Quyển 1: Chung Tĩnh
Chương 2: Đạo Sĩ
Bạch Cư Dị chẫm rãi mở mắt, nó quay đầu nhìn ra cửa sổ thấy trời còn chưa sáng. Thằng nhóc không tỉnh vì tiếng gà gáy, Chung Tĩnh Quán nuôi tổng cộng bốn con gà, ba mái một trống. Lai lịch của con gà trống này cũng không phải hạng tầm thường, là do Tôn bà bà mang về từ dưới thôn sau lần sư phụ làm pháp sự cho một gia đình cực kì giàu có.
Nghe bà bà kể lại sư phụ không chỉ nhận tiền công của người ta
với giá cao, lúc đi quanh vườn nhìn thấy con gà bị nhốt trong cái lồng thếp vàng
liền lớn tiếng bảo rằng đây là thần kê có duyên với ta. Rồi cứ thế ôm khư khư
không nhả, chủ nhà lại ngại danh tiếng nên dù tiếc đứt ruột cuối cùng vẫn phải
gả con cưng cho người ta.
Bạch cư dị lúc đầu còn khó hiểu, nhưng khi nhìn thấy thân hình
con gà to gần gấp đôi mấy con dưới núi liền không nói thêm gì nữa. Con gà chọi
từ ngày lên núi chắc là sống sướng hẳn, trong chuồng có mấy con gà mái thì đều
là vợ của nó, ngoài nhiệm vụ cao cả đẻ thêm gà con cho đạo quán thì cũng chỉ để
làm báo thức. Không ngờ nó lên núi chưa được ba ngày đã học theo thói quen của
lão sư phụ, chỉ làm việc khi nào bản thân thấy thuận tiện.
Có hôm nó gáy từ lúc nửa đêm làm mọi người vừa mơ màng thì giật
mình tưởng trời sáng rồi. Có hôm mặt trời đã leo quá đỉnh đầu vẫn không chịu mở
miệng. Bà bà từng định đem nó hầm thuốc, nói là bồi bổ cho đám nhỏ còn có ít hơn.
Cao công Ngô Tuế Du vừa nghe liền tái mặt vội vàng can ngăn,
nói vạn vật đều có bản tính, người tu đạo không nên vì một con gà không biết
xem giờ mà tước mạng của nó. Mọi người đành thôi, nồi nước mà Bạch Cư Dị cùng với
Thanh Mộc mới nấu để trụng vặt lông cứ thế phải đổ lại xuống sông, con gà hình
như cũng biết mình vừa thoát được một kiếp, từ hôm đó gáy rất đúng giờ.
Bạch Cư Dị dụi dụi mắt, nó lắng tai lên nghe thì ra là tiếng
gió rít qua khe cửa hòa cùng với tiếng chày thuốc đều đều từ gian sau và ba tiếng
gõ khô khốc vang lên ngoài phòng.
Cốc.
Cốc.
Cốc.
Đêm ngủ không đốt đèn cho nên toàn bộ gian phòng chìm vào một
khoảng tối mờ, chỉ có một đường sáng xám nhạt lọt qua khe cửa sổ. Trong phòng lạnh
tới mức nước trong bình đã đóng một lớp băng mỏng quanh miệng. Giường đối diện
không có động tĩnh Thanh Mộc còn đang cuộn người trong chăn, từ đầu tới chân đều
được bọc kín mít, nhìn chẳng khác nào một cái kén lớn đặt trên giường.
Ngoài cửa, giọng Ngô Tuế Du vang lên:
“Dậy.”
Bạch Cư Dị chống tay ngồi dậy.
“Trời còn chưa sáng, hôm nay chúng ta phải đi đâu sao sư phụ.”
“Hôm nay xuống núi, có chút việc.”
Ngô Tuế Du chậm rãi đáp lời, lại dùng cán kiếm gỗ gõ lên
khung cửa từng tiếng, nghe mà rợn hết cả tóc gáy
“Thanh Mộc cũng dậy đi.”
Cái kén trên giường khẽ động, từ bên trong truyền ra giọng
nói mơ hồ ngáy ngủ
“Sư phụ hôm nay con giữ quán.”
“Ai phân công con giữ quán?"
“Con tự nguyện xin giữ quán.”
“Nếu đã là người giữ quán thì còn không mau xuống giường?”
Thanh Mộc kéo chăn xuống, để lộ mái tóc rối bù.
“Nhưng mà Hoài Chân sư huynh cũng ở quán.”
“Hoài Chân còn phải sửa mái kho.”
“Còn Tôn bà bà?”
“Con định để Tôn bà bà giữ cửa, nấu cơm, sắc thuốc, cho gà
ăn, kiểm kho rồi tiện tay thay con làm luôn mọi việc sao?”
Trong phòng im lặng, thằng nhóc cuối cùng không biết nên trả lời
lại thế nào, đạo quán chỉ có vài người thật sự dùng không đủ. Ngô Tuế Du gõ
thêm một tiếng giọng nói trầm hơi khàn khàn của lão vọng vào phòng.
“Cho hai đứa nửa khắc. Quá giờ thì khỏi ăn sáng.”
Bước chân lão rời khỏi cửa. Thanh Mộc nằm bất động thêm vài nhịp
thở, sau đó chậm rãi ngồi dậy. Tóc nó dựng lên bốn phía, hai mắt lờ đờ còn chưa
mở hẳn.
“Sư phụ đã nói khỏi ăn sáng bao nhiêu lần rồi?” Bạch Cư Dị hỏi.
“Không nhớ.” Thanh Mộc lắc đầu
“Có lần nào người làm thật không?”
“Có.”
“Lần nào?”
“Lúc chính người cũng dậy muộn.”
Bạch Cư Dị cảm thấy chuyện ấy không thể xem là giữ lời, nhưng
nó cũng không biết nên tranh luận thế nào. Nghĩ cũng không có ý nghĩa nó đặt
chân xuống nền. Trời đông bình thường đã rét, đạo quán còn nằm tít trên đỉnh núi,
đá lạnh xuyên qua tất vải, khiến đầu ngón chân thằng nhỏ lập tức co lại theo quán
tính. Quần áo đã được gấp ở đầu giường từ tối hôm trước. Bạch Cư Dị mặc áo
trong, kéo dây buộc, khoác áo ngoài rồi kiểm tra từng nút. Thanh Mộc vẫn ngồi
trên giường, đầu tóc bù xù như cái tổ quạ, nó vẫn chưa thoát được cảm giác lửng
lơ giữa cơn buồn ngủ.
“Huynh còn nửa khắc,” Bạch Cư Dị thuận miệng nhắc nhở
“Nửa khắc dài lắm, đủ để thẩn thờ thêm chút nữa.”
“Đã qua gần một nửa.”
Thanh Mộc lập tức tung chăn vội vàng mặc quần áo vào. Hai đứa
ra sân khi bầu trời phía đông mới bắt đầu nhạt màu. Cây hòe giữa sân đứng im
trong bóng tối. Trên các cành cao còn đọng sương, thỉnh thoảng một giọt nước
rơi xuống mái ngói, phát ra tiếng nhỏ và lạnh. Dược thảo dưới hiên được phủ vải
từ đêm trước. Hai chum nước cạnh bếp đều đậy nắp.
Ngô Tuế Du đứng bên máng nước, lão đã thay đạo bào ngắn gọn
hơn hôm qua. Tà áo trước được buộc bớt bằng dây vải, cổ tay áo cũng thu lại,
thích hợp đi đường núi. Lão già chăm chú nhìn hai tên đồ đệ, Thanh Mộc cũng nhìn
lại sư phụ cuối cùng không nhịn nổi ngáp dài một cái.
“Chậm quá.”
Thanh Mộc ngẩng đầu nhìn trời, rồi nó chỉ về đăng đông mặt trời
vẫn còn chưa nhìn thấy, thậm chí đừng nói là mặt trời, ngay cả một tia sáng cũng
không có.
“Sư phụ trời vẫn chưa sáng. Chúng ta đâu cần gấp ạ.”
“Chờ tới sáng mới làm việc thì mặt trời làm hộ các con được
bao nhiêu?”
“Có thể phơi thuốc.”
“Cãi khá lắm. Hôm nay ở quán phơi thêm hai sàng.”
Thanh Mộc lập tức ngậm miệng, Bạch Cư Dị ở một bên đã tự túc đi
múc nước từ máng rửa mặt. Nước lạnh đến mức hai má nó tê đi. Nó lấy khăn lau,
sau đó ngồi xuống bậc đá kiểm tra bàn chân. Dù mỗi ngày đều leo núi, ròng rã cũng
đã vài năm nhưng mà đứa nhỏ thì vẫn là đứa nhỏ, gót chân trái của nó có một
vùng da hơi đỏ, nhưng chưa đến mức phồng rộp. Bạch Cư Dị cẩn thận quấn lại lớp
vải lót, bảo đảm nếp gấp không nằm dưới lòng bàn chân. Ngô Tuế Du đứng bên cạnh
nhìn khẽ gật đầu rồi mới lại lên tiếng tiếp.
“Vai thì sao?”
“Sư phụ vai con không đau.”
“Cởi áo ngoài.”
Bạch Cư Dị liền làm theo. Hai vùng trên vai còn dấu đỏ do
quai sọt siết hôm qua. Ngô Tuế Du dùng đầu ngón tay ấn nhẹ quanh đó kiểm tra.
“Chỗ này?”
“Không đau.”
“Chỗ này thì sao?”
“Hơi đau.”
Lão chậm rãi gật đầu, lấy ra một dải vải dày hơn từ chiếc giỏ
bên cạnh, đưa cho nó.
“Có thông minh hơn, nhưng vẫn chưa được. Hôm nay lót thêm, quai
gánh đi ngoài lớp vải, không đặt đúng vết cũ.”
Bạch Cư Dị nhận lấy dải vải từ sư phụ bằng cả hai bàn tay.
“Con tưởng phải luyện thể.”
“Luyện thể cốt ở cường thân kiện thể, không phải tự tra tấn bản
thân.”
“Vậy hôm qua sao người không mang giúp?”
“Hôm qua vẫn là cường thân kiện thể.”
Bạch Cư Dị suy nghĩ thêm nhưng mãi cũng không tìm được chỗ
nào để phản bác. Tôn bà bà từ trong nhà bếp bước ra, trong tay cầm một chiếc
muôi gỗ. Bà nhìn Bạch Cư Dị đang quấn vai, lại nhìn Ngô Tuế Du.
