Quyển 1: Phù Sa Gặp Sóng
Chương 20: Chợ Sắt Và Anh Miền Tây
Ngày nghỉ đầu tiên sau ca trực đêm, Khương quyết định đi chợ Sắt. Tùng nghe anh nói thì ngáp dài, trùm chăn kín đầu, lầm bầm "mày đi một mình đi, tao ngủ bù, chợ Sắt đông lắm, ồn lắm, mệt lắm, mày đi rồi kể tao nghe cũng được". Khương cũng không ép, anh mặc áo sơ mi trắng xắn tay, đi dép lê, xách theo cái túi vải mà má gửi ra từ Châu Đốc (túi may bằng vải bố, in hình bông sen, kiểu túi đi chợ của bà má miền Tây), rồi ra khỏi ký túc, đón xe buýt đi về phía trung tâm thành phố.
Anh muốn mua vài thứ lặt vặt như gia vị nấu ăn, một cái chảo nhỏ thay cái chảo cũ ở ký túc đã mòn đến mức chiên trứng dính sát không gỡ ra được. Ngoài ra nếu may thì tìm được mắm tôm ngon để học nấu bún đậu mắm tôm theo lời Hằng dạy, vì Hằng bảo "anh mà biết nấu bún đậu mắm tôm thì người Hải Phòng sẽ coi anh là người nhà". Và Khương tin, vì Hằng nói gì anh cũng tin, cô ấy có cái miệng mà người ta nghe xong cứ gật đầu lia lịa dù chưa chắc đã đúng.
Đến chợ Sắt, Khương đứng ở cổng chợ, ngẩng đầu nhìn lên, rồi nhìn vào bên trong, và anh hiểu ngay tại sao Tùng không muốn đi cùng.
Chợ Sắt không giống bất kỳ cái chợ nào mà anh từng thấy ở Châu Đốc. Chợ ở quê anh thoáng, bày hàng dọc hai bên đường, bà con ngồi trên ghế nhựa, quạt tay phe phẩy, ai mua thì bán, ai không mua thì cười, trả giá từ tốn, mua xong còn ngồi nói chuyện thêm mười lăm phút. Nhưng chợ Sắt là mê cung, là rừng rậm, là một thế giới khác mà nếu không quen thì bước vào ba phút đã lạc, năm phút đã hoang mang, mười phút thì quên luôn mình vào từ cổng nào. Hàng chồng lên hàng, sạp nối sạp, người đi chen người, tiếng rao, tiếng mặc cả, tiếng cãi nhau lẫn trong tiếng nhạc phát ra từ loa của mấy sạp bán đồ điện tử. Tất cả dồn vào nhau thành một bức tường âm thanh mà anh phải mất vài giây đứng ngẩn ra ở cổng mới dám bước vào.
Anh bước vào và chợ nuốt anh ngay lập tức. Anh đi qua dãy hàng khô, rẽ phải, gặp dãy hàng vải, rẽ trái, gặp dãy hàng gia vị, tưởng đúng rồi thì rẽ thêm một lần nữa thì anh bỗng thấy mình đứng giữa dãy hàng giày dép. Khương không hiểu sao từ gia vị lại ra giày dép, quay lại thì không nhớ mình rẽ từ đâu. Anh dừng lại, nhìn quanh, thấy toàn người lạ đi nhanh qua mặt anh, ai cũng biết mình cần đi đâu, chỉ có anh đứng giữa lối đi như cái cọc tiêu lạc giữa đường mà không biết đường nào dẫn đến đâu.
Anh hỏi một bà bán hàng:
"Dạ, cô ơi, cho con hỏi chỗ bán gia vị đi hướng nào ạ?"
Bà nhìn anh, nghe giọng anh, rồi cười to, hỏi lại:
"Cậu người đâu mà nói lạ thế, trong Nam à?"
Khương gật:
"Dạ, An Giang ạ."
Bà gật gù, chỉ tay về phía sau lưng anh:
"Quành lại, đi thẳng, rẽ trái ở chỗ sạp bán nồi nhôm, đến chỗ nghe mùi mắm thì đúng rồi."
Anh cám ơn rồi đi và anh tìm được dãy hàng gia vị sau mười lăm phút loanh quanh. Ở đây, anh gặp vấn đề thứ hai là trả giá.
