Quyển 2: Mê Hồn Nhân
Chương 14: Chuyện Chỉ Người Lớn Mới Biết
Chiều buông xuống, Thúy Hoa gói lễ vật vào lá chuối khô.
Mấy nén hương, nhúm gạo, hai miếng bánh khô bằng đốt ngón tay. Tất cả gói trong mảnh lá đã ố vàng, buộc bằng sợi dây gai cũ. Nàng đặt gói lễ lên mảnh ván, cạnh túi tiền bán da nằm dưới chữ “luật”. Ngón tay chạm miệng túi rồi dừng. Bà rút ra hai đồng, đếm lại, sau đó nhét cả hai trở vào.
Đại Phong đứng bên vách, tay chạm lên gói vải khô đựng mảnh xương trong túi áo. Hắn chưa mở gói từ lúc rời chợ. Ngoài hàng rào, đoạn chỉ đỏ xuất hiện trên cọc sau khi người áo tuần đinh rời đi vẫn còn nguyên.
Tối nay cha mẹ đều đi cùng.
“Lên miếu đông người lắm. Con cứ đi sát mẹ, đừng chen lên trước bàn hương nghe chưa?” Thúy Hoa kéo cổ áo hắn cho kín.
“Con đi cạnh mẹ.”
“Có nghe chuyện gì lạ thì cũng đừng đứng đó hỏi tới hỏi lui. Về nhà rồi hẵng nói.”
Đại Phong sờ lại mép túi áo. “Con biết rồi.”
Đại Sơn ngồi ở bậc cửa, tháo lớp vải quấn chân. Vết thương cũ ở mắt cá sưng lên, da quanh đó bóng và đỏ. Ông thay miếng vải mới, quấn chặt hơn, rồi chống gậy đứng dậy. Đầu gậy gõ xuống nền một tiếng khô. Ông không nói gì về chuyến đi miếu, nhưng trước khi bước ra cửa, ông dừng lại, rút từ trong túi áo ra một mảnh giấy nhỏ, gấp làm tư, đưa cho Thúy Hoa.
“Đưa cho bà Tư. Nói là gửi lên bàn thờ.”
Thúy Hoa cầm mảnh giấy, không mở ra. Nàng nhìn chồng một lúc rồi nhét nó xuống dưới nhúm gạo, kéo mép lá chuối phủ kín và buộc lại sợi dây gai thêm một vòng.
Đại Phong thấy mảnh giấy ấy. Hắn không hỏi. Trước khi Thúy Hoa nhét nó vào gói lễ, hắn chỉ kịp thấy hai nét mực còn mới. Hắn không đọc được.
Đường lên miếu đông hơn mọi ngày.
Trăng rằm trắng trên ngọn tre, nhưng dưới chân người chỉ có bùn và vũng nước đục. Gậy của Đại Sơn gõ xuống đất từng nhịp chậm, nặng. Thúy Hoa đi sau, tay cầm đèn dầu, tay kia giữ ống tay áo Đại Phong. Ngọn đèn lắc lư theo từng bước, hắt bóng ba người thành những hình thù méo mó trên hàng rào tre.
Xóm Núi vào đêm rằm khác hẳn ngày thường. Có nhà treo đèn lên đầu sào, có nhà để một ngọn dưới bàn thờ ngoài sân. Ánh sáng thấp, không soi được xa, chỉ làm những khoảng tối giữa hai mái nhà sâu thêm.
Chó sủa từng hồi ngắn, đứt quãng. Một con chó đen nhà Bác Tòng nằm phục dưới gốc mít, dây xích căng cứng, mõm gác lên hai chân trước, mắt mở trừng trừng về phía cuối đường. Khi ba người đi ngang, nó không sủa. Nó chỉ gầm trong cổ, một thứ âm thanh thấp và rung, như tiếng đất nứt mùa hạn.
Sợi chỉ đỏ xuất hiện khi họ vừa qua khỏi cây du già.
Nó mắc giữa bụi cỏ và gốc tre, thấp sát mặt đường. Đại Phong thấy ngay vì màu đỏ nổi trên bùn xám. Hắn không dừng bước. Khi ngoái lại, một đầu sợi đã tuột khỏi cỏ, nằm co trong vũng nước.
