Những Người Còn Ở Lại

Chương 2: Căn Nhà Của Bố

Đăng: 25/08/2026 02:03 1,766 từ 1 lượt đọc

Con Wave nát của Tuấn giật khùng khục, xích chùng quật lách cách vào hộp kim loại mỗi bận thụt ổ gà. Đường vào xóm Tân Minh hẹp quắt, hai bên rãnh thoát nước không nắp đậy xộc lên mùi bùn rêu ủng mục. Dăm bảy chục mét mới có một bóng đèn sợi đốt đỏ quạch, treo đu đưa trên ngọn cột bê tông nghiêng ngả sát bờ rào mắt cáo.

"Dạo này đường xá trong này vẫn thế nhỉ?" Tôi phải nói to để át tiếng pô xe rách tươm.

"Thế là còn phẳng chán," Tuấn vừa bẻ lái vừa ngoái đầu lại, phả ra mùi thuốc lá Thăng Long. "Năm ngoái huyện định rải nhựa, mà mấy ông giải tỏa đền bù cãi nhau to bên ngã tư, dự án đắp chiếu luôn. Giờ xóm tự cào đá dăm đổ vá víu, đi xóc lộn ruột."

Xe lướt qua quán nước chè chén còn chong đèn tuýp muộn. Ba bốn ông trung niên ngồi ghế nhựa quanh bàn gỗ tạp, tiếng điếu cày rít lên sòng sọc xé đêm rồi phả ra một luồng khói bạc mờ. Một ông rướn cổ, nheo mắt nhìn theo đuôi xe rách yếm:

"Tuấn đấy à? Chở ai đấy?"

"Thằng Khang con ông Thành đấy bác Hùng ơi!" Tuấn bấm còi toe một tiếng, quát tướng lên.

Ông Hùng khựng tay cầm đóm, mắt đảo nhanh một vòng quét từ đầu đến chân tôi: "À... Khang hả? Mới về đấy à cháu? Mai rảnh tạt qua bác uống nước nhé!"

Tôi chỉ kịp gật vội một cái thì xe đã phóng vút qua. Cái đất Minh Khê này là vậy. Chỉ cần ló mặt đầu ngõ, chưa kịp tháo giày thì từ đầu làng đến cuối xóm đã rỉ tai nhau chuyện thằng Khang làm ăn trên phố dạo này trông mã mọc thế nào, đi xe gì về. Ngày xưa tôi ghét cay ghét đắng cái lối soi mói ấy, chỉ muốn trốn tiệt lên thủ đô đóng cửa phòng trọ cho rảnh nợ, sống chết mặc bay.

Xe phanh kít trước cánh cổng sắt xanh rêu bong tróc từng mảng lớn.

Nhà tôi.

Căn nhà hai tầng kiểu cũ xây từ cuối thập niên chín mươi, tường vôi vàng ố loang lổ vết nước mưa chảy từ máng xối. Khoảng sân gạch tàu đỏ au giờ bám một lớp rêu trơn tuột. Góc sân, mấy chậu mai chiếu thủy của ông già trơ cành khẳng khiu, đất trong chậu khô nứt toác vì cả tuần đám tang chẳng ai ngó ngàng. Căn nhà tối bưng bưng, câm bặt như một khối xi măng vô tri.

Tuấn tắt máy, chống chân chống xe cái cạch.

"Vào đi. Chiều nay tao có chạy qua cắm hộ cái tủ lạnh với mở cửa sổ cho đỡ bí rồi đấy." Nó móc bao thuốc bẹp dúm, quẹt diêm. Đốm lửa đỏ lập lòe soi rõ những vết sẹo nhỏ trên ngón tay dính dầu mỡ của nó. "Có cần tao vào phụ dọn dẹp gì không?"

"Thôi, muộn rồi. Mày về ngủ đi, mai còn cày." Tôi nhấc balo xuống, xua tay.

Nó rít một hơi sâu, đầu thuốc đỏ rực lên rồi tàn lụi, mắt nhìn chăm chăm vào bậc tam cấp phủ bụi:

"Mẹ mày bảo mày tính bán căn này à?"