“Hôm nay ông định cho thằng nhỏ mang bao nhiêu?”
“Một bó củi nhỏ, hai túi thuốc.”
“Nhỏ theo sức nó hay nhỏ theo sức ông?”
“Theo sức nó.”
“Còn ông?”
“Hai bó lớn.”
Tôn bà bà nhìn lão từ đầu xuống chân, dường như muốn xác nhận
lão có đang nói thật hay không. Ngô Tuế Du lại chắp tay sau lưng làm ra dáng vẻ
đạo mạo như một bậc tiên trưởng.
“Người làm thầy phải lấy thân làm gương. Không thì sao đồ đệ
phục mà học tập.”
“Hy vọng hôm nay cái gương không nứt giữa đường.”
Bà đặt lên bàn ngoài hiên bốn bát cháo nóng. Cháo nấu từ gạo
cũ và hạt kê, bên trên có vài miếng rau khô, không nhiều dầu mỡ nhưng đủ ấm bụng.
Ngô Tuế Du ngồi xuống bàn trước, ông nhìn qua lại rồi lên tiếng hỏi
“Hoài Chân đâu?”
“Thằng nhóc vẫn đang sửa mái kho,” Tôn bà bà đáp.
“Trời chưa sáng đã sửa mái rồi?”
“Người ta dậy trước khi ông gõ cửa người khác.”
Ngô Tuế Du cầm bát cháo, giả vờ như không nghe thấy. Bạch Cư
Dị và Thanh Mộc ngồi xuống hai bên. Thanh Mộc vừa đưa thìa cháo lên miệng vừa
ngáp, hơi nóng làm mắt nó ướt. Bữa sáng không ai nói nhiều. Ăn xong, Thanh Mộc tự
động đứng dậy thu dọn bát của mọi người mang ra sau bếp. Bạch Cư Dị thì mang
bình nước ra rửa rồi đổ đầy lại.
Ngô Tuế Du đi tới cổng, nhìn về phía đông kiểm tra thời tiết.
Chiếc chuông không lưỡi dưới mái đang nghiêng về phía nam. Dải chỉ trắng cũng
hướng về phía nam. Hai cây tùng ngoài cổng lay cùng một hướng. Chi tiết sai lệch
tối hôm trước đã biến mất. Ngô Tuế Du kê thang gỗ vào tường. Thanh Mộc trèo
lên, một tay bám mái, tay kia kiểm tra dây treo chuông.
“Chốt có lỏng không?” lão hỏi.
“Không có sư phụ, chốt chắc lắm ạ.”
“Còn dây thì sao, có xoắn không?”
“Dạ không.”
“Có dấu chim đậu hay gì không?”
“Con không thấy.”
“Vết cọ mới chẳng hạn?”
Thanh Mộc cúi sát hơn.
“Cũng không có ạ.”
“Thử tháo xuống cho ta kiểm tra.”
Thanh Mộc gỡ chiếc chuông khỏi móc rồi đưa xuống. Ngô Tuế Du
nhận lấy bằng một miếng vải, đặt lên khay gỗ. Lão kiểm tra cả mặt trong lẫn bên
ngoài, sau đó dùng một que mảnh đo khoảng trống giữa móc và lỗ treo. Bạch Cư Dị
đứng bên nhìn.
“Có gì lạ không sư phụ?” Nó hỏi.
“Tạm thời ta vẫn chưa thấy.” Lão vừa nói vừa lắc đầu.
“Vậy vì sao tối qua chuông quay hướng đông?”
“Có thể gió dưới mái đổi hướng.”
“Nhưng con thấy dải chỉ vẫn hướng nam.”
“Cũng có thể chuông bị đẩy rồi mắc lại.”
“Nhưng vừa rồi kiểm tra thì chốt không mắc.”
“Không thể loại trừ trường hợp có một con chim đậu lên.”
“Không có dấu vết.”
Ngô Tuế Du đặt chuông trở lại khay.
“Chưa tìm thấy nguyên nhân thì không có nghĩa là nguyên nhân
không tồn tại. Có thể là do chúng ta chưa nghĩ đến mà thôi.”
“Sư phụ chúng ta có cần kiểm tra tiếp không?”
“Có. Nhưng không phải bây giờ.”
Lão bảo Thanh Mộc treo chuông lại. Sau đó lấy tấm thẻ gỗ nhỏ,
ghi thêm vào dòng tối qua. Sáng hôm sau chuông trở về hướng nam. Chốt, dây và lỗ
treo chưa phát hiện tổn hại. Không có dấu hiệu bị tác động bởi động vật. Cần tiếp
tục theo dõi, Bạch Cư Dị nhìn nét chữ nó thắc mắc lên tiếng.
“Vì sao sư phụ không dùng Khảo Âm Trù?”
“Chiếc chuông không có lưỡi, ngươi muốn nó trả lời thế nào.”
“Chúng ta có thể kiểm khí quanh nó.”
“Cũng là một cách có thể thử nghiệm.”
“Vậy sao sư phụ không làm?”
“Vì hôm nay chúng ta phải xuống núi bán củi.”
Bạch Cư Dị chớp mắt.
“Chuyện bán củi còn quan trọng hơn sao?”
“Hiện giờ thì đúng là như vậy.”
Ngô Tuế Du khoanh tay trong áo.
“Chuông chưa làm ai bị thương, không mang khí lạ, cũng không
tiếp tục sai hướng. Nếu chúng ta vì mọi việc chưa giải thích được mà ngồi mãi
trong quán, tới cuối tháng sẽ phải nấu cháo bằng tuyết, ngươi muốn ăn cháo hay
uống nước đá.”
Tôn bà bà từ trong sân gọi vọng ra
“Ăn tuyết cũng tốt, nấu lên còn sạch hơn nồi của Thanh Mộc.”
Thanh Mộc đang trên thang quay đầu lại, tức muốn giậm chân nhưng
mà đang đứng trên thang nên sợ té.
“Hôm qua là tại bình dầu, không phải do con mà.”
“Bình dầu còn có chân mà tự nhảy vào bếp được sao?”
“Là do Cao Công đặt.”
Ngô Tuế Du vừa nghe thấy lửa cháy đến mông mình, liền ngẩng
lên nhìn nó.
“Con muốn phơi ba sàng thuốc?”
Thanh Mộc lập tức quay mặt vào mái, nói một câu không đâu dính
đâu để chống cháy.
“Con thấy dây chuông rất tốt.”
Sau khi kiểm tra cổng, Ngô Tuế Du dẫn Bạch Cư Dị tới sân sau.
Đống củi do sư huynh Hoài Chân chặt hôm qua đã được phân thành sáu bó kích thước
khác nhau. Mỗi bó dùng dây gai buộc ở hai đầu, những cành dài đều được cắt bớt
để không mắc vào vách đá.
Hai bó lớn để riêng cho Ngô Tuế Du. Một bó nhỏ hơn đặt cạnh chân
Bạch Cư Dị, thằng nhóc liền thử nhấc lên, bó củi nhìn nhỏ mà nặng khiếp, nó phải
cố gắng hết sức mới có thể đứng vững. Ngô Tuế Du nhìn thấy, ông liền tháo một
khúc củi dày khỏi bó vứt vào bó của mình.
“Con có thể mang thêm.” Bạch Cư Dị muốn giữ khúc củi lại, nó đảo
mắt nhìn hai đống củi trên lưng của sư phụ đã to ú ụ, chắc chắn rất nặng. Lão
cao công cốc đầu nó một cái rõ to, giọng điệu trưởng bối răng dạy hậu bối cực kì
nghiêm chỉnh.
“Con muốn bán củi hay muốn bán luôn hai đầu gối?”
“Nhưng con vẫn có thể mang được.”
“Mang được từ đây tới cổng không có nghĩa mang được xuống
chân núi.”
Lão chỉnh hai dây buộc, ép bó củi sát hơn vào khung gánh.
“Đường xuống dễ hơn lên, nhưng chính vì dễ mà người ta đi
nhanh. Gánh đặt xa lưng sẽ kéo cả người ra khỏi sườn núi. Quai phải nằm ngoài lớp
đệm, không siết lên cổ. Khi qua khúc hẹp, nghiêng đầu củi về phía vách, không
quay ra vực.”
Bạch Cư Dị đứng yên cho lão chỉnh. Nó biết sư phụ thật sự lo
lắng cho mình, nhưng nó không muốn trở thành gánh nặng của người.
“Nếu con vô tình trượt chân thì phải làm sao?”
“Thì vứt gánh đi, đơn giản vậy cũng hỏi.”
“Nhưng củi sẽ rơi xuống vực.”
“Thì mất củi.”
“Nếu bó củi đó bán được rất nhiều tiền thì sao?”
“Vẫn phải vứt.”
Ngô Tuế Du thắt nút cuối cùng.
“Đồ đạc không biết tự buông con. Con phải biết buông nó, càng
phải biết buông nó đúng lúc.”
Bạch Cư Dị nhớ lại những pháp khí được bọc vải trong gian
chính. Nó liền hỏi
“Nếu nhưng thứ đó không phải là củi mà là pháp khí thì sao?”
“Nếu đã là pháp khí, thì phải biết pháp khí có đang nối với
thứ gì không. Nếu không nối, bỏ.
Nếu đang nối, đoạn rồi bỏ. Nếu không biết có nối hay không, càng không được ôm sát người.”
“Nếu như món pháp khí đó là trấn môn chi bảo trong truyền thuyết
thì sao?”
“Chung quy thì vẫn là đồ vật ngoài thân.”
“Chỉ cần là đồ vật ngoài thân, thì đều có thể bỏ sao?”
“Không thể nói là tất cả những vật ngoài thân đều có thể bỏ,
nhưng đến lúc phải bỏ đi để giữ mạng, vậy thì không thể nắm bên người.”
Ngô Tuế Du nhìn nó, thấy thằng nhóc vẫn còn chưa hiểu hết những
gì mình nói. Bàn tay già nua đã chai sần của ông chậm rãi đưa lên vỗ vỗ vào đầu
Bạch Cư Dị mấy cái.
“Tất cả pháp khí trên đời đều dùng để cứu người. Nếu như giữ món
pháp khí đó có thể khiến người chết, khi ấy pháp khí quý hay không chẳng còn
liên quan.”
