Quỷ Án Lục

Quyển 1: Chung Tĩnh

Chương 1: Chung Tĩnh Quán

Đăng: 30/08/2026 18:40 7,163 từ 3 lượt đọc

Đứng ở lưng chừng núi Chung Tĩnh quay đầu nhìn về phía đông, có thể thấy dãy Cao Châu Ly Sơn nối nhau chạy dài tới tận nơi mắt người không còn phân biệt được núi với mây.Những ngọn núi gần nhất có màu xám đậm, vách đá dựng đứng, cây cối bám đầy các sườn dốc như từng lớp rêu xanh phủ trên lưng một con vật khổng lồ. Nhìn xa hơn một chút, sắc núi dần chuyển sang xanh đen. Nếu lại nhìn xa thêm nữa chỉ còn thấy những đường viền nhạt màu chồng lấn lên nhau, cuối cùng tất cả đều mờ dần trong những tầng mây thấp.


Chỉ có leo đến lưng chừng núi này mới có thể thấy đỉnh cao nhất của Cao Châu Ly Sơn quanh năm chìm trong sương mờ. Vào những ngày trời quang mây tạnh, người đứng trên núi Chung Tĩnh cũng chỉ nhìn thấy một phần sườn núi màu trắng xám nhô lên giữa biển mây, nom như mũi một con thuyền lớn đang chìm dần giữa sóng mây vô tận.


Người dân sống dưới chân núi truyền rằng dãy Cao Châu Ly kéo dài gần ba nghìn dặm, như một bức tường khổng lồ ngăn cánh trời đất, có người nói phía bên kia núi là biển, có người nói phía bên kia núi là một đáy vực sâu đến không tưởng. Có người từng đọc qua vài sách vở lại bảo sau dãy núi chẳng có gì ngoài những thung lũng chưa từng thấy ánh mặt trời. Cao công Ngô Tuế Du từng đi qua nhiều nơi, mỗi lần nghe người ta tranh luận đều vuốt râu, gật gù, không xác nhận cũng không phủ nhận.


Bạch Cư Dị từng hỏi lão có biết phía bên kia thật sự là gì không.


Ngô Tuế Du trả lời rằng phía bên kia đương nhiên là phía bên kia núi.


Câu trả lời ấy khiến Bạch Cư Dị suy nghĩ gần nửa ngày. Đến tối nó mới nhận ra ngay cả sư phụ mình cũng chưa từng đi qua bên kia núi.


Phía tây Chung Tĩnh là một vùng thung lũng sâu hun hút. Dưới đáy thung có dòng sông tên Xuy Hà, không ai biết đã chảy qua nơi đây bao nhiêu trăm năm. Chỉ biết nước từ phía bắc xuyên qua khe núi, vòng theo chân Chung Tĩnh rồi tiếp tục xuôi về phương nam. Mùa hè nước đục dòng chảy rất xiết, thường cuốn theo cây gãy và cả xác thú. Mùa đông thì nước cạn, những doi đá đen nhẵn bóng lộ khỏi mặt nước, nhìn từ xa tựa lưng của một đàn cá lớn nối nhau nằm im.


Dòng Xuy Hà chia thung lũng làm hai.


Phía đông cách chừng mười dặm sông có ba thôn nhỏ, ruộng bậc thang chen giữa những quả đồi thấp. Phía tây là đường quan đạo dẫn về huyện thành, bình thường phải mất hơn nửa ngày đi bộ. Vào mùa mưa, cầu gỗ qua sông có thể bị nước cuốn mất, khi ấy người dân muốn sang bên kia phải đi vòng thêm gần hai mươi dặm.


Chung Tĩnh Quán nằm gần đỉnh núi. Muốn vượt núi đến vùng lân cận thì phải đi qua đạo quán, mà muốn qua nơi này chỉ có một con đường độc đạo men theo sườn đá. Nơi rộng nhất của con đường miễn cưỡng vừa đủ cho một chiếc xe bò đi qua. Nơi hẹp nhất, hai người mang sọt gặp nhau phải có một người quay lưng ép sát vào vách đá, nhường cho người kia đi trước.


Bên trái là núi.


Bên phải là vực.


Vách núi dựng đứng, trên mặt đầy những khe đá dài ngắn khác nhau. Mùa đông, nước trong khe đông lại thành băng. Tới trưa có nắng, băng tan, từng giọt nước lạnh buốt rơi xuống đầu người đi đường. Còn phía vực sâu phần lớn quanh năm phủ sương. Người bình thường đứng sát mép nhìn xuống chỉ thấy mây xám cuộn dưới chân, không nhìn rõ đáy, cũng không biết vực sâu bao nhiêu.


Đã từng có người thả một hòn đá lớn xuống rồi đứng nghe.


Không ai nghe thấy tiếng đá chạm đáy.


Ngô Tuế Du nghe chuyện ấy liền bảo có thể người nọ tai không tốt. Bạch Cư Dị hỏi tại sao sư phụ không tự thử. Lão nói đá trên núi cũng là vật của núi, tùy tiện ném đi không hợp đạo lý.
Hôm sau, Bạch Cư Dị thấy lão dùng một hòn đá kê chân bàn.


Nó hỏi hòn đá ấy có phải vật của núi không.


Ngô Tuế Du đáp rằng kê bàn là giúp hòn đá tìm được chỗ dùng, không giống ném xuống vực một cách vô ích.


Từ đó Bạch Cư Dị hiểu rằng đạo lý trong miệng sư phụ thường thay đổi tùy vào việc lão có muốn làm hay không.


Đường lên núi càng đi càng dốc. Đến đoạn gần đỉnh, cây rừng cũng thấp dần. Những thân tùng không còn mọc thẳng mà nghiêng về cùng một hướng, cành cây khô cứng, lá kim nhỏ và sẫm màu. Rễ nổi trên mặt đất, bò qua đá rồi chui xuống những khe nứt hẹp tới mức không ai hiểu chúng lấy đâu ra đất mà sống.


Chim rừng hiếm khi bay qua đoạn này.


Thú lớn càng không thấy bóng.


Thi thoảng người ta mới bắt gặp một con sóc nhỏ hoặc dấu chân chồn trên lớp đất mỏng. Mỗi khi có tiếng động trong bụi cây, phần lớn cũng chỉ là đá vụn bị gió thổi lăn xuống sườn núi.
Hằng ngày đi qua con đường ấy, người bình thường ít nhiều cũng phải sinh lòng kính sợ. Cao Công Ngô Tuế Du thì khác. Lão sinh lòng kính sợ tới hai lần một ngày.