Tôi hơi khựng lại. Mẹ tôi đúng là không giữ được chuyện gì trong lòng quá hai mươi tư tiếng.

"Ừ," tôi đáp cụt lủn. "Nhà rộng quá, mẹ ở một mình không tiện. Bán đi dồn tiền mua căn chung cư nhỏ trên kia gần bác gái cho tiện bề chăm sóc."

Tuấn im lặng. Ngón tay gõ cộc cộc lên ghi-đông sắt, tàn thuốc rơi lả tả xuống vũng nước đọng dưới chân.

"Đất khu này đang rục rịch tăng đấy," Tuấn nói, giọng bình thản nhưng có chút gì đó xa xôi. "Cò đất bên tỉnh lượn suốt ngày, toàn rỉ tai sắp mở đường nối ra khu công nghiệp. Mày bán thì cứ thong thả mà khảo giá, đừng để tụi nó ép."

"Tao biết rồi."

"Ừ. Có gì cần thì ới tao, vẫn số điện thoại cũ." Tuấn gạt chân chống, đạp nổ máy. "Khóa cửa cẩn thận đấy. Nhà để không mấy ngày, âm khí nặng."

Con Wave rú lên rồi chìm nghỉm vào khúc cua tối tăm. Tiếng pô xe nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn tiếng dế rỉ rả bên rãnh nước và tiếng gió đêm lùa ràn rạt qua rặng xoan sau nhà.

Tôi đứng một mình trước cổng sắt. Gió đêm thổi qua tán cây khế ở góc sân, lá xào xạc. Chìa khóa cắm vào ổ đồng rỉ sét, kẹt cứng. Tôi phải nắm chặt quai khóa giật mạnh mấy cái mới nghe tiếng then sắt trượt ra, rít lên chói óc.

Mùi hoa khế rụng dập nát dưới chân quyện với hơi nước mương tanh tanh. Tôi đẩy cửa bước vào, quờ tay bật công tắc trên tường.

Bóng đèn tuýp trên trần nhấp nháy đỏ quạch ba nhịp rồi bừng sáng, tiếng tăng phô rè rè rọc vào màn đêm. Mùi nhang tàn nguội ngắt bám chặt vào lớp rèm vải bố. Mọi thứ vẫn y nguyên như hôm hạ huyệt: bộ bàn ghế gỗ trắc đánh vecni lên nước bóng lộn, ấm chén sứt vòi, tấm ảnh thờ bằng khung gỗ ép đặt chính giữa bàn thờ. Trong ảnh, ông mặc cái áo sơ mi cộc tay màu xanh công nhân, mắt nhìn xói thẳng ra ngoài, khóe môi mím chặt. Chưa bao giờ tôi thấy ông cười trong bất kỳ tấm ảnh nào suốt ba mươi năm qua.

Tôi quẳng ba lô lên ghế sô pha, xuống bếp nuốt vội ngụm nước lạnh từ ấm đun rồi đi thẳng lên tầng hai.

Cửa phòng làm việc của bố khép hờ, bản lề kêu cọt kẹt khi tôi đẩy vào.

Căn phòng này vốn là nơi tôi ít bước vào nhất khi còn ở nhà. Nó chỉ rộng chừng mười mét vuông, kê một chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ quay mặt ra cửa sổ, một chiếc ghế xoay bọc nỉ đã sờn rách ở góc tay vịn, và một giá sách gỗ kịch trần chất đầy tài liệu.

Bố tôi từng là giáo viên dạy Văn cấp ba ở trường thị trấn. Đáng lẽ ra trên giá sách phải là giáo trình, tác phẩm văn học hay bài thi của học sinh. Nhưng không.

Tôi bước lại gần giá sách, bật chiếc đèn bàn chụp sắt màu xanh lá cây lên. Dưới ánh sáng gom lại thành một quầng tròn trên mặt bàn bụi bặm, tôi nhìn thấy những chồng sổ tay dày cộp được xếp ngay ngắn theo từng năm.

Tôi rút bừa một cuốn mép đã quăn queo.