Lời ấy được nói rất bình thản. Bạch Cư Dị không biết sư phụ
đã từng phải bỏ lại pháp khí nào hay chưa. Nhưng nó không hỏi, chủ yếu là không
biết nên hỏi vào lúc nào. Ngô Tuế Du đặt hai bó củi lên đòn gánh, thử đứng thẳng.
Hai đầu đòn cân nhau. Lão đi một vòng sân, sau đó mới bảo Hoài Chân buộc thêm
hai túi dược liệu vào khung của Bạch Cư Dị.
Túi thuốc không nặng, nhưng được đặt phía trước để cân bằng cùng
bó củi sau lưng. Hành trang còn lại hai người đem theo rất ít. Ngô Tuế Du mang
kiếm gỗ đào, một túi phù nhỏ, Giới Xích gấp, dao công cụ, tiền lẻ và Lệnh Bài của
đạo quán. Bạch Cư Dị thì mang bình nước, dao hái thuốc, ba túi vải rỗng, dây buộc,
sổ, bút thường, Vô Diện Sa cùng ba lá phù lệnh đóng.
Nó nhìn về kho pháp khí.
“Sư phụ người không mang theo Hồ Lô sao?”
“Không.”
“Còn trấn Đinh?”
“Không.”
“Vậy cái chuông pháp?”
“Không.”
“Ngộ nhỡ chúng ta gặp quỷ thì phải làm sao?”
Ngô Tuế Du nhấc đòn gánh lên vai.
“Nếu việc gì cũng chuẩn bị như sắp gặp quỷ, chúng ta đi đâu cũng
phải mang nửa đạo quán xuống núi.”
“Có thể chia hai chuyến cũng được mà, an toàn hơn.”
“Mang theo nhiều thứ đến lúc thật sự cần phải chạy, con chỉ
còn cách ngồi xuống chờ quỷ tới giúp tháo sọt thôi.”
Bạch Cư Dị nhìn bó củi của mình.
“Vậy thì ba lá phù con mang theo có đủ không?”
“Không biết, ta đâu thể đoán trước được chúng ta sẽ gặp quỷ
hay không, và gặp loại quỷ nào.”
“Sư phụ, người không biết mà vẫn dám đi sao?”
“Dưới chân núi là ba thôn có người sống, không phải quỷ quật.”
Ngô Tuế Du bước ra cổng.
“Nếu trên đường có việc vượt quá số đồ chúng ta mang, việc
đúng không phải lấy ít đồ làm liều. Việc đúng là ghi lại, giữ người tránh xa rồi
về lấy thứ cần thiết.”
Bạch Cư Dị theo sau. Thanh Mộc đứng trên bậc cửa vẫy tay chào
tạm.
“Bạch lão đệ, xuống núi nhớ phải mang bánh về đó.”
Ngô Tuế Du quay đầu nhìn chăm chăm thằng nhóc, hắng giọng hỏi
lại
“Tiền đâu mà mua bánh cho ngươi?”
Thanh Mộc chỉ Bạch Cư Dị.
“Không phải sư phụ xuống núi bán củi sao, bán củi là có tiền
rồi.”
“Tiền của đạo quán, không phải để ngươi mua đồ ăn vặt.”
“Bánh cũng là mua cho người trong đạo quán ăn mà sư phụ.”
Ngô Tuế Du suy nghĩ, dường như cảm thấy lý lẽ này hơi khó bác. Tôn bà bà ném cho Bạch Cư Dị một chiếc túi vải nhỏ.
“Có mấy miếng khoai. Dọc đường đói thì ăn. Đừng để lão già ăn
hết.”
Ngô Tuế Du lập tức phản đối
“Ta là sư phụ nó. Sao bà bà nói nghe cứ như ta không thương đồ
đệ mình vậy.”
“Vì ông là sư phụ nó nên tôi mới phải dặn đấy.”
Cao công tức đến giậm chân, nhưng khổ nỗi miệng lưỡi bình thường
không cãi lại người ta. Thế là quay lưng đi thẳng, Bạch Cư Dị liền đuổi theo
sau lưng, một lớn một nhỏ, một cao một thấp rời khỏi Chung Tĩnh Quán khi mặt trời
vừa nhô khỏi đường núi phía đông. Ánh sáng mới còn nhạt, chưa mang hơi ấm. Mây ở
trên Cao Châu Ly Sơn đóng thành từng lớp mỏng, đậm màu chì xám. Khói bếp từ ba
thôn dưới thung lũng bay lên, không cao mà trải ngang. Ngô Tuế Du dừng lại nhìn
một lát.
“Trưa có thể sẽ mưa. Vả lại còn mưa không nhỏ.”
Bạch Cư Dị ngẩng đầu nhìn trời, nó không biết phép xem thiên tượng
của sư phụ, đa phần đều dựa vào màu mây và hướng gió để phán đoán.
“Sư phụ, hôm nay mây không dày như mọi ngày.”
“Mây ở đây đương nhiên không dày. Phía đông mới dày.”
“Vậy làm sao người biết mưa sẽ tới núi Chung Tĩnh?”
“Khói dưới thôn bị ép thấp, tiếng sông vọng lên đục, mặt đá
dưới cổng giữ ẩm lâu hơn hôm qua.”
“Có thể trời sẽ không mưa?”
“Cũng có khả năng đó.”
“Vậy người đoán?” Thằng nhóc nghiêng đầu khó hiểu nhìn sư phụ
“Ta phán đoán.”
“Đoán và phán đoán có gì khác nhau sao?”
“Đương nhiên có khác, đoán thì không có căn cứ hoàn toàn dựa
vào may mắn. Còn phán đoán thì có căn cứ, tuy nhiên cũng có thể sai.”
“Vậy nếu đến trưa trời vẫn không mưa thì sao?”
“Cứ biết là đến trưa vẫn không có mưa là được.”
“Sư phụ người không tìm lý do giải thích sao?”
Ngô Tuế Du quay đầu nhìn nó. Bạch Cư Dị tiếp tục bước, mặt
không đổi, lão hừ một tiếng.
“Tên nhóc ngươi chuyện hay ý đẹp thì không hoc, chỉ giỏi cái
trò nói mốc mỉa như thằng nhóc Thanh Mộc kia thôi.”
Hai người đi xuống theo đường núi. Lúc đi lên, người ta thường
nhìn vào chân. Lúc đi xuống, tầm mắt mở rộng hơn, nhưng gánh củi khiến trọng
tâm bị đẩy về phía trước. Ngô Tuế Du không cho Bạch Cư Dị đi nhanh. Mỗi khi tới
khúc cua, lão đều dừng trước, nhìn xuống đường dưới rồi mới đưa tay ra hiệu. Dọc
đường có vài cọc gỗ thấp cắm sát vách. Trên mỗi cọc khắc một vạch ngang, dùng
làm dấu khoảng cách và mốc trong sương.
Đến cọc thứ năm, Ngô Tuế Du dừng lại.
Cọc hơi nghiêng.
Đất quanh chân cọc bị nước khoét mất một phần.
Lão đặt gánh củi xuống chỗ bằng, kê hai đầu bằng đá để dây
không chạm bùn. Bạch Cư Dị làm theo.
“Lấy dao.”
Bạch Cư Dị rút dao công cụ.
Ngô Tuế Du dùng chân nén đất quanh cọc. Bạch Cư Dị cắt một
nhánh cây vừa chiều dài, đóng ngang vào phía sau làm điểm chống. Hai thầy trò
xúc đất khô từ dưới mép đá lấp quanh chân cọc, sau đó dùng hòn đá bẹt nện xuống.
“Cọc này không phải pháp khí,” Ngô Tuế Du nói. “Nhưng trong
sương, người đi đường nhìn nó để biết mình còn ở trên lối hay đã lệch ra vực.”
“Vậy cũng là vật cứu mạng.”
“Đúng.”
“Tại sao không khắc phù?”
“Vì nó không cần phù để làm việc của nó.”
Lão thử lay chiếc cọc.
“Nếu thứ gì cũng khắc phù, người ta sẽ quên kiểm tra đất dưới
chân. Quá an toàn thường dễ đánh mất khả năng cảm nhận nguy hiểm.”
Bạch Cư Dị dùng bút ghi ngày sửa cọc vào sổ đường núi. Hai thầy
trò lại đi thêm một đoạn nữa. Đến nơi có vách đá lõm vào trong, Ngô Tuế Du mới đặt
gánh xuống.
“Là cây thuốc.”
Phía dưới khe đá mọc một cụm cây lá nhỏ, mặt trên xanh sẫm, mặt
dưới phủ lông trắng. Bạch Cư Dị nhận ra đó là bạch mao căn non, nhưng rễ chưa đủ
tuổi dùng.
“Sư phụ cây này không thể đào rễ,” nó nói.
“Vì sao không thể đào rễ?”
“Cuối đông cây yếu. Đào lúc này thì bụi còn lại khó sống đến
mùa xuân năm sau. Nếu cây chết sau này không thể lấy được cây thuốc nữa.”
“Vậy lấy lá có được không?”
Bạch Cư Dị quỳ mọp xuống cẩn thận quan sát thật kĩ toàn bộ cây
“Có thể lấy, nhưng chỉ được một phần mà thôi.”
“Được bao nhiêu?”
“Nhiều nhất là một phần ba. Vừa không làm hỏng căn cơ của cây,
vừa giúp cây dồn dinh dưỡng nuôi những phần còn lại”
“Ừm, hôm nay nhớ bài rất tốt. Làm đi.”
Bạch Cư Dị lại quỳ xuống, trải một tấm vải lên đá rồi dùng
dao cắt những lá đã trưởng thành. Lá bị sâu hoặc úa được bỏ lại. Sau khi thu đủ,
nó dùng đất phủ kín phần rễ lộ ra. Hái thuốc xong hai thầy trò lại mang gánh củi
tiếp tục cuộc hành trình.
Gần giữa đường còn có một miếu nghỉ nhỏ. Thực chất đó chỉ là
mái che dựng sát vách, bên trong có bệ đá và một bát cát. Người đi qua núi hoặc
lên núi hay dùng nơi này tránh mưa, nghỉ chân hoặc để lại một ít củi khô cho
người đến sau. Trên tường vách còn có nhiều chữ khắc, phần lớn trong đó đều là
tên người hoặc ngày tháng, còn có mấy chỗ đã bị phong hóa mài mòn đến không còn
nhìn rõ chữ.