Bà Năm Mận đứng dưới mái rạ, cái túi vải nâu đeo ở cổ tay. Bà thấp người, lưng còng, tóc bạc vấn thành búi sau gáy. Miệng túi nhét một nhánh lá khô, mùi từ đó thoát ra vừa cay vừa ngọt, như mùi thuốc bắc phơi lâu ngày. Bà nhìn đèn của Thúy Hoa trước, rồi nhìn Đại Sơn, cuối cùng mới nhìn Đại Phong.
“Cho nó theo đấy à, Hoa?”
“Vâng bà. Thắp hương xong tôi dắt nó về.”
Bà Năm Mận chép miệng. “Ừ, thế thì cứ lối trước mà về. Sau miếu tối, trẻ con đừng có lách.”
Đại Phong ngước lên. “Sao lại không được ra sau hả bà?”
Bà Năm Mận dừng tay trên miệng túi. Ngón tay khô, sần, móng sứt một cạnh vẫn vân vê sợi dây buộc.
“Sau ấy có đồ cũ. Người lớn còn chẳng ai rỗi mà sờ. Mày đi lễ thì theo mẹ mày thôi.”
Đại Phong định hỏi tiếp. Bà Năm Mận đã cúi đầu siết lại miệng túi.
Hắn nuốt câu hỏi xuống.
Hắn không hỏi thêm. Khi đi qua bà Năm Mận, hắn chỉ kịp thấy ở miệng túi vải một đoạn chỉ đỏ cũ quấn quanh nhánh lá khô. Màu đã bạc gần thành nâu. Bà kéo miệng túi lại trước khi hắn nhìn kỹ hơn.
Từ mái rạ của bà Năm Mận lên tới miếu chỉ còn một quãng dốc, nhưng người đi lễ chen kín hơn. Có nhà mang một bát gạo, có nhà chỉ cầm ba nén hương bọc trong lá. Một ông già chống cuốc phải dừng hai lần để nhường mấy đứa trẻ chạy xuống. Người đàn bà đi trước Thúy Hoa ôm con nhỏ ngủ gục trên vai, cứ vài bước lại kéo mảnh khăn che gáy nó.
Đại Phong đi giữa cha và mẹ. Mỗi khi đám người phía sau thúc lên, Thúy Hoa lại kéo ống tay áo hắn sang một bên.
“Đi sát vào. Trượt xuống rãnh bây giờ.”
“Con nhìn đường rồi.”
“Nhìn thì nhìn dưới chân trước.”
Đại Sơn không quay lại. Ông chỉ chống gậy chậm hơn để hai mẹ con bắt kịp. Qua một đoạn đá lở, chân phải ông khuỵu xuống rõ hơn lúc ở nhà. Đại Phong đưa tay định đỡ, ông gạt nhẹ cổ tay con.
“Cha tự đi được.”
Đại Phong rút tay về. Một lúc sau hắn mới nhận ra từ chỗ gặp bà Năm Mận tới đây, cha không hề hỏi lại chuyện sân sau. Ông cũng không hỏi bà vì sao dặn như thế. Thúy Hoa cũng không nhắc lại. Câu dặn vừa rồi cứ thế nằm lại sau lưng cùng mái rạ của bà Năm Mận.
Phía trước, mái miếu thấp dần hiện ra sau hai thân tre. Ánh đèn hắt lên mép mái, khói hương bị gió ép xuống ngang mặt người. Mấy người tới cửa đều tự hạ giọng. Không ai bảo ai.
Sân miếu đông nhưng không ồn.
Khói hương từ bát hương lớn quyện với mùi rượu, áo ướt và dầu đèn cháy. Tiếng mõ từ gian trong rơi đều giữa tiếng dép lẹp xẹp trên nền đá. Đèn dầu đặt dọc bậc, ánh vàng chỉ đủ soi những khuôn mặt cúi xuống và mấy bàn tay che lửa khỏi gió.
Ở rìa sân, ngoài quầng sáng của dãy đèn, người áo tuần đinh đứng quay mặt về phía miếu nhưng không vào.
Hai người gánh lễ đi ngang phải nghiêng vai tránh một vũng nước trước chỗ hắn đứng. Khi họ khuất, khoảng đất ấy lại trống.
Đại Phong sờ qua lớp áo. Mảnh xương vẫn lạnh như lúc rời nhà.
Hắn nhớ vị trí người kia rồi cúi xuống tránh một người đang bưng mâm lễ đi ngược chiều.
