm biệt tích, chết bờ chết bụi ở đâu rồi cũng nên. Giữ lại chỉ tổ rác nhà. "
Bà xua tay, cắm cúi múc thêm gáo nước lạnh đổ vào nồi tráng bánh, mặc cho làn khói nghi ngút bốc lên phả thẳng vào gương mặt khắc khổ. Tôi không dám hỏi thêm nửa lời.
Cái tên "Duy" không hề xa lạ. Trần Quốc Duy, con trai duy nhất của bà Sáu, lớn hơn tôi chừng năm sáu tuổi. Hồi tôi còn bé tí, anh ta là một trong những thanh niên nghịch ngợm nhất xóm Tân Minh. Sau này nghe đâu cãi nhau một trận long trời lở đất với mẹ rồi bỏ xứ đi biệt tăm biệt tích, mười mấy năm trời chẳng thấy tin tức gì gửi về. Cả cái khu phố này ai cũng biết chuyện bà Sáu sống thui thủi một mình, nhưng chẳng ai dám nhắc đến tên anh ta trước mặt bà.
Vậy mà bố tôi lại giữ một chiếc hộp của người đó suốt chừng ấy năm.
Ăn xong, tôi gửi tiền nhưng bà Sáu nhất quyết gạt đi không lấy. Tôi phải lén nhét tờ hai mươi nghìn dưới đáy ống cắm đũa rồi mới đứng dậy chào bà ra về.
Tôi rảo bước thật nhanh về nhà. Con đường bê tông dưới cái nắng chang chang buổi trưa dường như dài hơn mọi khi.
Về đến nơi, tôi đi thẳng ra gian nhà kho cũ nằm nép dưới chân cầu thang dẫn lên tầng hai.
Căn phòng kho này đã bị khóa bằng một ổ khóa sắt gỉ sét từ nhiều năm nay. Tôi phải dùng chùm chìa khóa cũ của bố, thử đến chiếc thứ tư mới vặn mở được. Cánh cửa gỗ mọt rít lên kèn kẹt, mùi cứt gián quyện với mùi giấy mủn ẩm ướt xộc thẳng vào mũi hăng nồng.
Bên trong chất đầy những thùng các-tông cũ, vài chiếc quạt bàn hỏng cánh, một chiếc lốp xe đạp mòn vẹt và những chồng báo cũ từ năm hai nghìn không trăm lẻ mấy.
Tôi bật đèn flash điện thoại, bắt đầu lục lọi từng góc kẹt.
Sau gần nửa tiếng bới tung từng thùng giấy bụi bặm, tay tôi chạm phải một vật cứng nằm sâu trong chiếc hòm gỗ nhỏ kê sát góc tường.
Tôi lôi nó ra ngoài phòng khách.
Đúng là chiếc hộp bánh quy Đan Mạch hình tròn, loại vỏ sắt in hình hoàng gia xanh đỏ đã tróc sơn từng mảng lớn. Mép nắp được bố tôi dán chặt bằng một vòng băng dính điện màu đen để chống ẩm, bọc ngoài bằng túi nilon buộc túm hai đầu cẩn thận.
Tôi lắc nhẹ. Bên trong phát ra tiếng kim loại va chạm lách cách khô khốc.
Mồ hôi túa ra cay xè mắt. Tôi nhìn chiếc hộp bám đầy mạt bụi trên tay mà sống lưng lạnh ngắt. Chiếc điện thoại chết nguồn đêm qua không hề báo giờ giấc nhảm nhí.
Bố tôi đã cất giữ thứ này ở đây suốt bao nhiêu năm. Ông không vứt đi, cũng không để nó bị mốc làm hỏng. Ông giữ nó như giữ một lời hứa với một người đàn bà góa bụa bán bánh cuốn ở đầu ngõ, dù người con trai trong câu chuyện ấy có thể sẽ chẳng bao giờ quay trở lại.
Đồng hồ trên điện thoại điểm 16:30.
Còn một tiếng rưỡi nữa là đến mốc mười tám giờ.
Tôi đứng dậy, phủi bụi bám trên quần áo, cầm chiếc hộp thiếc bước ra cổng, đi ngược trở lại con đường dẫn ra góc chợ Tân Minh.
Chợ chiều vắng tanh, chỉ còn lại rác rưởi, vỏ dưa hấu thối và nước thải đọng đen ngòm bên rãnh cống. Bà Sáu đang còng lưng quét mấy cọng hành khô dưới chân bàn nhựa, lưng áo ướt đẫm một mảng mồ hôi muối.
"Bà Sáu ơi," tôi bước tới, cất tiếng gọi khẽ.
Bà Sáu dừng chổi, ngẩng đầu lên nhìn tôi. Ánh mắt bà lập tức rơi vào chiếc hộp thiếc hoen rỉ đang nằm trên tay tôi.
Bà không nói được câu nào. Chiếc chổi tre vẫn kẹp cứng dưới nách, nhưng những ngón tay gầy guộc đầy vết sẹo bỏng mỡ của bà run bắn lên khi chạm vào lớp vỏ kim loại nham nhở, như thể đang chạm vào một phần da thịt đã mất đi từ lâu.
Hai hốc mắt đục mờ ầng ậc nước nhưng tuyệt nhiên không chảy ra được giọt nào.
Bà ôm chặt chiếc hộp thiếc vào lòng, ngước nhìn tôi trân trân:
"Bố cháu... lúc còn sống, có nói gì về thằng Duy không cháu?"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.