Một lần khi xuống núi.


Một lần khi leo trở về.


Hôm ấy, khi lên tới đoạn đường bằng cuối cùng, Ngô Tuế Du chống hai tay lên đầu gối, thở ra một hơi thật dài. Trán lão lấm tấm mồ hôi. Hai chân dưới vạt đạo bào còn run nhè nhẹ. Nghe thấy tiếng bước chân phía sau đang tới gần, lão lập tức đứng thẳng lưng, chắp hai tay sau áo, nhìn ra ngàn dặm núi non.


“Muốn qua núi này khó như mời Thiên Sư qua cổng.”


Trời đã nhập nhoạng tối.


Tháng mười một, ngày ngắn đêm dài. Vừa quá giờ chiều, mặt trời đã bị những đỉnh núi phía tây che mất hơn nửa. Ánh sáng còn lại trải thành từng dải vàng cam trên tầng mây, nhuộm vách đá, ngọn cây và mặt sông thành những sắc độ khác nhau.


Nơi còn nắng thì rực lên như đồng nung.


Nơi đã mất nắng bắt đầu lạnh và tối.


Gió xuyên qua khe núi, thổi vạt áo Ngô Tuế Du lay động. Đạo phục của lão vốn màu xanh đen, nhưng vì mặc đã nhiều năm, vai áo bạc trắng, cổ tay và vạt dưới đều có chỗ sờn chỉ. Bên hông còn một vết cháy nhỏ, nói ra cũng thật mất mặt. Bản thân là đạo sĩ nhưng vết cháy trên đạo bào không phải là minh chứng của một lần đánh quỷ, mà bởi có lần lão ngồi quá gần bếp mà ngủ quên.


Dù vậy, khi đứng ngược chiều gió, tà áo bay phấp phới, chòm râu bạc bị thổi nghiêng sang một bên, quả thật có vài phần phong thái của người đã rời xa bụi trần.


Ngô Tuế Du bước lên phiến đá nhô khỏi sườn núi, đưa tay vuốt râu. Phiến đá này rộng vừa đủ cho một người đứng. Trên mặt có ba vết lõm nhỏ, là dấu đầu gậy của lão để lại sau nhiều năm ngày nào cũng đứng đúng một vị trí mà cảm khái.


Lão nhìn về phía Cao Châu Ly Sơn hồi lâu, tức cảnh sinh tình, trong miệng chậm rãi ngâm:


Bạc mộ thương mang nhập viễn san,
Lão đạo ngưng mâu lập thạch đàn.
Thủ niệp sương tu phong mãn tụ,
Dao khán Cao Châu tịch chiếu tàn.


Sương nguyệt sơ lâm thiên địa đống,
Đông canh trú xúc dạ mạn mạn.
Vị quá thân thời nhân dục tẩm,
Kim luân dĩ trụy loạn phong gian.


Tranh hà xán lạn thiêu vân hác,
Hậu ái tầng tầng tự thạch quan.
Thảo mộc minh minh thôn khoáng dã,
Nguy nhai bích lập tiếp thiên hàn.


Trường xuyên hạo đãng tùy vân khứ,
Nhất mạch đông lưu hạ viễn than.
Lão nhãn bất tri quan hà vật,
Tây phong độc lập đáo canh lan.


Đọc xong bài thơ, Ngô Tuế Du nhắm hờ hai mắt, tự cảm thấy bộ dạng của mình lúc này không khác gì một vị thế ngoại cao nhân.


Lão nâng tay giũ nhẹ vạt đạo bào. Gió đông thổi tới đúng lúc, khiến tà áo bay lên. Ngô Tuế Du khẽ gật đầu.


Quả nhiên gừng càng già càng cay, rượu ủ càng lâu càng đậm vị. Hai câu tục ngữ ấy nếu không phải sinh ra để nói về lão, vậy cũng thật khó tìm được người thứ hai thích hợp hơn.


Phía sau lão còn có một đứa trẻ. Dáng người gầy nhỏ, nhìn qua chỉ chừng tám tuổi, nhưng gương mặt thon dài cùng những đường nét góc cạnh khiến nó trông già dặn hơn tuổi thật. Lông mày rậm, đuôi mày kéo dài qua mắt, thoạt nhìn giống hai dãy núi nhỏ vắt ngang khuôn mặt.


Phía sau lưng đứa trẻ là một chiếc sọt tre gần cao bằng nửa người nó. Trong sọt có hai cuộn dây gai, một bình mực, một túi gạo, một hộp gỗ đựng dụng cụ, ba bó dược thảo, một chiếc đèn dầu nhỏ và mấy cái bánh bột kê đã nguội cứng.


Phần lớn đồ trong sọt không nặng. Nhưng cộng lại thì đủ khiến hai quai sọt siết thành những vết đỏ trên vai nó. Đứa trẻ đứng chờ một lúc nhìn thấy sư phụ của mình hình như không có ý định kết thúc việc làm cao nhân. Nó đành khẽ ho một tiếng.


“Sư phụ.”


Ngô Tuế Du vẫn nhắm mắt, hờ hững đáp lời


“Chuyện gì?”


“Mỗi ngày chúng ta leo lên leo xuống núi này ít nhất hai lần.”


“Ừ.”


“Vì sao lần nào người cũng cảm khái như vậy?”


Tà áo đang bay của Ngô Tuế Du từ từ hạ xuống.


Lão mở mắt, quay lại nhìn đứa trẻ.


“Cư Dị, con còn nhỏ, không hiểu được. Núi sông mỗi ngày đều có khí tượng khác nhau. Người có học nhìn núi một lần, trong lòng sinh ra một ý. Ngày sau nhìn lại, tâm cảnh đã khác, ý thơ đương nhiên cũng phải khác.”


Bạch Cư Dị suy nghĩ một lát.


“Nhưng ba ngày nay sư phụ đều đọc bài này.”


“Cảnh tương đồng, thơ tương đồng cũng chẳng có gì lạ.”


“Chỗ ngắt câu cũng giống.”


“Đó là vì vi sư đã đọc tới mức viên dung.”


“Hôm trước người nói câu thứ tám chưa ổn.”


“Ta đã sửa.”