Bạch Cư Dị từng tò mò hỏi sư phụ đó là những chữ gì, lão cao
công sau một hồi làm vẻ thần thần bí bí mới tiết lộ đó là mấy bài thơ ngẫu hứng
mà ông khắc lên khi còn trẻ. Thằng nhóc ban đầu còn bán tín bán nghi, nhưng nhìn
cái điệu bộ của sư phụ, sau này nó quyết tâm không hỏi đến nữa. Ngô Tuế Du chậm
rãi lấy hai khúc củi tốt từ gánh đặt vào góc. Bạch Cư Dị nhìn theo có chút thắc
mắc.
“Sư phụ củi đem bán được tiền, vì sao cứ vài ngày đi ngang chúng
ta đều bỏ lại một ít.”
“Vì người bị mắc mưa ở đây có thể cần lửa hơn chúng ta cần
hai đồng tiền.”
“Đạo quán không thiếu tiền nên mới cho được?”
Ngô Tuế Du phủi phủi xung quanh bệ đá rồi mới ngồi xuống.
“Nếu thiếu, chúng ta để lại một khúc.”
Lão lấy túi khoai Tôn bà bà chuẩn bị, đổ ra năm miếng. Bạch
Cư Dị nhìn thật kỹ động tác của sư phụ, lão sư phụ lấy hai củ. Bạch Cư Dị cũng theo
đó lấy đi hai củ. Phần khoai nướng cuối cùng được gói lại cẩn thận đặt vào bên
trong sọt. Bạch Cư Dị vừa gặm khoai vừa tò mò hỏi.
“Sư phụ, người thực sự không lấy thêm sao?”
“Vi sư biết kính trẻ, ngươi con nhỏ ăn nhiều một chút cho mau
lớn.”
“Tôn bà bà có bảo không được để người ăn hết.”
“Không phải ta đang chứng minh lời bà ấy là thừa sao.”
Hai thầy trò ăn khoai, uống nước rồi nghỉ chân. Trong lúc rảnh
rỗi Ngô Tuế Du lấy trong tay áo ra sáu đồng tiền, đặt thành một hàng trên bệ
đá.
“Thử tính xem một bó củi hôm nay bán được bao nhiêu tiền?”
“Mùa đông tới, giá củi dưới thôn có tăng thêm một chút, hơn nữa
chúng ta bán đều là củi tốt. Có thể được bảy mươi đồng nếu cân đủ.”
“Vậy quy ra một cân gạo thì thế nào?”
“Nếu như mua gạo mới thì chừng bốn đồng. Gạo cũ thì ba đồng
rưỡi.”
“Cần mua một bình dầu thì sao?”
“Nếu vậy thì phải xem sư phụ muốn mua dầu nào. Vẫn là loại
chúng ta hay dùng thì hai mươi sáu đồng, nhưng tháng trước con nghe nói mùa đông
năm nay lạnh hơn, chắc sẽ có tăng giá.”
“Đủ dùng trong bao lâu?”
“Nếu chỉ tính thắp hai ngọn trong gian chính thì chừng mười đêm.
Gặp trời gió cần lửa lớn hoặc cần trực đêm thì sẽ còn ít hơn.”
“Nếu mua một xấp giấy vàng?”
“Cái này con từng nghe mọi người báo giá ba mươi hai đồng.”
“Có thể vẽ được bao nhiêu phù?”
“Sư phụ, muốn biết vẽ được bao nhiêu còn phải xem kích thước
phù chứ.”
“Tính theo loại giấy chuẩn đi.”
“Hai mươi bốn lá chuẩn. Đương nhiên tính ở điều kiện lí tưởng,
không có lá hỏng.”
“Có khi nào hai đứa nhóc các ngươi vẽ bù mà không có lá hỏng?”
Bạch Cư Dị nghĩ tới nét bút của Thanh Mộc sau đó nghĩ đến nét
bút của mình, cuối cùng nó gật đầu như gà mổ thóc.
“Đúng là không có mấy khi.”
Ngô Tuế Du hài lòng gật đầu, sau đó lại hỏi tiếp tới những điều
chuyên sâu hơn.
“Nếu có một người bị thương cần nằm dưỡng bảy ngày thì cần
bao nhiêu tiền mới đủ?”
“Cái này còn phụ thuộc vào người đó dùng thuốc gì chứ sư phụ?”
“Đơn giản thôi, ví dụ như gãy chân, mất máu nhẹ, đương nhiên không
bị nhiễm phải quỷ khí.”
Bạch Cư Dị liền lẩm nhẩm bắt đầu thử tính toán hết toàn bộ
chi phí cần thiết, từ gạo, rau đến than củi. Các loại dược thảo chữa bệnh,
trong lúc đó còn cần dùng vải băng. Chưa kể cần có người chăm sóc, và quan trọng
nhất là phần công việc người ấy không thể làm trong thời gian tịnh dưỡng. Nghĩ
tới đây, nó dừng lại không tính thêm nữa. Nó ngửa đầu nhìn lão sư phụ.
“Con không biết người đó làm nghề gì, không thể tính chính xác
mất bao nhiêu tiền.”
“Đúng rất đúng trọng tâm mà ta muốn nói.”
“Nếu như người đó làm ruộng thì mất công ruộng. Nếu là thợ
rèn thì mất đơn hàng.”
“Còn nếu phải phong tỏa cả nhà họ một đêm. Thì cần chuẩn bị thêm
cả thức ăn cho mọi người.”
“Sư phụ còn cần thêm gì nữa không?”
“Kể thì nhiều, nhưng cơ bản cứ là nước, chăn, chỗ đi vệ sinh
và một người canh gác.”
“Nếu gia đình người đó có nuôi gia súc thì làm sao?”
“Tính thêm cả công cho chúng ăn vào.”
“Vậy còn đồ trong nhà người dân?”
“Đương nhiên để tránh đục nước béo có, thì phải có người bảo
vệ.”
Ngô Tuế Du nói đến đây, ông liền nhặt hai đồng tiền lên đưa trước
mặt thằng nhóc, gương mặt lão sư phụ nghiêm nghị khiến thằng nhóc phải liền thẳng
lưng dỏng tai nghe.
“Đạo sĩ không hiểu tiền dễ phạm hai loại sai.”
Lão đặt đồng tiền sang bên trái.
“Loại thứ nhất chính là xem tài sản tính góp của người dân
như cỏ rác. Phá cửa, đốt nhà, giết gia súc, đình chỉ công việc của họ. Đến cuối
cùng quỷ thì chưa chắc đã dọn xong, nhưng mọi thứ nhà cửa, tài sản tích góp của
người ta đều toang hoang, hắn cũng chỉ nói một câu vì trừ quỷ nên không thể tính
toán nhiều tới vậy, bảo người dân nghèo vừa mất tài sản nhiều khi còn mất người
thân là đừng so đo.”
Đồng thứ hai được đặt sang bên phải.
“Loại thứ hai còn nguy hiểm hơn. Nếu một đạo sĩ coi tiền tài
còn quý hơn mạng người. Không dám phá vật neo vì nó đáng giá, tiếc một lá phù,
tiếc một bình dầu, thấy người mắc kẹt trong nhà vẫn không dám đạp cửa xông vào
cứu nguy.”
Bạch Cư Dị nhìn hai đồng tiền.
“Vậy làm sao con biết khi nào nên phá, khi nào nên giữ?”
“Không có một câu trả lời nào đúng cho mọi tình huống. Chỉ có
thể liệu sự làm việc.”
“Vậy con học cách dùng tiền để làm gì?”
“Để khi phá, con biết mình đã lấy đi của người ta bao nhiêu
công sức. Khi không phá, con cũng biết thứ mình đang giữ có đáng để đánh đổi bằng
mạng người hay không.”
Ngô Tuế Du gõ nhẹ đồng tiền lên mặt đá.
“Nếu con không biết một căn nhà đáng giá bao nhiêu, con sẽ
phá nó quá dễ. Chỉ biết nó đáng bao nhiêu, con sẽ có ngày đứng nhìn người chết
bên trong vì không dám xông vào.”
Bạch Cư Dị liền ghi câu ấy vào sổ. Ngô Tuế Du liếc qua, bàn
tay buông đồng xu vỗ lên đầu thằng nhóc một cái rõ đau.
“Còn phải ghi cả câu trước nữa.”
“Nhưng sư phụ đã nói câu nào ngoài câu vừa rồi đâu?”
“Đạo quán có tiền là chuyện của đạo quán. Có biết một đồng tiền
đổi được bao nhiêu gạo hay không là chuyện của người cầm tiền.”
Bạch Cư Dị chả hiểu câu này dùng để làm gì, nhưng mà để không
bị sư phụ vỗ đầu cái nữa nó vẫn ngoan ngoãn chép thêm vào sổ. Xong rồi nó mới lên
tiếng hỏi
“Vậy sư phụ đạo quán có bao nhiêu tiền?”
“Chuyện này thì không liên quan tới con.”
“Nhưng không phải người vừa nói phải biết đạo quán có bao nhiêu
tiền sao?”
“Biết giá trị của tiền thì không đồng nghĩa biết chỗ cất tiền.”
“Nhưng con đâu có hỏi chỗ cất.”
“Vậy thì cũng chưa tới lúc cần biết.”
Ngô Tuế Du thu sáu đồng tiền lại, đứng lên gánh củi. Bạch Cư
Dị càng nghĩ càng khó hiểu, nó thấy sư phụ trả lời chả câu nào ăn nhập với câu
nào, biết là lão cố ý chuyển chuyện, nhưng phần còn lại của đường xuống núi đã
hiện trước mắt, nó không hỏi thêm. Khi hai người tới Tây Khê Thôn, mặt trời đã
lên cao hơn các ngọn đồi thấp.
Thôn Tây Khê nằm gần chân núi Chung Tĩnh nhất, cách dòng Xuy
Hà chưa đầy hai dặm. Nhà cửa trong thôn phần lớn đều được xây bằng đất nện, nhà
nào khá giả chút thì có mái lợp ngói, còn phần lớn đều bằng rơm. Một vài nhà còn
có người ra khỏi núi làm ăn, lâu lâu lại trở về thăm cho nên trong nhà có sân gạch,
cổng gỗ, phía trước còn treo đèn lồng. Nhà nghèo hơn chỉ có hàng rào tre và một
khoảng sân nhỏ để phơi ngô.