Anh dừng trước một sạp bán đồ gia dụng, thấy cái chảo chống dính treo trên móc bèn hỏi giá. Bà bán hàng nói một con số mà anh nghe xong giật mình, vì ở Châu Đốc mua cái chảo giống vậy chỉ bằng một phần ba. Anh nhìn cái chảo, nhìn bà, rồi nói bằng giọng nhẹ nhàng từ tốn, đúng kiểu miền Tây trả giá:
"Dạ, cô ơi, cô bớt cho con chút được hông ạ, con thấy hơi mắc."
Bà nhìn anh, nhìn cái túi vải in hình bông sen, nhìn đôi dép lê, nhìn khuôn mặt hiền khô, rồi cười nói:
"Cậu dễ thương thế, nhưng ở đây phải mạnh miệng hơn mới không bị hớ nhé. Giá đó là giá tốt rồi, cậu không mua thì thôi."
Khương đứng đó ngẩn ra, vì ở quê anh, trả giá là cuộc trò chuyện, bà bán hàng hét cao thì người mua nói thấp, rồi hai bên cười cười bớt bớt, cuối cùng gặp nhau ở giữa, ai cũng vui. Nhưng ở đây, bà bán hàng nói "không mua thì thôi" bằng giọng dứt khoát, không giận nhưng cũng không mời gọi, kiểu "tôi bán giá này, cậu chọn" và anh không biết nên cười theo hay nên đi.
Anh chọn rời đi nhưng đi qua ba sạp nữa, sạp nào giá cũng ngang ngửa, và sạp nào anh cũng trả giá kiểu miền Tây, kiểu nhẹ nhàng dịu dàng "dạ cô bớt cho con". Kết quả là sạp nào bà bán hàng cũng nhìn anh kiểu nhìn đứa trẻ lạc vào rừng mà không biết rừng có thú dữ.
Anh đang đứng trước sạp gia vị thứ tư, cầm chai mắm tôm ngửi thử. Mắm tôm anh chưa bao giờ ăn, chỉ nghe Hằng tả, nên anh muốn ngửi trước để biết mùi nó ra sao, và khi anh mở nắp ngửi thì mặt anh nhăn lại một thoáng rất nhanh vì mùi mắm tôm đặc quánh ập vào mũi khác xa mùi mắm cá linh quen thuộc. Ngay lúc đó có một giọng phụ nữ cất lên từ phía sau:
"Mắm tôm thì phải mua loại tím sẫm, loại hồng hồng là hàng dỏm."
Anh quay lại thì thấy một người phụ nữ khoảng ngoài năm mươi, dáng người gọn gàng, mặc áo khoác nhẹ màu nâu, tóc cắt ngắn ngang vai, khuôn mặt sắc sảo, lông mày đậm, mắt to. Anh nhận ra ngay rằng đôi mắt đó giống một đôi mắt mà anh đã thấy ở đâu đó, giống đến mức anh hơi khựng lại, nhưng anh không kịp nghĩ tiếp vì bà đã nhìn anh từ đầu đến chân, nhìn cái túi vải in hình bông sen, nhìn đôi dép lê, nhìn chai mắm tôm trong tay anh, rồi hỏi, giọng Hải Phòng đặc sệt, nhanh gọn và sắc:
"Cậu người đâu?"
"Dạ, con ở An Giang ạ."
Mắt bà thay đổi chỉ một thoáng rất nhanh, nhanh như cánh chim sập xuống mặt nước rồi bay lên ngay, nhanh đến mức nếu Khương không đứng đối diện bà cách chưa đầy một bước chân thì anh sẽ không nhận ra. Nhưng anh đứng gần và anh thấy, thấy mắt bà thoáng rung, thoáng xa xăm, như thể hai chữ "An Giang" vừa chạm vào một thứ gì đó rất sâu bên trong bà mà bà tưởng đã chôn kỹ. Rồi nó qua nhanh như nó đến, và bà nhìn anh lại bằng ánh mắt bình thường, ánh mắt của một bà chị Hải Phòng nhìn đứa em lơ ngơ giữa chợ.
Khương không hiểu ánh mắt đó. Anh chỉ nghĩ có lẽ bà ngạc nhiên vì An Giang xa quá, ngoài Bắc ít ai biết An Giang ở đâu, ông Hùng cũng từng hỏi "An Giang ở đâu" mà.
"An Giang."
Bà nói lại, giọng chậm hơn lúc nãy một nhịp, rồi bà gật đầu, hỏi tiếp:
"Ra đây làm gì?"
"Dạ, con là bác sĩ, công tác ở bệnh viện tuyến huyện ạ."