“Người chỉ đổi chữ ‘lạc’ thành chữ ‘trụy’.”


Ngô Tuế Du im lặng.


Bạch Cư Dị đứng phía sau, chờ sư phụ giải thích.


Một trận gió lạnh lướt qua phiến đá, cuốn mấy chiếc lá khô lăn dọc con đường. Lá va vào đôi giày cũ của Ngô Tuế Du rồi mắc lại ở vạt áo. Cuối cùng, lão chắp tay sau lưng, bước xuống khỏi phiến đá.


“Thằng nhóc đầu gỗ ngươi thật không hiểu phong nhã. Hầy về nhà thôi.”


Bạch Cư Dị đi theo.


“Hôm qua người cũng nói vậy.”


“Bớt nói.”


“Vâng.”


Đi được hai bước, Ngô Tuế Du quay đầu nhìn chiếc sọt trên lưng nó.


“Sọt có nặng không?”


Bạch Cư Dị liền nhìn sư phụ, rồi cẩn thận điều chỉnh lại giỏ trên vai mình, xong xuôi nó mới chậm rãi cất lời.


“Nặng.”


“Có muốn vi sư mang giúp không?”


Bạch Cư Dị nhìn thanh kiếm gỗ đeo sau lưng lão, rồi nhìn hai tay áo rộng rỗng không.


“Muốn.”


Ngô Tuế Du nghe thấy liền vuốt râu, lại quay về cái dáng vẻ thế ngoại cao nhân mà thằng nhóc cảm thấy rất nửa mùa.


“Tu hành trước hết phải luyện thể.”


“Vậy sao sư phụ không luyện?”


“Vi sư đã luyện xong.”


Bạch Cư Dị biết sư phụ chỉ hơi lơi cho vui, nó liền dứt khoát không hỏi nữa. Theo sau Ngô Tuế Du được gần năm năm, cũng đủ lâu để hiểu rằng mỗi khi lão nói đến đạo lý tu hành, tám phần là lão không muốn làm một việc gì đó.


Hai thầy trò tiếp tục đi lên. Từ phiến đá tới Chung Tĩnh Quán chỉ còn chưa đầy nửa dặm, nhưng con đường dốc hơn hẳn phía dưới. Gió xuyên qua khe núi, thổi thẳng vào mặt. Bạch Cư Dị hạ thấp trọng tâm, một tay giữ quai sọt, cẩn thận tránh những viên đá đã trơn nhẵn vì người qua lại.


Nó không nhìn xuống vực.


Không phải vì sợ độ sâu.


Trong mắt Bạch Cư Dị, vực sâu chưa bao giờ chỉ là vực sâu.


Sương dưới vực có lúc hiện thành khuôn mặt. Những mảng tối giữa đá đôi khi mang hình người đứng cúi đầu. Có ngày nó thấy một hàng bóng đen đi dọc vách núi, bàn chân không chạm đất, đầu đều quay về hướng Xuy Hà. Ngô Tuế Du từng đứng bên cạnh quan sát rất lâu nhưng không thấy gì, sau đó lão hỏi những bóng ấy có để lại dấu hay không.


Bạch Cư Dị nói không.


Chúng có làm ngọn cây, bụi, nước hay ánh sáng thay đổi không?


Cũng không.


Có pháp khí nào phản ứng không?


Không.


Ngô Tuế Du bảo vậy thì đừng nhìn nữa. Bạch Cư Dị hỏi nếu chúng là quỷ thì sao. Lão nói nếu là quỷ mà không làm gì, không để lại dấu, không chạm vào người, không liên quan tới việc đang xử lý, thì sự tồn tại của chúng vào lúc ấy chẳng khác gì một đám mây ngoài trời. Nhìn thêm chỉ khiến bản thân mệt.


Bạch Cư Dị vẫn chưa hoàn toàn hiểu điều ấy. Với nó, những hình người dưới vực rõ ràng hơn cả sương núi. Có tay, có chân, có mắt hoặc những hốc sâu ở nơi đáng lẽ phải là mắt. Một số còn ngẩng lên nhìn nó.


Làm sao có thể coi như không tồn tại?


Nhưng Ngô Tuế Du không dạy nó phủ nhận điều mình thấy. Lão chỉ dạy nó rằng thấy một thứ không có nghĩa phải lập tức làm gì đó với thứ ấy.


“Nếu con thấy một con rắn nằm ngoài bờ ruộng, nó không bò vào nhà, không cắn người, con có nhất định phải chạy tới bắt nó không?”


“Không.”


“Vì sao?”


“Có thể bị cắn.”


“Vậy là con hiểu.”


Bạch Cư Dị chưa hiểu hết, nhưng từ đó nó tránh nhìn lâu xuống vực. Ngô Tuế Du đi trước, tay không cầm đèn. Trời vẫn còn chút sáng, lão không muốn phí dầu. Ngọn đèn trong sọt chỉ được phép thắp khi đường tối tới mức không còn nhìn rõ mép vực.


Lão từng nói dầu đèn trên núi đắt. Bạch Cư Dị tính thử, mỗi lần lão xuống chân núi uống rượu, số tiền bỏ ra đủ mua dầu cho cả quán dùng ba ngày. Nó nói kết quả ấy cho Thanh Mộc nghe, Thanh Mộc bảo đừng nói với sư phụ, nếu không lão sẽ giải thích rằng uống rượu cũng là một phần giao tiếp với dân gian.


Lên qua một khúc ngoặt, cổng đạo quán hiện ra giữa hai hàng tùng thấp. Chung Tĩnh Quán không tính là lớn. Tường ngoài xây bằng đá xám lấy ngay trên núi, khe giữa các phiến đá được trét bằng đất trộn vôi. Cổng gỗ thấp, mái lợp ngói đen. Tấm biển treo trên cổng đã cũ đến mức lớp sơn bong gần hết, chỉ còn ba chữ “Chung Tĩnh Quán” lõm sâu trong gỗ. Hai bên cổng không đặt tượng đá, cũng chẳng có linh thú trấn môn, bên trái chỉ có một máng nước nên phải xếp củi.


Trên mái treo một chiếc chuông đồng nhỏ không có lưỡi. Mục đích của nó không phải phát tiếng mà để nhìn xem gió đang thổi theo hướng nào. Dưới chuông còn buộc một đoạn chỉ trắng. Chỉ cũ đã ngả vàng, đầu sợi tưa ra như đuôi một con chuột nhỏ.