Mương nước được đào chạy dọc con đường chính. Người dân đặt
những tấm đá làm cầu trước cửa. Hai bên đường có gà bới đất, vài con chó vàng nằm
phơi nắng, những đứa trẻ thì dùng cành cây đánh một quả cầu làm từ vải vụn.
Khói bếp, mùi rơm khô, phân gia súc và dầu chiên trộn vào
nhau. Với người bình thường, đó là mùi của một buổi sáng trong thôn. Trong mắt
Bạch Cư Dị, nơi đông người phức tạp hơn rất nhiều.
Mỗi người đi qua đều để lại những lớp dấu nhạt trên đường.
Khói bếp bám trên áo. Dầu, đất, sợi vải và mùi thuốc lẫn vào nhau. Một người vừa
ôm con gà còn mang quanh tay hình mờ của đôi cánh. Một đứa trẻ chạy ngang qua để
lại sau gót những đường sáng mảnh do vừa giẫm qua vũng nước phản nắng.
Những thứ ấy không phải quỷ. Nhưng khi quá nhiều dấu chồng
lên nhau, mắt Bạch Cư Dị bắt đầu khó chọn thứ cần nhìn. Nó hạ tầm mắt xuống vai
người đi đường, tránh nhìn thẳng mặt. Ngô Tuế Du đi trước nhưng không quay đầu.
“Không được thì chỉ cần chú ý những thứ quan trọng. Đừng cố
nhìn hết.”
Bạch Cư Dị hỏi
“Người biết con đang nhìn gì sao?”
“Không phải con đang đi chậm lại sao.”
“Con vẫn theo kịp.”
“Vai con đang căng lên rồi kìa.”
Bạch Cư Dị thử thả lỏng vai. Những lớp hình quanh đám đông dịu
xuống một chút. Một đứa trẻ trong thôn nhận ra Ngô Tuế Du, lập tức chạy tới
cung kính khoanh tay cúi đầu chào.
“Con chào Ngô đạo trưởng!”
Ngô Tuế Du đặt gánh xuống, vỗ vỗ đầu thằng nhóc
“Cha ngươi đâu?”
“Cha con ở lò rèn.”
“Mẹ ngươi thì sao?”
“Mẹ con đi giặt đồ rồi.”
“Bài hôm trước học thuộc chưa?”
Đứa trẻ vừa nghe thấy bài học lập tức sợ đến xanh mặt quay đầu
cắm cổ chạy thẳng về nhà. Bạch Cư Dị nhìn theo lắc đầu mắc cười dù cậu cũng chẳng
nhìn thấy rõ nhân dạng của thằng nhóc ra làm sao, lúc bóng thằng nhóc đã khuất
trong đám đông mới lên tiếng
“Sư phụ, người còn dạy nó học nữa sao?”
“Cha nó nhờ ta. Trả công cũng rất hậu hĩnh.”
“Vì sao nó lại bỏ chạy khi nghe người hỏi vậy?”
“Có lẽ vội về nhà làm việc chẳng hạn.”
“Con nghĩ là thằng bé chưa học bài rồi.”
“Cư Dị, người tu đạo thì không nên tùy tiện nghi ngờ người khác,
đặc biệt là nghi ngờ trẻ con.”
Chỗ thu mua củi nằm gần đầu thôn. Chủ cửa hàng là Trịnh lão
bá, một người cao tuổi có lưng hơi còng, ông ta chuyên mua củi để bán lại cho
lò gạch và những nhà không có người lên núi rồi ăn chênh lệch, giá cả mua vào bán
ra đều được công khai cho nên rất được lòng người mua hàng, củi thường hết
trong ngày. Trịnh lão bá thấy hai thầy trò liền kéo chiếc cân lớn ra.
“Cao công hôm nay tự gánh củi xuống núi sao?”
Ngô Tuế Du đặt hai bó củi xuống, phủi vai trông nhẹ như không.
“Người tu đạo cũng phải lao động. Huống chi chỉ là hai bó củi,
nhiêu đây mới là thư giản gân cốt thôi.”
Trịnh lão bá nhìn Bạch Cư Dị.
“Tiểu đạo trưởng thì thường gánh chứ gì?”
Ngô Tuế Du nghiêm mặt.
“Hôm nay ta gánh gấp đôi nó.”
“Vậy là hôm nay mới lao động?”
Ngô Tuế Du không trả lời. Trịnh lão bá cười xòa, chỗ quen biết
nên thường trêu chọc nhau, ông treo bó củi đầu tiên lên cân. Bạch Cư Dị đứng
bên kiểm tra, đòn cân phải nằm tự do dây buộc không được mắc mép. Đương nhiên quả
cân còn cần được đặt đúng vạch. Bó đầu nặng ba mươi hai cân. Bó thứ hai ba mươi
cân. Bó nhỏ của Bạch Cư Dị mười bốn cân.
“Bảy mươi sáu cân,” Trịnh lão bá nói. “Mùa đông gần tới củi cũng
tăng giá, hôm nay thu cao hơn bình thường một chút, tổng bảy mươi lăm cân cho
tròn. Tính hết là chín mươi đồng nhé.”
Bạch Cư Dị nhìn cân.
“Là bảy mươi sáu cân mà.”
“Nhưng khúc củi này còn hơi ẩm không thể tính chung được.”
“Nhưng lúc đặt lên cân thì vẫn là bảy mươi sáu cân.”
“Củi ẩm thì đốt không tốt.”
“Nhưng lão bá thường trả tiền theo cân.”
“Tiểu đạo trưởng thật là tính kỹ.”
Bạch Cư Dị không đáp lời, Ngô Tuế Du đứng bên cạnh cũng không
can thiệp vào cuộc tranh luận mua bán của hai người. Trịnh lão bá quay sang nhìn
lão
“Đạo trưởng, ngài không định nói giúp một câu sao?”
“Ta đang dạy nó cách mua bán.”
“Hầy ta chỉ đùa với hai người thôi, trước nay vẫn tính theo cân.
Bảy mươi sáu thì bảy mươi sáu.”
Trịnh lão bá lấy túi tiền, đếm từng đồng đặt lên bàn. Bạch Cư
Dị cẩn thận đếm lại nó phát hiện ra nhiều
hơn mấy đồng. Nó liền đẩy phần thừa về phía ông.
“Lão bá người trả tiền bị dư rồi.”
“Không dư đâu, là ta cho tiểu đạo trưởng.”
“Vì sao lão bá lại cho cháu?”
“Vì tiểu đạo trưởng đã gánh củi.”
Bạch Cư Dị nhìn Ngô Tuế Du. Lão không gật cũng không lắc đầu,
thằng nhỏ suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp
“Nếu lão bá nói là tiền thưởng, thì phải ghi riêng ra.”
Trịnh lão bá bật cười tiếp lời, “Cứ theo ý tiểu đạo trưởng là
được.”
Bạch Cư Dị ghi vào sổ tiền bán củi và mấy đồng được cho thêm.
Sau đó nó hỏi:
“Nếu lão bá không biết đã trả dư thì sao?”
“Ta là người trả tiền, làm sao có chuyện trả thiếu hay dư mà
không biết.”
“Nếu như thật sự không biết thì sao?”
“Thì tiểu đạo trưởng cứ giữ lấy.”
“Làm thế thì không được.”
“Vì sao tiểu đạo trưởng cho rằng không được?”
“Không phải tiền của con kiếm ra, không thể nhận được.”
Trịnh lão bá nhìn Ngô Tuế Du.
“Tiểu đạo trưởng thật sự có thiên phú làm quản kho.”
Ngô Tuế Du cười cười gật đầu đáp lời, “Miễn nó đừng kiểm luôn
tiền rượu của ta.”
Rời chỗ bán củi, hai thầy trò tới tiệm thuốc. Chủ tiệm là lão
Trần, người hôm qua đã bán ba bó thuốc thiếu cân. Hôm nay thấy Ngô Tuế Du, ông
lập tức quay mặt vào trong sắp lại ngăn kéo. Ngô Tuế Du đặt hai túi dược liệu
lên quầy.
“Thuốc phơi đợt trước.”
Lão Trần mở từng túi, kiểm màu, mùi và độ khô. Bạch Cư Dị đứng
bên ghi trọng lượng. Mỗi loại được cân riêng. Lá khô vụn để riêng, không tính
cùng loại nguyên. Rễ còn ẩm bị loại khỏi mẻ. Sau khi cân xong, lão Trần tính tiền
rồi nói:
“Thời gian này thuốc an thần và thuốc trị thương lên giá. Nếu
quán còn thì đem xuống, ta thu hết.”
“Ồ, có người ở vùng nào đến mua hàng sao?” Ngô Tuế Du hỏi.
“Cao công quả là mắt sáng như sao, đúng là có thương lái phía
đông đến gom hàng.”
“Là phía đông nào?”
“Nghe chất giọng và cách nói chuyện của bọn thì khá giống với
dân ở bên kia Xuy Hà. Chắc là ở vùng gần chân Cao Châu Ly.”
“Bọn họ mua nhiều những loại thuộc nào?”
Lão Trần cẩn thận nhớ lại rồi thuật ra tên của từng loại, từ
những lọ thuốc cầm máu, thuốc trị bỏng thông dụng trên thị trường. Cho đến dược
liệu an thần, vải băng thậm chí nghe nói bọn họ còn đi quanh vài thôn để thu
mua dầu đèn, giấy bản cùng chỉ đỏ. Bạch Cư Dị ngẩng lên khi nghe đến hai chữ cuối.
Ngô Tuế Du thì vẫn không thay đổi sắc mặt tiếp tục hỏi
“Chỉ đỏ cũng mua ở tiệm thuốc của ông được sao?”
“Loại chỉ đỏ mà tiệm hay bán là loại dùng để buộc gói thuốc
thôi. Cũng không biết bọn họ cần mua để làm gì, nhưng đã dọn sạch loại chỉ tẩm
sáp của vài cửa tiệm trong thôn chúng ta rồi, lúc họ mua ở tiệm chỉ nói là đi
đường ẩm khỏi mục.”
“Nhóm mua ấy có bao nhiêu người?”
“Đi vào trong mua hàng thì có ba người, bên ngoài thì không rõ.”
“Ba người đi vào là nam hay nữ?”
“Trong đó có hai người đàn ông, còn lại một người trùm kín mặt.
Tôi cũng không nhìn rõ.”
“Ồ vậy bọn họ dùng xe gì để vận chuyển hàng đi?”
“Là loại xe ngựa nhỏ thông dụng thôi.”