Bà nhìn anh kỹ hơn, nhìn kiểu đánh giá, kiểu người Hải Phòng nhìn ai cũng phải đánh giá trước rồi mới quyết định thân hay sơ. Rồi bà nhìn chai mắm tôm trong tay anh, nhìn cái chảo anh chưa mua được, nhìn cách anh đứng giữa chợ như đứng giữa sa mạc, và bà hỏi:
"Lần đầu đi chợ Sắt?"
"Dạ."
Bà thở ra một hơi nhẹ, kiểu thở của người thấy đứa trẻ qua đường mà không nhìn xe, không phải bực mà là bất lực, rồi bà nói:
"Đưa đây, để tôi mua cho. Cậu cầm mắm tôm kiểu đó, người ta hét giá gấp đôi là ít."
Bà lấy chai mắm tôm từ tay anh, đặt xuống, nhặt một chai khác ở hàng dưới, chai nhỏ hơn, nắp xanh, mở ra ngửi, gật đầu, rồi hỏi giá. Bà hỏi giá bằng giọng khác hẳn giọng nói chuyện với anh, giọng nhanh, sắc, dứt khoát, kiểu người mua chuyên nghiệp, kiểu người biết giá thật là bao nhiêu và không chấp nhận bị hét. Bà bán hàng nói một con số, bà Hạnh nói lại một con số thấp hơn, bà bán hàng lắc đầu, bà Hạnh đặt chai mắm xuống định đi, bà bán hàng gọi lại, hai người nói qua nói lại ba câu nữa rồi xong, bà Hạnh cầm chai mắm tôm quay sang Khương nói:
"Giá này mới đúng, cậu nhớ nhé."
Khương đứng cạnh, mắt trợn tròn, miệng há to, vì toàn bộ quá trình từ lúc bà cầm chai mắm đến lúc mua xong chỉ mất chưa đầy một phút, nhanh đến mức anh chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì đã xong. Ở quê anh, mua chai mắm có khi ngồi nói chuyện với bà bán hàng nửa tiếng, hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm con cháu, rồi mới bắt đầu trả giá, mà trả cũng từ từ, chậm rãi, không ai vội. Nhưng ở đây, mọi thứ nhanh gọn và sắc, y như giọng nói của người Hải Phòng, y như cách cái thành phố này vận hành: không vòng vo, không chờ đợi, muốn gì thì nói, muốn mua thì trả, xong thì đi.
Bà dẫn anh đi thêm mấy sạp nữa, mua cho anh cái chảo (rẻ hơn giá anh được hỏi lúc nãy gần một nửa), mua thêm ít hành khô, tỏi, ớt, gừng. Mỗi sạp bà đều trả giá nhanh gọn, mỗi sạp anh đều đứng cạnh mà ngưỡng mộ, vì bà mua đồ ở chợ Sắt giống như Mai xử lý ca cấp cứu ở bệnh viện: chính xác, không thừa một nhịp, không phí một giây. Nghĩ đến đây anh hơi giật mình vì không hiểu sao mình lại so sánh một bà đi chợ với Mai, nhưng anh không nghĩ thêm, chỉ xách đồ theo bà mà cười.
"Cô ơi."
Anh hỏi khi hai người đi ngang dãy hàng thịt.
"Con cám ơn cô nhiều lắm, cô tên gì để con biết ạ?"
Bà nhìn anh, thoáng do dự, rồi lắc đầu nhẹ nói:
"Thôi, không cần biết tên đâu. Cậu mua đủ đồ rồi thì về đi, lần sau đi chợ nhớ nói giá mạnh hơn, đừng có dạ dạ hiền hiền thế, người ta bắt nạt."
Rồi bà quay đi, bước vào đám đông chợ, nhanh và gọn, mất hút giữa dòng người mua kẻ bán, và Khương đứng đó, xách túi đồ nặng trĩu, nhìn theo bà mà không kịp nói thêm câu nào.
Anh đứng giữa chợ Sắt thêm vài giây, nghĩ rằng người Hải Phòng lạ thật, giúp người xong thì đi, không nói tên, không chờ cám ơn, không cần gì cả. Giống cô ấy, anh nghĩ, rồi lắc đầu cười, vì gần đây anh hay so sánh mọi thứ với Mai mà không hiểu tại sao.