Bạch Cư Dị ngẩng đầu nhìn.


Chiếc chuông nghiêng nhẹ về phía nam.


Đoạn chỉ trắng cũng hướng về phía nam.


Cành tùng ngoài cổng lay cùng một hướng.


Không có gì bất thường.


Nó bước qua cổng.


Bên trong đạo quán có ba gian nhà chính, hai gian phòng nhỏ và một nhà bếp dựng lệch về phía sau. Giữa sân trồng một cây hòe già, tán rộng gần che kín nửa mái. Rễ cây làm nền đá nứt thành nhiều đường. Mỗi mùa xuân đều phải lấy cát và vôi trám lại, nhưng sang mùa đông các vết nứt lại mở ra.


Phía dưới mái hiên treo dược thảo, những bó lá được buộc bằng dây gai, bên dưới gắn thẻ gỗ nhỏ ghi ngày hái và nơi lấy. Gần nhà bếp đặt hai chum nước, một chum đầy, một chum chỉ còn phân nửa. Cạnh chum là ba đôi guốc, trong đó một đôi đã bị gãy quai.


Trước gian chính có một thiếu niên đang ngồi vá áo. Thanh Mộc hơn Bạch Cư Dị hai tuổi, vào quán trước nó gần ba năm. Người cao cũng hơi gầy, tóc búi thấp, cổ tay trái quấn một đoạn vải cũ để tránh vết chai cọ vào tay áo. Kim trong tay Thanh Mộc xuyên qua phần khuỷu áo đã rách. Động tác chậm nhưng đều. Nghe thấy tiếng bước chân, Thanh Mộc ngẩng lên.


“Cao Công.”


Ngô Tuế Du gật đầu.


“Cơm tối xong chưa?”


“Chưa.”


“Vậy con ngồi đây làm gì?”


“Nồi cơm con nấu bị khê rồi.”


Ngô Tuế Du dừng bước, lão quay đầu nhìn nó rồi lại nhìn vào trong bếp


“Khê thế nào?”


“Dạ sư phụ, dưới đáy bị khê.”


“Còn nên trên?”


“Vẫn còn sống ạ.”


“Vậy sao không đổ thêm nước?”


“Con đã đổ rồi.”


“Kết quả thế nào?”


“Khê thành cháo ạ.”


Ngô Tuế Du đứng yên, nhìn về phía nhà bếp. Một làn khói xám đang chui qua mái, theo gió tạt về phía sân. Trong khói có mùi gạo cháy, dầu và một chút dược thảo. Lão lại quay sang nhìn Bạch Cư Dị.


“Ba cái bánh kê còn không?”


“Còn.”


“Đêm nay ăn bánh.”


“Có chia cho Thanh Mộc không?”


“Chính nó làm khê cơm.”


Thanh Mộc cúi xuống tiếp tục vá áo.


“Bình dầu đổ vì sư phụ đặt cạnh bếp.”


Ngô Tuế Du hỏi:


“Con đang nói với ai?”


“Con đang tự kiểm điểm.”


“Biết kiểm điểm là tốt.”


Bạch Cư Dị đi qua hai người, chậm rãi đặt sọt dưới mái hiên. Nó không đặt thẳng sọt lên nền đá mà kê bằng hai thanh gỗ sạch. Túi gạo để sang bên trái. Bình mực và hộp dụng cụ đặt về bên phải. Dược thảo được mang tới gần cửa bếp. Chiếc đèn dầu để riêng vì phần nắp đồng đã lỏng, nếu để nghiêng lâu dầu sẽ thấm ra ngoài. Thanh Mộc nhìn nó phân đồ.


“Dưới núi có chuyện gì không?”


“Không.”


“Không gặp ai sao?”


“Có gặp người bán dược liệu.”


“Ông ấy nói gì?”


“Dược liệu tăng giá.”


Thanh Mộc thở dài.


“Vậy là có chuyện rồi.”


Ngô Tuế Du đang kiểm tra thanh kiếm gỗ đào nằm sau lưng, nghe vậy liền quay đầu.


“Dược liệu tăng giá là chuyện của dược liệu. Hai đứa bây đừng thấy việc gì cũng nghĩ tới quỷ.”


Thanh Mộc nói:


“Tháng trước gạo tăng giá, sư phụ bảo trong thành tất có biến.”


“Sau đó chẳng phải có ba nhà bị trộm sao?”


“Người ta trộm gạo vì gạo tăng giá.”


“Vậy chẳng phải ta nói đúng?”


Thanh Mộc và Bạch Cư Dị cùng im lặng. Ngô Tuế Du hài lòng bước vào gian chính. Thanh Mộc đặt chiếc áo đã vá xong sang một bên, đứng dậy giúp Bạch Cư Dị gỡ sọt khỏi vai.


“Có đau không?”


“Không.”


“Vai đỏ hết cả rồi.”


“Ngày nào cũng đỏ, không sao đâu ta quen rồi.”


Thanh Mộc nhìn theo Ngô Tuế Du, thằng nhóc khẽ hạ giọng


“Lần sau lúc xuống núi, giấu thanh kiếm của sư phụ dưới đáy sọt.”


“Tại sao?”


“Để người phải mang sọt.”


“Người sẽ bảo không có kiếm không thể bảo vệ chúng ta.”


“Vậy đổi thanh kiếm bằng một cành củi.”


“Người nhận ra.”


“Chưa chắc.”


Bạch Cư Dị nghiêm túc suy nghĩ khả năng ấy. Thanh kiếm gỗ đào của Ngô Tuế Du đã theo lão nhiều năm. Thân kiếm sẫm màu, đoạn gần chuôi có một khoen đồng nhỏ, bao kiếm bằng gỗ bọc vải xanh. Người ngoài không nhận ra, nhưng Bạch Cư Dị biết một bên bao có vết nứt dài bằng ngón tay, đã được chèn keo và quấn lại bằng chỉ gai. Đổi bằng cành củi có lẽ vẫn hơi khó.


“Lần sau thử dùng cán chổi,” nó nói.


Thanh Mộc gật đầu.


“Có triển vọng.”