Mở trang đầu tiên. Nét chữ nghiêng nghiêng, dứt khoát quen thuộc của bố hiện ra:

[12/03/2014 - Nhà ông Minh (sửa xe): Đã nói chuyện với bên quản lý thị trường vụ mặt bằng. Cần theo dõi đợt kiểm tra tuần tới. Nhắc Minh hạn chót nộp thuế.]

[28/05/2015 - Hạnh (trường cũ): Gia đình khó khăn tiền viện phí cho mẹ. Đã tạm ứng quỹ khuyến học 3 triệu. Không để Hạnh biết tên người đóng.]

[14/09/2016 - Bà Sáu: Thằng Duy vẫn chưa liên lạc về. Bà Sáu dạo này đau khớp nặng, đi chợ sớm hay ngã. Cần nhờ Tuấn qua xem hộ cái mái tôn sau bếp.]

Tôi lật tiếp một cuốn khác. Rồi một cuốn nữa.

Hàng chục cuốn sổ. Hàng trăm cái tên. Tên người, số điện thoại, địa chỉ nhà, ngày tháng, các ghi chú vụn vặt, thậm chí cả những sơ đồ vẽ tay nguệch ngoạc về các mối quan hệ gia đình của người này người kia trong khu phố Tân Minh. Có những dòng bị gạch xóa, có những dòng đánh dấu hỏi chấm đỏ chót, và có những dòng bỏ lửng phần kết quả.

Bố tôi đã làm cái việc này suốt bao nhiêu năm trời?

Cả đời ông là thế này đây. Những bữa cơm nguội ngắt chỉ có hai mẹ con ngồi nhìn nhau vì ông bận "ra ủy ban có việc gấp". Ngày tôi thi chuyển cấp, ông vứt cho tờ năm chục nghìn rồi phóng xe đi vì ngoài mương có vụ tranh chấp nước tưới. Ông nhớ từng viên thuốc khớp của bà bán xôi đầu làng, nhớ từng hạn nộp phạt của thằng thợ sửa xe, nhưng chưa một lần nhớ nổi công ty tôi làm việc ở đâu hay tôi đang nợ nần bao nhiêu tiền trên thành phố.

Một kẻ rảnh việc đi gánh cả thiên hạ, trừ gia đình mình.

"Bố rỗi hơi đến tận lúc chết à..." Tôi lẩm bẩm, ném mạnh cuốn sổ da xuống mặt bàn. Bụi bay lên mù mịt trong quầng sáng đèn.

Tôi day day trán, cố nén cơn bực dọc đang dâng lên. Tôi không về đây để tìm hiểu xem ông đã sống vị tha thế nào. Mục tiêu của tôi là tìm giấy tờ nhà đất, bán căn nhà này đi và cắt đứt mọi thứ.

Tôi giật tung ngăn kéo bàn làm việc. Ngăn trên cùng lỏng chỏng bút bi cạn mực, thước gỗ gãy góc, mấy vỏ bao thuốc lá rỗng. Ngăn giữa nhét mấy tờ giấy chứng nhận giáo viên giỏi từ năm chín tám với hóa đơn tiền điện rách mép. Vẫn không thấy bìa đỏ đâu.

Đến ngăn cuối cùng sát sàn nhà, cái ray trượt bị rỉ sét kẹt cứng. Tôi phải gí một chân vào chân bàn, dùng cả hai tay giật mạnh một tiếng rầm. Đống tài liệu kẹp ghim hoen rỉ bung ra lả tả.

Gạt đống giấy tờ sang một bên, tay tôi vô tình chạm phải một vật kim loại hình chữ nhật lạnh ngắt, nằm khuất sâu tận đáy ngăn kéo.

Tôi nhíu mày, lôi vật đó ra.

Một chiếc điện thoại cảm ứng đời cũ, vỏ nhựa đen trầy xước nham nhở, viền màn hình dày cộp và bám đầy mạt bụi. Cục gạch thông minh này chắc cũng phải nằm xó này ngót nghét chục năm trời.

Tôi lật mặt sau máy. Ngay trên nắp lưng pin, có một miếng băng cá nhân đã ố vàng, keo dính chảy ra nhớp nháp. Bên trên có ba chữ viết tay bằng bút dạ đen cộc lốc, mực đã phai màu:

Việc Chưa Xong.


0