Đại Sơn cũng nhìn về phía đó. Ông chống gậy chậm lại, để Thúy Hoa bước lên bậc trước rồi mới theo.
Ở góc sân bên trái, bác Ba thợ săn đứng dựa cột, cái nón rách cầm ngang bụng. Ánh mắt ông lướt qua Đại Sơn. Đại Sơn khẽ nghiêng đầu một cái rồi quay về phía bàn hương.
Đại Phong thấy, nhưng lúc ấy người phía sau đã giục nhường lối.
Hắn bước theo mẹ thêm mấy bước rồi mới liếc về rìa sân lần nữa. Người áo tuần đinh vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Một bà cụ bưng đĩa bánh đi ngang không nhìn hắn, chỉ vòng qua cái vũng nước trước mặt rồi đi tiếp. Hai thanh niên khiêng vò rượu cũng tránh đúng chỗ ấy vì lối hẹp. Đại Phong không biết họ né người kia hay chỉ né nước.
Cái hắn nhìn thấy rõ hơn là cha mình. Đại Sơn không nhìn về rìa sân lần thứ hai. Ông đổi gậy sang tay trái, để tay phải rảnh khi đi qua khoảng đông người. Bác Ba ở góc cột cũng không sang chào. Ông cúi đầu sửa lại dây nón, nhưng lúc Đại Sơn đi ngang, bàn tay đang cầm dây dừng một nhịp.
Đại Phong nhớ lời Lão Hoắc hôm trước: đừng lấy cái bụng ghép thay cho mắt. Một cái nghiêng đầu chưa phải hẹn nhau. Một bàn tay dừng chưa phải bí mật. Hắn chỉ biết hai người đàn ông đã thấy nhau mà không sang chào.
Thúy Hoa đặt bàn tay lên lưng Đại Phong, đẩy nhẹ.
“Đến lượt nhà mình rồi. Đừng đứng chắn người ta.”
Hắn thôi nhìn.
Ngay trước bàn hương, một người đàn ông đánh rơi bó hương xuống nền. Bà Tư dùng đầu dép gạt bó hương khỏi vũng nước, bảo ông ta nhặt lên rồi mới đưa lửa. Không ai dừng lễ vì chuyện nhỏ ấy. Người sau đặt lễ xuống, người trước cúi đầu đi ra. Ở rìa sân, bóng áo tuần đinh vẫn đứng ngoài quầng đèn. Không ai tới hỏi hắn có vào lễ hay không.
Bà Tư đứng cạnh bàn hương, tay cầm ba nén hương. Khi bà xắn tay áo để châm lại một đầu hương tắt, sợi chỉ đỏ cũ ở cổ tay lộ ra rồi bị tay áo phủ xuống.
Đại Phong nhìn thêm một lần. Ở chân chiếc chuông đồng cạnh bát hương cũng có buộc một đoạn dây đỏ đã sẫm màu vì khói. Dây ở cổ tay bà mềm và sờn; đoạn trên chuông dày hơn, thắt bằng hai nút.
Hắn chưa kịp nhìn lâu thì người phía sau đã đặt mâm lễ xuống cạnh chân.
Tới lượt nhà Đại Sơn. Thúy Hoa đặt gói lễ lên bàn, đưa mảnh giấy gấp tư cho Bà Tư. Bà mở một nếp, đọc rất nhanh rồi gấp lại.
Bà Tư nhìn Đại Sơn.
“Ông chắc chứ?”
Đại Sơn gật đầu. “Gửi lên bàn thờ.”
Bà rút hương đưa cho ông. Khi cắm nén đầu tiên, bàn tay Đại Sơn run một nhịp; ông đổi tay chống gậy rồi cắm tiếp.
Đại Phong vẫn không đọc được mảnh giấy.
Lão Hoắc ngồi bên cột, châm thêm bấc vào chén đèn. Khi Đại Phong đi ngang, lão gõ mẩu than vào thành chén. Cạch.
“Mắt mày có ngứa thì cũng giữ cái chân cho yên.” Lão nói rất khẽ. “Sân sau không phải chỗ mò một mình.”
Đại Phong khựng lại. “Lão biết có gì ở đó à?”
Lão Hoắc cúi xuống châm bấc, chẳng buồn ngẩng đầu. “Biết thì tao đã tính tiền câu trả lời rồi.”