Hai người cất xong đồ rồi đi tới gian chính. Gian chính của Chung Tĩnh Quán không có tượng thần mạ vàng, cũng không có những tấm màn thêu cầu kỳ. Án gỗ kê sát vách, trên đặt ba bài vị của tam thanh tổ sư, phía trước là một lư hương nhỏ và hai ngọn đèn dầu. Bên trái án đặt chuông pháp phủ vải xám, bên phải có một chiếc hộp dài, bên trong giữ pháp ấn của đạo quán. Hộp luôn khóa. Chìa khóa không do Ngô Tuế Du mang một mình. Một chìa ở chỗ lão, chìa còn lại do Tôn bà bà giữ.


Trên tường treo bản đồ vùng Chung Tĩnh, Xuy Hà và ba thôn dưới núi. Những sợi chỉ nhỏ nối các thẻ gỗ vào từng vị trí. Phần lớn dùng để ghi:


Nhà nào có người già sống một mình, đường nào mùa mưa thường sạt, Khu nào có thú dữ. Hoặc có chăng là giếng nào đã cạn, miếu nào còn người hương khói. Thậm chí khu vực nghĩa địa của từng thôn nằm ở đâu, số ngôi mộ đang có và thuộc về gia đình nào cũng được chú thích đầy đủ


Bạch Cư Dị từng tưởng đạo sĩ chỉ cần ghi nơi có quỷ. Nhưng sư phụ bảo muốn biết một căn nhà có bất thường hay không, trước hết phải biết bình thường nơi đó có bao nhiêu người, nước lấy ở đâu, cửa mở hướng nào, nhà gần mộ hay gần sông, chủ nhà làm nghề gì. Nếu ngay cả đời sống người ta cũng không biết, thấy đèn tắt liền bảo quỷ thổi, thấy cửa mở liền bảo âm binh tới, vậy chẳng khác gì người mù đoán màu áo.


Ngô Tuế Du đứng trước lư hương, nhìn lượng tro bên trong. Lão không thắp thêm hương, Thanh Mộc dừng ngoài cửa. Bạch Cư Dị đứng sau vai Thanh Mộc, không tự ý bước vào.


“Chiều nay có ai tới không?” Ngô Tuế Du hỏi.


“Không.”


“Tôn bà bà đâu?”


“Sau nhà phơi thuốc.”


“Hoài Chân?”


“Chẻ củi ở sân sau.”


“Có ai vào gian chính không?”


“Con không thấy.”


Ngô Tuế Du cúi xuống nhìn chăm chú. Trên lớp tro phẳng có một vết lõm hình bán nguyệt. Vết không sâu, nằm lệch về phía bên phải lư hương. Tro quanh đó có màu sẫm hơn một chút, lão không dùng tay chạm vào.


“Cư Dị.”


“Vâng.”


“Con thấy gì?”


Bạch Cư Dị nhìn ngọn đèn trước nó thấy lửa đứng thẳng, cũng không phát hiện có gió lọt qua cửa. Nó nhìn bóng lư hương trên mặt án, cái bóng tương ứng với hướng sáng. Sau khi phát hiện xung quanh không có gì khác lạ nó mới chú ý đến vết lõm. Xung quanh không có sợi khí đen nào bốc lên, cũng không có nhân dạng chồng trên lư hương. Ba bài vị tổ sư phía sau không thay đổi. Ánh sáng quanh mặt đồng cũng không méo.


“Có một vết lõm trên tro,” nó nói.


“Còn gì?”


“Tro quanh vết lõm đậm hơn.”


“Còn?”


Bạch Cư Dị nhìn kỹ hơn.


“Có một sợi chỉ đỏ mắc sát thành trong.”


Ngô Tuế Du lấy nhíp gỗ từ ngăn bàn, gắp đoạn chỉ lên. Sợi chỉ rất ngắn, chưa đầy nửa đốt ngón tay. Một đầu có dấu bị cắt, đầu còn lại tưa ra, lão cẩn thận đặt sợi chỉ vào chiếc đĩa sứ trắng.


Thanh Mộc hỏi “Chỉ may áo sao sư phụ?”

“Có thể.”


“Vậy thì là chỉ buộc phù?”


“Cũng có thể.”


“Nếu cùng có thể, vậy thì là loại nào ạ?”


Ngô Tuế Du liếc sang.


“Không biết thì ghi không biết.”


Thanh Mộc lập tức lấy sổ đặt ở kệ cửa ghi ngày, giờ, vị trí phát hiện, người phát hiện và trạng thái lư hương. Tới dòng nguyên nhân, nó viết hai chữ:


Chưa rõ.


Ngô Tuế Du nhìn qua rồi gật đầu.


“Có cần lập cảnh tuyến không?” Bạch Cư Dị hỏi.


“Chỉ vì một sợi chỉ trong lư hương?”


“Không.”


“Vậy hỏi để làm gì?”


“Con muốn biết lúc nào mới cần.”


Ngô Tuế Du đặt nhíp xuống.


“Khi con chưa biết thứ trước mặt là gì, nhưng đã biết người khác chạm vào có thể gặp nguy hiểm.”


Lão chỉ vào sợi chỉ.


“Cái này hiện chưa đủ. Không có dấu khí, không có phản ứng từ đèn, lư hương không đổi nhiệt, bài vị cũng không có dấu nhận. Có thể là sợi chỉ từ khăn lau, có thể từ tay áo, cũng có thể bị gió thổi vào lúc cửa mở.”


“Vậy nên làm thế nào?” Thằng nhóc khó hiểu hỏi lai sư phụ.


“Ghi lại. Đậy lư hương. Tối nay không thắp hương ở gian chính.”


Ngô Tuế Du lấy một nắp gỗ úp lên lư hương, sau đó dùng thẻ trắng ghi ngày giờ đặt bên cạnh. Sợi chỉ đỏ được giữ nguyên trong đĩa, phủ bằng một tấm giấy sạch tạm thời niêm phong không cho ai đến gần.


Không ai nói có quỷ.
Không ai rút kiếm.
Không ai lập đàn.


Chỉ là một sợi chỉ đỏ, vẫn chưa đủ căn cứ để kết luận bất kì điều gì, nhưng bất quá vẫn phải niêm phong lại. Không sợ vạn nhất, chỉ sợ nhất vạn. Nhưng nó đủ khiến nghi thức buổi tối phải thay đổi.


Đó là cách Ngô Tuế Du dạy hai đứa trẻ nhìn thế giới. Không phải cứ thấy một thứ bất thường là lập tức tìm một con quỷ để đổ lỗi. Trước khi có chân tướng, điều cần làm trước hết là không phá hỏng dấu vết còn lại.