“Này lão Trần, lúc bọn họ trả tiền đồ. Những người đó dùng tiền
của vùng nào, có thể lấy ra cho ta xem thử hay không?”
Lão Trần gật gật đầu lập tức lấy từ ngăn kéo ra một xâu đồng
tiền đặt lên bàn. Đồng tiền có hình vuông ở giữa, mép mòn, mặt trước khắc niên
hiệu quen thuộc. Nhưng màu đồng sẫm hơn tiền trong vùng, Ngô Tuế Du cầm bằng
khăn, xem một lát rồi trả lại.
“Đều là tiền thật cả chỉ là màu sắc hơi khác chút.”
“Tôi kinh doanh tiệm thuốc cũng hơn bốn mươi năm, quả thật lần
đầu nhìn thấy đồng tiền có màu xỉn như vậy, nhưng sau khi xác nhận kĩ là tiền
thật thì không nghĩ nhiều nữa.”
“Bọn họ tới khi nào?”
“Chừng khoảng năm ngày trước.”
“Ông có hỏi bọn họ mua nhiều thế cho ai không?”
“Không đâu đạo trưởng. Tôi là người làm kinh doanh, đối phương
trả tiền đủ thì mang đồ đi, tôi cũng không hỏi nhiều làm gì.”
Ngô Tuế Du gật đầu. Bạch Cư Dị chờ lão hỏi về chỉ đỏ trong lư
hương, nhưng lão không nhắc. Sau khi giao thuốc xong xuôi, Ngô Tuế Du mua lại thêm
một bình dầu, hai xấp giấy, một túi muối. Cùng với kim khâu và hạt giống thảo
dược, cuối cùng lúc chuẩn bị rời đi mới chực nhớ ra Bạch Cư Dị chạy vào lại mua
thêm một ít thuốc ho cho Tôn bà bà. Sau đó khi thanh toán hết tiền đồ, chút tiền
bán củi và thuốc vừa cầm còn chưa nóng tay đã dùng gần như dùng hết. Thằng nhó nhìn
số tiền ít ỏi còn lại trong túi.
“Làm hì hục cả buổi chỉ còn mười ba đồng. Kiếm tiền cũng thật
là khó.”
Ngô Tuế Du xếp giấy vào lớp vải chống ẩm, bật cười vui vẻ xoa
đầu nó
“Lần nào tiêu tiền xong thằng nhóc ngươi cũng trầm tư như vậy. Chẳng phải đã có dầu để thắp, muối để ăn, giấy để viết và giống để trồng cho năm sau rồi sao?”
“Nhưng sư phụ tiền mất rồi còn đâu.”
“Nó đổi thành thứ chúng ta cần.”
“Vậy làm sao mới giàu được đây?”
Ngô Tuế Du nhìn nó, ánh mắt hiếm hoi để lộ chút tò mò
“Con muốn giàu để làm gì?”
“Đương nhiên là để khỏi phải gánh củi nữa.”
“Vậy thì còn xa lắm. Phải cố gắng nhiều.”
Trước khi rời tiệm thuốc, lão Trần gọi với theo
“Ngô đạo trưởng, nhà họ Lưu ở cuối thôn muốn nhờ ông xem
giúp. Đứa nhỏ nhà họ đêm nào cũng khóc, cứ nói có người đứng ngoài cửa sổ.”
Ngô Tuế Du quay đầu lại hỏi
“Bao lâu rồi?”
“Nghe nhà họ nói là cũng hai đêm rồi.”
“Có dấu hiệu bị sốt không?”
“Mới sáng nay Lưu thị có ghé sang mua thuốc, nghe thị bảo thì
có sốt.”
“Ban ngày tình trạngthế nào?”
“Vẫn ăn được.”
“Ừm ta biết rồi, để ta qua xem thử.”
Hai thầy nó lại cùng bước tiếp, nhà họ Lưu nằm ở cuối thôn, ngay
sát với vườn tre. Đứa trẻ đang nằm trong phòng, mặt đỏ, trán nóng. Cửa sổ phía
đầu giường có một khe hở lớn. Gió từ vườn tre thổi qua khe, làm tấm vải treo
ngoài cửa sổ phồng lên rồi xẹp xuống. Khi có ánh sáng từ bếp phía sau, bóng tấm
vải in lên vách, thoạt nhìn giống một người đang đứng cúi đầu. Ngô Tuế Du nhìn
thấy rồi nhìn sang Bạch Cư Dị, thấy thằng nhóc không phản ứng gì thì cũng không
rút phù chậm ra chào hỏi hai vợ chồng họ Lưu rồi mới ngồi xuống bên cạnh giường
xoa trán thằng nhóc, lão hỏi đứa trẻ
“Con thấy người ấy lúc nào?”
“Khi đèn tắt hết thì con thấy.”
“Có nghe gọi tên không?”
“Con không nghe thấy.”
“Có đi vào phòng không?”
“Không có.”
“Có thấy mặt không?”
Đứa trẻ lập tức lắc đầu. Mẹ nó đứng bên cạnh nhìn thằng con mà
lo lắng đến sốt vó, cuống cuồng hỏi.
“Có phải thứ gì theo nó không, đạo trưởng?”
“Trạm thời thì ta không thấy có thứ gì kì lạ. Nhưng trước hết
gia đình cứ phải vá cái cửa sổ lại trước, sau đó chuyển giường thằng nhóc sang
bên kia, cho nó uống thuốc hạ sốt cái đã.”
Ngô Tuế Du mở hòm thuốc nhỏ của gia đình, kiểm tra rồi lấy một
gói thuốc đưa cho Lưu thị căn dặn.
“Nấu thuộc cần phải đúng lượng. Nếu như ngày mai vẫn chưa hạ sốt,
đưa xuống chỗ thầy thuốc ở thôn Nam. Nếu bóng vẫn xuất hiện sau khi cửa đã vá
và đứa nhỏ hết sốt, khi ấy báo cho ta.”
Lưu thị cùng chồng lúi húi cảm ơn muốn đưa tiền khám, nhưng Ngô
Tuế Du sau khi nhìn qua một vòng căn nhà thì một mực không chịu nhận tiền công.
Lúc đi ra khỏi, hai vợ chồng còn đứng ở cửa tiễn người, khi đã cách được một
khoảng xa thì Bạch Cư Dị mới hỏi.
“Vì sao sư phụ không lấy tiền công?”
“Ta mới hỏi vài câu, kiểm tra một cái cửa sổ, rồi dùng thuốc
nhà họ đã có. Lấy tiền công kiểu gì?”
“Lần trước không phải sư phụ cũng xem bệnh cho một nhà phú hộ
giống y như thế này, người đã lấy công rất cao sao.”
“Hôm đó không tiện đường. Ta đương nhiên phải lấy công đi bộ.”
“Vậy nhà hôm nay chúng ta đến tiện đường sao?”
“Người làm cha mẹ có thể chịu khổ, nhưng sao nỡ nhìn con phải
chịu khổ. Nên xem như đi dạo một vòng, lần sau nếu còn cần đến sẽ hỏi xem nhà họ
có trả được không?”
“Nếu như thế thì làm sao đạo quán sống nếu nhiều người đều không
có tiền trả?”
Ngô Tuế Du chỉ túi muối và dầu trong tay nó.
“Vì hôm nay chúng ta đã bán củi, nên có thể giúp. Nhưng đến một
lúc nào đó, chúng ta chỉ có thể nói đã tận lực rồi.”
Hai người tiếp tục đi. Trên đường tới nhà tiếp theo, họ dừng trước
một chuồng gà. Chủ nhà phàn nàn ba ngày liền đều bị mất trứng, nghi có hồ ly hoặc
tiểu quỷ gì đó đến quấy phá. Bạch Cư Dị đi quanh chuồng, tìm thấy một đoạn da rắn
mắc ở khe ván. Dưới đất còn có đường bò rất mờ. Ngô Tuế Du bảo chủ nhà
“Bịt khe này, dọn đống rơm sát chuồng, buổi tối đóng kín cửa
là được.”
Rồi hai người lại tiếp tục đi, gần trưa, mây từ phía đông kéo
tới. Mưa bắt đầu rơi đúng như Ngô Tuế Du phán đoán, nhưng chỉ là những hạt nhỏ,
lạnh và thưa. Hai thầy trò trú dưới mái quán trà. Bạch Cư Dị không nhắc chuyện
sư phụ đoán đúng. Nhưng cao công Ngô Tuế Du thì rất đắc ý tự nhắc lại suy đoán
của mình
“Thấy sư phụ ngươi chưa, thần thông quảng đại đoán đâu trúng đó.”
“Có con thấy rồi.”
“Khói thấp, tiếng sông đục, đá giữ ẩm.”
“Con có ghi lại rồi.”
“Ghi thêm vào là phán đoán của Cao Công vô cùng chính xác.”
“Không phải người hay bảo chỉ cần ghi lại quan sát là được
sao?”
“Đây là kết quả đối chứng. Đương nhiên phải ghi kĩ lại rồi.”
Bạch Cư Dị miễn cưỡng viết thêm một dòng. Buổi chiều, hai người
được gọi tới nhà một cụ già vừa mất. Cụ mất từ lúc gần sáng, sau nhiều tháng bệnh.
Gia đình không thấy hiện tượng lạ, chỉ muốn Ngô Tuế Du kiểm tra trước khi nhập
quan. Ngô Tuế Du rửa tay, thay áo ngoài sạch rồi mới bước vào. Bạch Cư Dị chưa
quen thuộc công việc nên chỉ đứng ở sau lưng sư phụ nhìn.
Thi thể nằm trên phản gỗ, phủ vải tới ngực. Trên bàn bên cạnh
đặt một ngọn đèn, một bát nước và tờ giấy ghi tên người mất. Trong mắt Bạch Cư
Dị, quanh thi thể có một lớp hơi nhạt không thành hình người. Cũng không nhìn
thấy nó nối với vật nào, chỉ có một đoạn sinh khí rời đi chưa lâu, cùng những vệt
mờ của quần áo, thuốc men và bàn tay người thân từng chạm. Ngô Tuế Du trước tiên
kiểm tra đồng tử người mất xem có gì bất thường, sau đó tới kiểm tra hàm cùng đầu
ngón tay. Những dấu vết của thời gian và tuổi tác, nhiệt độ thân thể cùng mùi
thuốc và sau cùng là tình trạng cứng của cơ thể.