Mẩu than lại chạm thành chén một tiếng cạch.
Sau khi lễ xong, gia đình chuẩn bị về.
Đại Phong liếc ra rìa sân. Chỗ người áo tuần đinh đứng lúc nãy đã trống. Sát chân cột, nơi bùn bị người đi lễ giẫm nhão, một đồng xu cũ nằm nghiêng, một mặt dính đất.
Hắn nhìn quanh. Không ai cúi tìm. Hắn nhặt đồng xu lên, quệt bùn bằng ngón cái. Mép đồng đã mòn, trên mặt chỉ có một vết xước nông; hắn không biết của ai, càng không biết nó nằm đó từ lúc nào. Hắn nhét đồng xu vào túi ngoài, để riêng khỏi gói xương.
Ở khe cửa bên hông miếu có mắc một mẩu chỉ đỏ. Đại Phong nhìn nó rồi nhìn lối trước, nơi Thúy Hoa đang dìu Đại Sơn xuống bậc.
Hắn cúi buộc lại dép, chờ cha mẹ đi trước vài bước. Khi ngẩng lên, hắn không chạy theo ngay mà men sát vách miếu.
Lối ra sân sau hẹp và tối. Ánh trăng lọt qua khe lá, đọng thành từng mảng trên nền đất ướt. Mẩu chỉ ở khe cửa không kéo dài tới đây; Đại Phong chỉ còn vách gạch bên vai và tiếng người ngoài sân trước xa dần.
Sân sau nhỏ hơn hắn tưởng. Dưới gốc cây khô có một phiến đá rêu phủ. Trên đá đặt bát nước đục, một cái chuông gỉ và mảnh vải điều cũ phủ lên vật nhỏ bằng nắm tay.
Hai ba sợi chỉ đỏ mắc ở chân chuông và cành khô. Có sợi đã bạc màu gần thành nâu.
Đại Phong bước tới. Hắn đưa tay về phía mảnh vải.
Khi đầu ngón tay còn cách một gang, mặt nước trong bát khẽ gợn dù sân sau không có gió. Miệng chuông gỉ chạm rất nhẹ vào phiến đá: cạch.
Đại Phong khựng lại.
Trong đầu lóe lên một hình ảnh ngắn đến mức hắn không biết mình vừa nhớ hay vừa tưởng: một bàn tay ướt kéo thứ gì màu đỏ khỏi nước đen. Trên mu tay có một vệt sẹo. Hết.
Vệt sẹo vừa hiện đã mất.
Đại Phong lùi một bước. Gót dép trượt trên rêu, bàn tay phải chống xuống phiến đá lạnh. Hắn rụt tay lại ngay, chưa đụng tới mảnh vải điều.
Trong túi áo, mảnh xương của hắn cấn vào sườn.
Hắn nhìn vật bị phủ thêm một lần. Mép vải chỉ hở ra một góc tối, không đủ thấy bên dưới là gì.
Một bàn tay nắm lấy vai hắn từ phía sau.
“Bỏ tay xuống.”
Giọng Bà Tư khô và thấp. Bà kéo hắn lùi khỏi phiến đá rồi nhìn đầu ngón tay hắn trước.
“Chạm vào chưa?”
“Chưa ạ. Con thấy bát nước động. Với... cái chuông.”
Bà Tư kéo mảnh vải điều phủ kín vật trên phiến đá, rồi đặt hai ngón tay lên miệng bát như kiểm xem nó còn rung hay không.
“Thấy thì để đấy. Sân sau không phải chỗ trẻ con thử gan.”
Đại Phong nhìn bàn tay bà. “Cha con biết chỗ này hả bà?”
Bà Tư kéo mảnh vải cho kín thêm một góc. “Cha mày biết gì thì về hỏi cha mày. Ta coi thuốc, coi cân, coi cái miếu này; thứ nào phải để yên thì ta để yên.” Bà nắm vai hắn, xoay về phía lối hẹp. “Ra trước đi. Mẹ mày quay lại không thấy, lát nữa người ta đang lễ lại phải chạy đi tìm mày.”
Đến cửa bên hông, Đại Phong mới sờ lại túi áo. Gói vải khô đựng mảnh xương vẫn nằm nguyên bên trong.