“Tối nay dùng bếp sau thắp hương,” Ngô Tuế Du nói.


Thanh Mộc hỏi:


“Bếp sau đang nấu cháo khê.”


“Dập lửa đi.”


“Bánh kê thì sao?”


Ngô Tuế Du nhìn Bạch Cư Dị.


“Chia ba.”


Bạch Cư Dị hỏi:


“Không phải Thanh Mộc làm khê cơm sao?”


Ngô Tuế Du vuốt râu.


“Người tu đạo phải có lòng khoan dung.”


Thanh Mộc nói:


“Sư phụ người vừa định ăn hai cái.”


“Ta đang dạy hai đứa biết kính già yêu trẻ.”


Ba người rời gian chính. Ở sân sau, Hoài Chân đang chẻ củi. Hoài Chân năm nay hai mươi bảy tuổi, là đạo sĩ Hành Cước duy nhất thường trú ở Chung Tĩnh Quán, cũng là đạo sĩ có cấp bậc duy nhất ngoài Ngô Tuế Du. Dáng người y cao lớn, bờ vai rộng, chỉ là tay phải từng bị thương trong một lần trừ quỷ khiến cho hai ngón cuối không thể nắm chặt. Vì vậy vũ khí chính của Hoài Chân không phải kiếm, mà là một cây trượng gỗ chỉ cao tới ngực.


Trên sân đã có một đống củi lớn cao gần quá đầu của hai thằng nhóc. Nhưng Hoài Chân vẫn tiếp tục chẻ dường như không để ý đến. Ngô Tuế Du nhìn đống củi, rồi lại quay đầu nhìn hai đứa nhỏ lẽo đẽo sau lưng. Một tên nhìn thấy cái gì cũng hỏi, một tên thì lúc cần không bao giờ hỏi, một tên thì chả bao giờ hỏi cái gì, đúng là làm thầy khó lắm phải đâu chuyên đùa. Lão ho khụ khụ vài tiếng rồi mớt cất lời


“Định đốt cả quán sao?”


Hoài Chân nghe thấy tiếng của sư phụ vọng lại từ sau lưng, vội vàng đặt rìu xuống quay người kính cẩn cúi đầu chào.


“Cao Công về rồi.”


“Ta hỏi con chẻ nhiều củi thế làm gì?”


“Người bảo mùa đông năm nay có thể lạnh.”


“Ta nói khi nào?”


“Đầu mùa hạ.”


“Biết chuẩn bị sớm là tốt.”


Bạch Cư Dị nhìn đống củi. Chỗ này đủ dùng hết mùa đông, thậm chí tới đầu xuân. Tôn bà bà từ gian phơi thuốc đi ra. Bà đã ngoài sáu mươi, lưng hơi còng nhưng mắt rất tinh. Bà không phải đạo sĩ. Công việc chính là hái thuốc, lo bếp núc và chữa những vết thương thông thường. Trong đạo quán, người có thể công khai mắng Ngô Tuế Du chỉ có Tôn bà bà.


“Ông còn biết đường về à?”


Ngô Tuế Du vuốt râu.


“Xuống núi làm việc, sao gọi là không biết đường về?”


“Đi từ sáng tới chiều, mua được ba bó thuốc, một bình mực, còn để cho thằng nhỏ mang hết.”


“Rèn luyện.”


“Ông tự rèn một lần cho tôi xem.”


Ngô Tuế Du quay sang hỏi Hoài Chân:


“Củi sau kho đã xếp chưa?”


Hoài Chân lập tức cầm rìu lên.


“Con đi xếp.”


Lão lại nhìn Thanh Mộc.


“Áo vá xong chưa?”


“Con đi lấy.”


Cuối cùng lão nhìn Bạch Cư Dị.


“Bánh đã chia chưa?”


“Chưa.”


“Vậy còn đứng đây làm gì?”


Ba người tản đi, chỉ để lại Ngô Tuế Du đối diện Tôn bà bà. Tôn bà bà khoanh tay.


“Ông giỏi sai người thật.”


“Dùng người đúng chỗ là bản lĩnh của Cao Công.”


“Bản lĩnh của ông là chọn đúng lúc người khác bận để trốn việc.”


Dứt lời, bà dúi vào tay lão một bó rau cần nhặt, Ngô Tuế Du nhìn bó rau, lại nhìn Tôn bà bà, ánh mắt có trăm điều muốn nói nhưng không biết nên mở miệng thế nào. Một lát sau, vị thế ngoại cao nhân ngồi xuống bậc đá, bắt đầu nhặt từng lá úa.


Bạch Cư Dị ngồi dưới mái hiên chia bánh, nó chia rất đều. Hai phần bằng nhau, chỉ có một phần còn lại nhỏ hơn, phần nhỏ được thằng nhóc kính cẩn đặt vào bát của Ngô Tuế Du. Thanh Mộc nhìn thấy nhưng không nói. Tôn bà bà nhìn thấy cũng không nói. Đến bữa tối, Ngô Tuế Du cầm chiếc bánh nhỏ nhất, trầm ngâm thật lâu.


“Vì sao bánh của ta nhỏ hơn?”


Bạch Cư Dị uống một ngụm cháo khê đã được pha thêm nước.


“Người dạy chúng con kính già yêu trẻ.”


“Đúng.”


“Thanh Mộc là trẻ.”


“Còn con?”


“Con cũng là trẻ.”


Ngô Tuế Du nhìn Hoài Chân. Hoài Chân cúi đầu ăn cháo, lão nhìn Tôn bà bà. Bà thản nhiên ăn phần bánh lớn nhất. Ngô Tuế Du cuối cùng đành cắn chiếc bánh nhỏ.


Bữa tối diễn ra ở gian bếp. Vì lư hương gian chính đã bị đậy, Tôn bà bà đặt một bát cát sạch trên bệ cửa, cắm một nén hương ngắn để giữ lệ thường. Nén hương không mang pháp lệnh gì, chỉ là dấu cho biết người trong quán đã kết thúc công việc ban ngày.


Gió ngoài sân mạnh hơn. Cành hòe va vào mái ngói, phát ra tiếng lạch cạch không đều.