Sau đó lão hỏi gia đình về giờ mất, bệnh trạng và người cuối
cùng có mặt. Không ai bị yêu cầu rời phòng, Ngô Tuế Du gọi Bạch Cư Dị tới gần
hơn.
“Con nhìn thấy gì từ họ?”
“Sư phụ con nhìn thấy có dấu vết tàn khí lưu lại sau khi chết.”
“Tàn khi này có còn tụ lại không?”
“Không, con thấy nó đang dần tản đi.”
“Có thấy đường bám ngoài nào không?”
“Con chưa thấy.”
“Có nhìn được nhân dạng?”
“Không nhìn được rõ, chỉ thấy bóng mờ ảo thôi.”
“Vậy nên ghi chú lại như thế nào cho hợp lí?”
Bạch Cư Dị đáp, “Theo con thì thi thể có tàn khí sau chết,
chưa thấy dấu tác động chủ động.”
Ngô Tuế Du gật đầu hài lòng với đáp án này, gia đình người mất
cũng không có nhiều tiền. Người con trai cả lấy ra một túi nhỏ, nhưng lão chỉ
nhận tiền giấy, dầu và một phần thuốc cần dùng, không lấy công xem, cả gia đình
người kia làm theo căn dặn của cao công về thủ tục chôn cất người mất. Trên đường
ra về, Bạch Cư Dị lại hỏi
“Hôm nay người không lấy tiền hai lần.”
“Ừ. Tính ra cũng mất một khoảng nhỏ.”
“Nếu như ai cũng không trả tiền, chúng ta đành phải bán nhiều
củi hơn để bù vào. Hành trình làm giàu sao mà gian nan quá.”
“Đúng vậy, giờ mới biết hành trình làm giàu gian nan à.”
“Vậy tại sao sư phụ lại không nhận tiền, chúng ta làm việc bọn
họ trả tiền, đó không phải là chuyện hiển nhiên sao?”
Ngô Tuế Du nhìn nó nửa gật đầu rồi nửa lại lắc đầu.
“Con thấy căn nhà họ có gì?”
Bạch Cư Dị quay đầu. Mái nhà lớp bằng rơm đã cũ, một góc tường vá bằng đất mới. Trong sân chỉ
có hai con gà gầy đến trơ xương. Người con trai cả mặc áo đã vá ở khuỷu. Trên
bàn thờ dùng dầu lẫn với mỡ vì chưa mua được dầu sạch.
“Nhà bọn họ nhìn như cũng không có nhiều tiền.”
“Hôm nay bán củi lấy tiền chính là để có lúc làm việc mà
không cần hỏi người ta trả được bao nhiêu.”
“Vậy tiền của đạo quán mà sư phụ đã nói cần dùng cho ai?”
“Đương nhiên là cho người cần tiền.”
“Ai sẽ là người quyết định họ có cần tiền hay không và dựa vào
đâu để quyết định?”
“Người giữ tiền đương nhiên phải là người đưa ra quyết định,
rồi phải ghi lại mình đã dùng tiền và dùng như thế nào.”
“Nếu như người đó quyết định sai thì phải làm sao?”
“Đương nhiên sẽ bị hỏi.”
“Ai sẽ là người hỏi?”
“Nơi khác thì ta không biết, nhưng ở đạo quán chúng ta thì là
Tôn bà bà.”
Bạch Cư Dị nghĩ đó quả thật là hình phạt có sức răn đe. Hai
thầy trò rời Tây Khê khi trời vừa qua trưa. Gánh củi đã bán, nhưng hành trang
không nhẹ hơn bao nhiêu. Dầu, giấy, muối và thuốc được chia thành hai phần. Ngô
Tuế Du mang bình dầu và phần lớn giấy. Bạch Cư Dị mang muối, hạt giống, kim
cùng mấy món nhỏ. Túi thuốc hái trên đường xuống vẫn nằm ở hông nó. Trước khi
lên núi, Ngô Tuế Du mua thêm một gói bánh ngọt làm từ bột kê và mật. Bạch Cư Dị
nhìn gói bánh lại hỏi tiếp
“Tiền đạo quán cũng mua bánh được sao?”
“Đây là tiền riêng của ta, không tính vào tiền đạo quán.”
“Người cũng có tiền riêng sao?”
“Đương nhiên là có, ngươi nghĩ ta làm cao công để làm gì?”
“Vậy tiền của sư phụ lấy từ đâu?”
“Đều là tiền mua rượu còn thừa lại, ta để dành lên thôi.”
“Người định mua bánh cho ai?”
“Không phải là mua cho Tôn bà bà sao?”
“Vì sao lại mua cho Tôn bà bà, con chưa từng thấy bà bà ăn bánh
ngọt bao giờ?”
“Thuốc ho đắng, hơn nữa nữ tử thích ăn bánh ngọt vốn không phân
biệt tuổi tác, chỉ là các người háu ăn quá bà bà nhường phần cho các ngươi thôi.”
Bạch Cư Dị nhận ra Ngô Tuế Du nhiều khi không chịu nói thẳng
mình quan tâm tới người khác. Nó không vạch ra. Đường lên núi lúc nào cũng chậm
hơn lúc xuống nhiều. Hai người vừa đi vừa dọn những viên đá mới lăn xuống đường.
Tới cọc thứ năm, phần đất vừa nện vẫn chắc. Tới miếu nghỉ, đống củi cũ đã có
người lấy mất một khúc, cạnh đó để lại hai quả khô. Ngô Tuế Du cầm một quả lên
xem rồi gật đầu hài lòng.
“Người qua đường đổi quả lấy củi rồi.”
Bạch Cư Dị hỏi:
“Quả này có ăn được không sư phụ?”
“Đương nhiên là ăn được, hơn nữa nhìn quả này ta đoán tám chín
phần là trái cây vùng khác.”
Hai người tiếp tục vừa đi vừa gặm quả, gần tới quán thì mưa
đã tạnh hẳn, nhưng đá đường còn ướt. Bạch Cư Dị bắt đầu mỏi chân. Ngô Tuế Du
không nói gì, chỉ giảm tốc độ, lâu lâu dừng lại xem vách núi hoặc kiểm một bụi
cây để nó có thời gian thở. Mặt trời vẫn còn trên dãy núi, lão sư phụ lại như
thường lệ đứng nhìn dãy Cao Châu Ly sơn rồi kinh diễm làm một bài thơ, mãi một
hồi hai người mới nhìn thấy cổng Chung Tĩnh Quán.
Thanh Mộc chạy ra đón, gương mặt hớn hở.
“Sư phụ về rồi, người có mua bánh không?”
Ngô Tuế Du đưa bình dầu cho nó.
“Đương nhiên là có bánh.”
“Ở đâu vậy sư phụ?”
“Không phải cho con đâu mà hỏi nhiều.”
Thanh Mộc nhìn gói giấy trong tay sư phụ liền hiểu ra.
“Một mình Tôn bà bà cũng không ăn hết.”
“Vậy con thử giành xem sao.”
Thanh Mộc nuốt nước bọt nhưng nghĩ kĩ lại thì quyết định
không thử đùa với lửa. Tôn bà bà kiểm từng món mua về. Bà mở giấy, ngửi dầu, nếm
một hạt muối, đếm kim, kiểm giấy có bị ẩm không. Khi thấy gói bánh, bà nhìn Ngô
Tuế Du.
“Lại mua thứ ngọt này làm gì, tốn tiền.”
“Thanh Mộc đòi ta mua còn gì.”
Thanh Mộc đang ở bên kia sân lập tức quay lại.
“Con chưa từng đòi bánh nha.”
Tôn bà bà cầm gói bánh lên, miệng cười mỉm rồi lại quay quắt
sang ông hắng giọng.
“Ông thì vào bếp nhặt rau.”
Ngô Tuế Du cười khổ nhìn ba bên bốn phía, cuối cùng thở dài
nhưng vẫn lủi thủi đi ra sau nhà nhặt rau. Bạch Cư Dị thì đặt túi dược liệu lên
bàn phân loại. Nó lấy thẻ ghi vị trí, thời gian hái và tình trạng từng loại. Tôn
bà bà ngồi xuống kiểm, bó thứ nhất đúng, bó thứ hai đúng túi thứ ba được mở ra.
Bên trong có một bó thảo dược nhỏ buộc bằng chỉ đỏ. Bạch Cư Dị
đứng yên nín thở quan sát. Nó không nhớ mình đã đặt bó ấy vào túi. Tôn bà bà
không lập tức chạm tay vào ngay, bà dùng hai que gỗ tách miệng túi rộng hơn. Lá
cây dài, màu xanh thẫm, mép có răng nhỏ. Phần thân tím nhạt. Trên lá còn đọng
nước, dù chiếc túi bên ngoài hoàn toàn khô.
Ngô Tuế Du từ cửa bếp nhìn thấy, chậm rãi đặt bó rau xuống đi
ra xem tình hình, ông lên tiếng hỏi mọi người.
“Không ai chạm vào chứ.” Cả bà bà và Bạch Cư Dị đều lắc đầu. Hoài
Chân đang sửa mái cũng dừng tay. Thanh Mộc thì lùi khỏi bàn một bước. Ngô Tuế
Du rửa tay, lau khô rồi lấy khay sứ trắng. Lão dùng kẹp gỗ đưa cả bó cây lên
khay, không tháo sợi chỉ đỏ.
“Cư Dị ta hỏi con một chút.”
“Vâng sư phụ.”
“Cây này là do con hái sao?”
“Không có, thậm chí con còn mới thấy loại cây này lần đầu tiên.”
“Con có nhận từ ai không?”
“Không có.”
“Trong thôn có ai từng chạm vào chiếc túi này không?”
“Không ai chạm khi con nhìn thấy.”
“Vậy ta lại hỏi có lúc nào túi rời khỏi người con không?”
“À cái này thì có, khi vào nhà người chết, con có để túi tại
điểm ngoài cửa. Nhưng lúc đó sư phụ đứng rất gần.”
“Ở tiệm thuốc thì sao?”
“Vẫn đeo bên người không có đưa cho ai.”
“Lúc trú mưa thì sao?”
“Nó luôn nằm bên trái con.”
“Lúc ở miếu nghỉ thì sao?”
“Lúc đó con đặt túi ở sát vách, sư phụ ngồi ở bên phải.”