Anh tìm đường ra khỏi chợ, mất thêm mười phút nữa, hỏi thêm hai người nữa, rồi đón xe buýt về ký túc xá. Lòng anh vui vì mua được đồ, và nhớ mãi cái khoảnh khắc bà nhìn anh khi anh nói "An Giang" và cái nhìn lạ mà anh không giải thích được. Nhưng anh không nghĩ nhiều, vì anh là Khương, anh không phải kiểu người nghĩ nhiều về những thứ anh chưa hiểu, anh chỉ cất vào một góc trong đầu, rồi để đó, rồi quên.
Nhưng bà Hạnh không quên. Tối hôm đó, bà về nhà, nấu cơm cho hai đứa con gái, Mai đi trực chưa về, Ngọc ăn cơm xong đi học bài nên nhà vắng. Bà ngồi một mình ở bàn ăn, chén cơm nguội trước mặt, đũa đặt ngang và bà suy nghĩ.
Bà nghĩ về anh chàng miền Tây ở chợ Sắt chiều nay, nghĩ về giọng anh nói "dạ, con ở An Giang ạ" bằng cái giọng chậm rãi, lễ phép, ngọt, kiểu giọng mà bà đã không nghe từ rất lâu nhưng nghe lại thì nhận ra ngay. Vì giọng miền Nam có một thứ gì đó không lẫn vào đâu được, nó mềm, nó chậm, nó khiến người ta muốn nghe thêm dù không biết người nói đang nói gì. Bà nghĩ về đôi mắt anh, đôi mắt hiền và sáng, anh cười bằng mắt trước khi cười bằng miệng. Bà lại nghĩ về một đôi mắt khác, cũng hiền, cũng sáng, cũng cười bằng mắt, nhưng đôi mắt đó bà đã không nhìn thấy hơn ba mươi năm rồi.
Anh ta là thủy thủ Nghệ An. Anh ấy cũng lạc vào Hải Phòng lần đầu y như vậy, cũng lơ ngơ, cũng hiền, cũng nói giọng lạ mà người Hải Phòng nghe phải hỏi lại "cậu người đâu". Anh ấy cũng đi chợ bị hét giá, cũng trả giá kiểu nhẹ nhàng từ tốn, cũng bị bà bán hàng cười "cậu dễ thương thế, nhưng ở đây phải mạnh miệng hơn". Bà đã gặp anh ấy ở chợ, đã giúp anh ấy mua đồ, đã nghe giọng anh ấy nói "cám ơn chị" mà tim bà rung. Rồi bà đã yêu anh ấy, yêu bằng thứ tình yêu mãnh liệt của một cô gái Hải Phòng hai mươi tuổi chưa biết sợ, nhưng gia đình bà không cho, bà nghe lời ở lại, anh ấy đi biển rồi không quay lại, và bà sống cả đời với câu hỏi: nếu ngày đó bà dám chọn lựa thì liệu mọi thứ có khác không.
Bà đứng dậy, đi vào phòng ngủ, mở ngăn kéo bàn trang điểm, lấy ra một tấm ảnh cũ, ảnh đen trắng, nhỏ bằng bàn tay, góc ảnh đã ố vàng, mép ảnh đã quăn. Trong ảnh là một chàng trai trẻ mặc áo thủy thủ, đứng ở cầu cảng Hải Phòng, anh ta cười, nụ cười rộng, tay giơ lên vẫy, như đang vẫy ai đó ở bên ngoài khung hình.
Bà nhìn tấm ảnh rất lâu, ngón tay xoa nhẹ lên mặt ảnh, rồi bà nhét lại vào ngăn kéo, đóng lại, quay ra bàn ăn, dọn chén đũa, rửa bát, lau bàn, làm tất cả những việc bình thường của một buổi tối bình thường, như thể bà chưa từng mở ngăn kéo, chưa từng nhìn tấm ảnh, chưa từng nhớ đến.
Nhưng tay bà rửa bát mà mắt nhìn ra cửa sổ, nhìn vào đêm Hải Phòng, và bà tự hỏi: anh chàng miền Tây ở chợ Sắt chiều nay, anh ấy nói anh ấy là bác sĩ, anh ấy công tác ở bệnh viện tuyến huyện. Con gái bà cũng làm ở bệnh viện tuyến huyện.
Bà dừng tay, nhìn ra cửa sổ thêm một lúc, rồi lắc đầu, nói thầm "chắc không liên quan gì đâu" rồi tiếp tục rửa bát.
Nhưng tay bà rửa chậm hơn lúc nãy, và mắt bà không nhìn vào chén đũa nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.