Thanh Mộc vừa ăn vừa kể rằng buổi chiều có ba con quạ đậu trên mái bếp. Hoài Chân nói quạ lên núi tránh gió. Tôn bà bà nói có lẽ chúng ngửi thấy mùi cơm khê. Ngô Tuế Du bảo quạ là loài biết chọn nơi ở, việc chúng tới đây chứng tỏ phong thủy Chung Tĩnh Quán tốt. Thanh Mộc hỏi nếu phong thủy tốt, tại sao chúng chỉ đậu một lúc rồi bay đi.


Lão đáp vì quạ cũng có việc riêng.


Ăn xong, mọi người bắt đầu công việc buổi tối.


Hoài Chân đi kiểm cổng sau và kho củi.


Thanh Mộc lau đèn, thay bấc, ghi lượng dầu còn lại.


Tôn bà bà rửa bát, đem phần cháo còn thừa ra chuồng gà.


Ngô Tuế Du ngồi ở gian bên, kiểm lại những vật đã mua dưới núi. Ba bó dược thảo được mở ra, cân riêng từng bó. Bình mực được đổ một giọt lên giấy trắng để xem có lẫn cặn hay không. Dây gai được tháo một đoạn, kéo thử độ căng. Bạch Cư Dị ngồi đối diện lão, ghi kết quả.


“Bó hoàng kỳ thứ nhất, hai cân ba lạng.”


Nó viết.


“Bó thứ hai, hai cân một lạng.”


Nó tiếp tục viết.


“Bó thứ ba, một cân chín lạng.”


Bạch Cư Dị ngẩng lên.


“Người trả tiền ba bó bằng nhau.”


Ngô Tuế Du dừng tay, suy nghĩ một hồi cười khổ.


“Lão Trần bán thuốc tuổi đã cao, mắt không tốt.”


“Nhưng cái cân của ông ấy vẫn tốt.”


“Người hành đạo không nên so đo vài lạng thuốc.”


“Trên đường về người nói dược liệu rất đắt.”


“Chính vì đắt mới không nên nghĩ nhiều, nghĩ nhiều đau lòng.”


Bạch Cư Dị nghĩ nghĩ rồi mới cẩn thận ghi vào sổ, bó thứ ba thiếu hai lạng. Sư phụ biết nhưng không truy cứu. Ngô Tuế Du nhìn dòng chữ.


“Không cần ghi việc này.”


“Người dạy mọi sai lệch đều phải ghi.”


“Đây không phải sai lệch trong pháp sự. Không cần ghi lại”


Hai thầy trò tiếp tục kiểm hàng. Tới cuộn dây gai thứ hai, Bạch Cư Dị phát hiện ở giữa cuộn có một đoạn màu đậm hơn. Nó không dùng tay chạm ngay mà lấy hai miếng gỗ nhỏ kẹp đoạn dây lên. Ngô Tuế Du nhìn qua.


“Dầu.”


“Dầu gì?”


“Có thể dầu đèn.”


“Vì sao nằm giữa cuộn?”


“Lúc cuộn dây, tay người bán có dầu.”


“Có cần tách không?”


“Cần. Dầu làm sợi trượt, không dùng đoạn ấy để lập giới.”


Bạch Cư Dị liền cẩn thận cắt đoạn dây, đặt phần dây dính đầu vào trong túi tạp liệu. Phần dây còn lại được ghi giảm chiều dài sử dụng. Những việc mà nó cần làm đa phần đều rất nhỏ, không có chút gì liên quan đến trừ quỷ hoặc là đạo sĩ. Nhưng cao công Ngô Tuế Du bắt Bạch Cư Dị phải làm từng bước một, bởi một đoạn dây trượt khỏi cọc trong lúc tập luyện chỉ khiến người ta phải căng lại. Một đoạn dây trượt trong pháp đàn thật có thể làm đường giới mở đúng nơi nguy hiểm nhất. Đối với đạo sĩ, mất mạng không hẳn là bởi vì làm sai gì đó, mà chỉ đơn giản là bỏ qua những điều bản thân cho là tầm thường.


Khi kiểm xong, trời đã tối hẳn. Ngô Tuế Du đứng dậy, duỗi lưng.


“Cư Dị, đi kiểm đèn ngoài cổng.”


Bạch Cư Dị liền gật đầu, thằng nhóc đứng lên cầm chiếc đèn nhỏ nhưng chưa thắp. Ánh trăng đầu tháng đủ để nhìn đường trong sân. Nó đi qua cây hòe, bước ra mái cổng. Hai ngọn đèn trước cổng vẫn còn dầu. Một ngọn bấc hơi thấp, cần chỉnh lại vào sáng mai. Máng nước không có lá mục. Đống củi bên phải đã phủ vải chống sương.


Bạch Cư Dị ngẩng đầu nhìn chiếc chuông không lưỡi. Chuông đang nghiêng về phía đông, nó nhìn dải chỉ trắng dưới mái, dải chỉ vẫn hướng về phía nam. Ngoài cổng, cành tùng cũng nghiêng về phía nam.


Bạch Cư Dị đứng yên.


Nó không nhìn thấy khí lạ.


Mặt chuông không có bóng chồng.


Dây treo cũng không động.


Nó bước sang trái. Chiếc chuông vẫn chỉ về hướn đông, khi nó bước sang phải. Hướng của chuông không đổi. Bạch Cư Dị đưa tay lên nhưng dừng cách chuông một gang. Nó không chạm vào vật trước khi ghi nhận. Nó quay vào sân, lấy sổ nhỏ trong áo, ngồi xuống bậc cửa.


Giờ Tuất, chuông chỉ gió hướng đông. Dải chỉ và cành tùng hướng nam. Không nghe âm thanh. Không thấy khí lạ. Chưa rõ nguyên nhân, viết xong, nó nhìn lại.


Chiếc chuông vẫn hướng đông. Thằng nhóc tự nghĩ ra một vài cách giải thích cho tình huống kì lạ trên.


Có thể bởi vì khớp treo lâu này không tra dầu nên bị kẹt.


Có thể gió dưới mái khác với gió ngoài cây.


Có thể một con chim từng đậu lên rồi làm chuông xoay lệch.


Một chiếc chuông chỉ gió quay sai hướng chưa đủ để kết luận.


Bạch Cư Dị khép sổ, quay vào trong.


Nó không gọi sư phụ Ngô Tuế Du. Ngày mai trời sáng, nó có thể cùng Thanh Mộc lấy thang xuống kiểm tra chốt treo. Nếu chốt lỏng thì sửa. Nếu chốt không lỏng, khi ấy mới cần kiểm tiếp. Ngô Tuế Du đang đứng trước gian chính.