Ngô Tuế Du không hỏi tiếp. Lão kiểm nút buộc bằng mắt. Sợi chỉ
đỏ được quấn hai vòng, thắt một nút trượt nhỏ. Loại chỉ đã tẩm sáp nên màu sẫm
và bề mặt hơi bóng. Giống loại người vùng Cao Châu Ly đã mua tại tiệm thuốc. Thanh
Mộc lại hỏi
“Có khí không?”
Ngô Tuế Du không trả lời thay Bạch Cư Dị. Thằng nhóc sau khi
không phát hiện điều gì thì liền kéo Vô Diện Sa phủ qua mắt. Qua lớp vải, chi
tiết của lá cây mờ bớt, chỉ còn hình khối và mức tụ tán quanh vật. Nó không thấy
có khí đen, thậm chí còn không có tàn ảnh hay đường nối rõ ràng. Bó thuốc nằm
trên khay sạch sẽ tới mức gần như chưa từng được người sống chạm qua. Hoàn toàn
không bình thường chút nào.
“Con không thấy khí lạ,” nó nói.
“Không thấy hay không có?” Ngô Tuế Du hỏi.
“Con không thấy.”
Lão gật đầu. “Đó là hai câu khác nhau.”
Tôn bà bà quan sát lá cây rồi mới kết luận, “Đây có thể là hàn sinh thảo.”
“Cây này có mọc trên Chung Tĩnh không bà bà, con chưa từng nhìn
thấy loại này bao giờ?”
Thanh Mộc hỏi.
“Không có.” Tôn bà bà nhìn về phía đông, nơi dãy Cao Châu Ly
Sơn đang chìm dần trong mây cuối ngày. “Phía bên kia Xuy Hà, vùng chân Cao Châu
Ly có thể mọc loại cây này. Vì chúng là giống ưa đất đen, ẩm và ít nắng.”
Bạch Cư Dị nhìn những giọt nước trên lá. “Vẫn còn ướt.”
Tôn bà bà lấy một mảnh giấy khô chạm sát mép lá. Nước thấm
vào giấy, để lại một vệt trong. “Không phải dầu.”
Ngô Tuế Du nhìn chiếc túi của Bạch Cư Dị sau đó mới ra lệnh kiểm
tra toàn bộ đồ vật bên trong túi xem có thứ gì kì lạ hay không. Mọi thứ được lấy
ra theo thứ tự, từ dao hái thuốc chuyên dụng của cậu cho đến hai tấm thẻ gỗ
chưa dùng, một sợi dây buộc, một tấm vải. Sau đó kiểm đến chiếc túi lá đã hái
khi sáng, mảnh giấy ghi vị trí, một hạt giống không rõ rơi từ đâu, nhưng thuộc
loại cây họ vừa thu.
Trong số tất cả những món đồ họ đã kiểm, không hề phát hiện có
vật nào khác lạ. Đường may của túi cũng không rách, dây đóng miệng túi không bị
cắt. Bụi bên ngoài không có dấu tay mới rõ ràng. Cuối cùng Ngô Tuế Du mới hỏi đến
quyển sổ hành trang chuyên dùng để ghi lại công việc hàng ngày của cậu. Bạch Cư
Dị liền đưa sổ ra.
Số túi lúc rời quán: ba.
Số túi khi xuống thôn: ba.
Số lần mở: hai.
Không có chỗ nào ghi nhận bó hàn sinh thảo.
“Có thể người bán thuốc bỏ vào lúc chúng ta không để ý?”
Thanh Mộc hỏi.
“Cũng có thể, nhưng cần nghĩ xem mục đích cho việc đó là gì,
vì gần như chắc chắn sẽ bị chúng ta phát hiện.” Ngô Tuế Du đáp.
“Có thể sư đệ tự hái rồi quên?”
“Cũng có thể.”
Bạch Cư Dị liền quay đầu nhìn cả hai người, ánh mắt không phục.
“Con không quên, chắc chắn không thể quên.”
“Ta tin con nhớ. Nhưng trong hồ sơ vẫn phải giữ khả năng con
nhớ thiếu.”
Bạch Cư Dị muốn phản bác, nhưng cuối cùng không nói. Ngô Tuế
Du dùng Giới Xích đo bó thuốc, ghi chiều dài, số nhánh, số lá và vị trí nút chỉ.
Lão không tháo nút. “Đặt khay ở gian đông. Không đưa vào kho thuốc. Không đặt gần
pháp khí. Tối nay không ai chạm, xem thử ngày mai thế nào mới tính tiếp được.”
“Có lập án không sư phụ?” Thanh Mộc hỏi.
“Chỉ đỏ trong lư hương, chuông quay về phía đông, bây giờ có
thuốc từ Cao Châu Ly xuất hiện trong túi. Ba việc rồi.”
“Ba việc thì cũng không tự động hợp thành một vụ được, lập án
hiện tại vẫn còn quá sớm.”
“Nhưng nếu như thật sự có liên quan thì sao?”
“Không loại trừ khả năng chúng có liên quan mật thiết đến nhau
nhưng hiện tại không thể kết luận vội vàng như vậy.”
“Thế giờ chúng ta làm gì?”
Ngô Tuế Du lấy thẻ trắng, ghi mã cho khay.
“Ngày mai xuống tiệm thuốc hỏi lại. Sau đó mới tính tiếp chuyện
kiểm chiếc túi, rồi so loại chỉ.”
Lão đặt thẻ bên cạnh khay.
“Trước khi biết chúng có cùng nguồn gốc hay không, tất cả chỉ
được ghi là ba sai lệch đang được theo dõi mà thôi.”
Bạch Cư Dị nhìn bó thuốc. Trên sợi chỉ đỏ có một vết lõm nhỏ,
như dấu đầu móng tay ấn vào lớp sáp khi thắt nút. Trong vết lõm dính một hạt
bùn đen li ti. Bùn ở Chung Tĩnh phần lớn màu xám vàng. Đất quanh Tây Khê có màu
nâu nhạt. Loại bùn đen như thế thường chỉ xuất hiện ở bờ phía đông Xuy Hà, nơi
nước từ Cao Châu Ly Sơn đổ xuống, mang theo đất mịn tích dưới những vùng núi ít
nắng. Bạch Cư Dị không nói ngay. Nó lấy sổ, ghi điều mình thấy vào mục riêng
Trên nút chỉ có dấu móng tay nhỏ. Trong dấu có bùn đen. Chưa
xác định nguồn. Ngô Tuế Du đọc qua.
“Vì sao không ghi là bùn từ bờ đông Xuy Hà?”
“Chưa có đối chứng nào để xác định bùn đen không có ở gần chúng
ta.”
Lão gật đầu.
“Đúng nên như vậy.”
Bữa tối hôm ấy vẫn diễn ra như thường lệ. Tôn bà bà chia bánh
ngọt thành năm phần. Ngô Tuế Du được hai miếng vì lão là người mua. Thanh Mộc
phản đối nhưng không thành công. Hoài Chân kể mái kho đã sửa xong. Tôn bà bà dặn
ngày mai phải đảo thuốc trước giờ Ngọ. Không ai nói hay bàn về những chuyện kì
lạ, nhưng đều đang suy nghĩ.
Bó hàn sinh thảo nằm trên khay trắng, được đặt dưới một chiếc
lồng tre thưa mắt để tránh chuột hoặc gió, nhưng không bị niêm kín. Trước khi
đi ngủ, Bạch Cư Dị tới nhìn nó một lần cuối từ ngoài cửa. Những giọt nước trên
lá vẫn còn nguyên, không giọt nào chảy xuống khay cũng không giọt nào khô đi. Sợi
chỉ đỏ không động, Bạch Cư Dị đứng nhìn lâu hơn mức cần thiết.
Phía sau, cao công Ngô Tuế Du lên tiếng.
“Con đang chờ nó biến thành quỷ sao?”
Bạch Cư Dị lập tức giật mình quay đầu lại.
“Không sư phụ.”
“Vậy thì đi ngủ đi, còn đứng đó làm gì.”
“Sư phụ con muốn hỏi?”
“Chuyện gì?”
“Nếu như ngày mai người bán thuốc nói không biết bó này thì sao?”
“Chúng ta lại hỏi người khác thử xem sao.”
“Nếu như không có ai biết luôn thì phải làm sao?”
“Đến đó lại kiểm tiếp.”
“Nếu đến cuối cùng vẫn không biết?”
“Đành ghi là không biết vậy.”
Bạch Cư Dị nhìn bó thuốc qua khe cửa.
“Không biết liệu nó có nguy hiểm không?”
“Có thể chúng có nguy hiểm.”
“Vậy sao vì sao sư phụ không đốt đi?”
Ngô Tuế Du bước tới, đứng bên cạnh nó.
“Vì thứ ta không hiểu không mặc nhiên đáng bị hủy. Đốt sai một
bó thuốc có thể chỉ mất thuốc. Đốt sai một vật chứng có thể khiến chúng ta mất
luôn cách biết ai đã đặt nó vào túi con.”
“Còn nếu nó nguy hiểm?”
“Vậy chúng ta đã giữ nó ngoài kho, không chạm, không mở nút,
không đặt cạnh người ngủ và có người canh.”
Lão kéo cửa gian đông khép lại, không đóng chốt hoàn toàn để
không biến căn phòng thành vật chứa kín.
“Cẩn thận không có nghĩa phải sợ mọi thứ. Cẩn thận là biết
mình chưa hiểu, rồi không làm những việc khiến ngày mai càng khó hiểu hơn.”
Bạch Cư Dị gật đầu. Hai thầy trò trở về dãy phòng ngủ.
Trên mái cổng, chiếc chuông không lưỡi vẫn hướng về phía nam.
Trong gian chính, lư hương vẫn được đậy nắp. Dưới chiếc nắp gỗ, sợi chỉ đỏ tìm
thấy tối hôm trước nằm yên trên đĩa sứ. Còn trong gian đông, những giọt nước trên
lá hàn sinh thảo phản chiếu ánh đèn ngoài sân. Mỗi giọt nhỏ như một con mắt
trong suốt, giữ nguyên hình ngọn lửa ở bên trong.
Đến nửa đêm, gió từ Cao Châu Ly Sơn vượt qua Xuy Hà, thổi lên
sườn Chung Tĩnh.
Chiếc chuông dưới mái cổng chậm rãi xoay về phía đông. Lần
này, đoạn chỉ trắng bên dưới cũng xoay theo. Không có ai thức để nhìn thấy.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.