“Bên ngoài thế nào?”


“Đèn còn dầu. Một bấc thấp. Máng nước sạch. Chuông chỉ gió lệch hướng.”


“Có khí không?”


“Con không thấy.”


“Đã ghi chưa?”


“Rồi.”


“Vậy sáng mai kiểm.”


Lão không hỏi thêm. Bạch Cư Dị cũng gật đầu. Hai thầy trò cùng nhìn khoảng sân tối. Cây hòe đứng giữa sân, cành cây lay động trong gió. Từ nhà sau vọng tới tiếng Tôn bà bà mắng Thanh Mộc vì phơi thuốc chưa thu hết. Hoài Chân đang đóng lại cửa kho, mỗi lần then gỗ trượt qua lại phát ra tiếng khô và nặng.


Mọi thứ trong Chung Tĩnh Quán vẫn bình thường. Hoặc ít nhất, chưa có gì đủ để được gọi là bất thường.


Bạch Cư Dị trở về phòng nhỏ phía đông. Phòng có hai giường, nó ngủ cùng Thanh Mộc. Giữa hai giường là một chiếc bàn thấp, trên đặt đèn, bình nước và hộp chỉ kim. Tường đá giữ lạnh, dù cửa đã đóng, hơi gió vẫn lọt qua khe cửa sổ. Thanh Mộc đi vào sau, đặt bó thuốc cuối cùng lên kệ.


“Hôm nay sư phụ đọc thơ ở chỗ cũ không?”


“Có.”


“Bài cũ?”


“Đổi một chữ.”


“Ấy là tiến bộ lớn.”


Bạch Cư Dị cởi áo ngoài, xếp ngay ngắn ở đầu giường.


“Trong lư hương có chỉ đỏ.”


“Ta biết.”


“Huynh nghĩ từ đâu tới?”


“Không biết.”


“Huynh không đoán à?”


Thanh Mộc thổi bụi trên chăn.


“Ngày mai biết thì hôm nay đoán làm gì?”


“Ngày mai chưa chắc biết.”


“Vậy đoán hôm nay cũng không giúp ngày mai biết nhanh hơn.”


Bạch Cư Dị cảm thấy câu đó có lý, nhưng lại không hoàn toàn giống lời Ngô Tuế Du dạy. Sư phụ nó luôn yêu cầu lập nhiều giả thuyết. Thanh Mộc thấy nó vẫn suy nghĩ, bèn nói:


“Ý ta là có thể đoán, nhưng đừng vì nghĩ ra được một câu chuyện hay mà tự tin câu chuyện ấy là thật.”


“Huynh từng làm vậy sao?”


“Từng.”


“Kết quả?”


“Bị phạt chép quy tắc ba mươi lần.”


“Vì chuyện gì?”


“Ta thấy dấu chân nhỏ ngoài bếp, cho rằng có tiểu quỷ vào ăn vụng.”


“Sau đó?”


“Tôn bà bà bắt được một con chó con dưới gầm bàn.”


Bạch Cư Dị nhìn về phía nhà sau.


“Chó đâu?”


“Đem xuống núi cho nhà thợ săn rồi.”


“Vì sao không nuôi?”


“Sư phụ nói đạo quán không đủ lương thực.”


“Người vẫn xuống núi uống rượu.”


“Ta cũng nói vậy.”


“Rồi sao?”


“Chép thêm mười lần.”


Bạch Cư Dị quyết định không nhắc chuyện đó với Ngô Tuế Du. Thanh Mộc nằm xuống trước. Chẳng bao lâu tiếng thở đã dần đều. Bạch Cư Dị vẫn ngồi trên giường. Nó nhìn ngọn đèn.
Ánh lửa nhỏ soi bóng bàn lên tường. Bóng bình nước, hộp kim và hai thành giường nằm đúng vị trí. Bóng của Thanh Mộc hơi phập phồng theo nhịp thở.


Trong mắt Bạch Cư Dị, người sống chưa bao giờ hoàn toàn rõ ràng. Quanh thân Thanh Mộc có những dải màu nhạt, phần lớn là dấu của những vật đã chạm trong ngày. Một vệt vàng nâu còn dính ở cổ tay, có lẽ từ dầu đèn. Một đường trắng mỏng trên ngón tay là dấu sợi chỉ dùng vá áo. Sau vai có bóng mờ của chiếc sọt thuốc từng mang buổi chiều. Chúng là phần còn sót lại của việc một người sống đã trải qua ngày của mình.


Ngô Tuế Du từng nói người không quen nhìn rất dễ xem mọi vết khí là tà dấu. Nếu làm vậy, trên đời chẳng còn ai sạch, bởi con người mỗi ngày đều chạm vào vật, đi qua nơi chốn, nhớ người đã mất và mang theo cảm xúc của chính mình.


Bạch Cư Dị nhắm mắt. Nó hít vào bốn nhịp, thở ra sáu nhịp. Hình Thanh Mộc sau mí mắt nhạt dần. Khi mở mắt trở lại, nó chỉ nhìn bóng trên tường, không nhìn những lớp khí quanh người nữa.


Ngoài sân, gió thổi qua cành hòe.


Ở mái cổng, chiếc chuông không lưỡi vẫn lặng lẽ hướng về phía đông.


Dưới chân tường, trong một khe đá nhỏ không ai để ý, có một đoạn chỉ đỏ mắc giữa hai phiến đá. Đầu chỉ khẽ lay theo gió, từng chút một bị kéo sâu vào trong khe.


Đến nửa đêm, sợi chỉ biến mất hoàn toàn.


Trong gian chính, dưới chiếc nắp gỗ úp trên lư hương, vết lõm hình bán nguyệt trên mặt tro đã đầy trở lại.


Không ai nhìn thấy.


Cũng không có tiếng động nào vang lên.


Chung Tĩnh Quán yên tĩnh như mọi đêm.


Phía xa, dòng Xuy Hà vẫn chảy qua núi, mang ánh trăng vỡ thành những mảnh nhỏ xuôi về hạ nguồn.

0
Ủng hộ tác giả Từ Nguyễn Minh Phát Nếu bạn yêu thích tác phẩm, có thể ủng hộ mình để có tiền duy trì tác phẩm.