Bà Tư nhìn động tác ấy rồi nhìn mảnh giấy gấp tư đang kẹp giữa hai ngón tay mình.
“Còn tờ này, cha mày xin khất một việc. Ta chỉ đặt lên bàn hộ. Bên kia có chịu hay không, ta không dám nói thay.”
“Việc gì ạ?”
Bà Tư gập mảnh giấy lại theo nếp cũ. “Cha mày viết thì về hỏi cha mày. Ta không nói hộ.”
Hai người vừa ra tới sân trước thì từ sau bức tường miếu vang lên một tiếng chuông đục.
Keng.
Tiếng mõ trong gian chính vẫn đều, nhưng mấy người đứng gần cửa bên hông cùng quay đầu.
Đại Sơn quay lại nhanh hơn Thúy Hoa. Bàn tay ông đang chống trên gậy siết chặt.
Ông nhìn Bà Tư. “Cái chuông sau miếu vẫn còn đấy à?”
Đại Phong đứng sững.
Bà Tư không đáp ngay. Bà nhét mảnh giấy vào trong tay áo.
“Ở sân trước thì lo việc sân trước.”
Rồi bà quay ra phía cửa, giọng cao hơn một chút:
“Ai chưa thắp hương thì cứ thắp. Đừng dồn hết vào cửa bên này. Nhà nào có trẻ con thì giữ lấy trẻ con nhà ấy.”
Mấy người đứng gần cửa tản ra. Một bà mẹ kéo con bé đang kiễng chân nhìn vào sát bên mình; ông già cầm bó hương nhích sang chừa lối. Tiếng mõ trong gian chính không ngừng.
Đại Sơn nhìn Bà Tư thêm một nhịp rồi quay đi.
Đại Phong chợt nhớ đồng xu trong túi ngoài.
“Cha.”
Hắn lấy đồng xu ra, đặt lên lòng bàn tay. “Con nhặt cái này ở chỗ người áo nâu đứng lúc nãy.”
Đại Sơn không cầm ngay. “Con thấy hắn đánh rơi à?”
“Không ạ. Lúc con nhìn lại thì hắn không còn ở đó. Đồng này nằm sát chân cột.”
“Không thấy rơi thì đừng nói là của hắn.”
Đại Sơn mới cầm đồng xu. Ông dùng móng tay cạo lớp bùn ở mép, lật hai mặt dưới ánh đèn rồi khép bàn tay lại.
Ở góc cột, Bác Ba đã đứng thẳng người từ lúc nào.
Đại Sơn gọi: “Ông Ba.”
Bác Ba bước lại nửa bước. “Gì đấy?”
Đại Sơn không đưa đồng xu cho ông, chỉ hỏi: “Mai ông ra bìa rừng với tôi được không?”
Bác Ba nhìn bàn tay đang nắm đồng của ông, rồi nhìn về phía bức tường sau miếu.
“Chỗ cọc cũ?”
“Ừ. Sương tan.”
Bác Ba gật. “Được. Tôi đợi ngoài ấy.”
Thúy Hoa đang giữ tay Đại Phong quay sang chồng. “Chân ông còn sưng mà mai lại lội ra đấy à?”
“Ra bìa thôi. Tôi coi cái cọc rồi về.”
“Thì ông đi đâu cũng nói tôi biết từ tối. Đừng sáng ra tôi lại nhìn cái gậy mà đoán người đâu.”
Đại Sơn nhìn vợ. “Ừ. Tôi nói.”
Bà Tư gõ nhẹ cán quạt xuống mép bàn hương.
“Muốn bàn việc rừng thì ra khỏi sân mà bàn. Người ta còn lễ.”
Thúy Hoa kéo tay Đại Phong. “Thôi, về con.”
Họ đi xuống bậc miếu giữa dòng người đang lên. Thúy Hoa không hỏi thêm khi còn trong quầng đèn. Chỉ tới lúc tiếng mõ lùi sau hàng tre, bà mới ghé sát chồng:
“Ông biết cái chuông ấy từ trước phải không?”
Đại Sơn chống gậy xuống chỗ đất chắc rồi mới đáp. “Biết có cái chuông.”
“Còn chuyện khác?”
“Chưa nói được.”
Thúy Hoa mím môi. Bà vẫn đưa tay đỡ khuỷu tay ông qua chỗ đá trơn.
“Thế thì thôi. Nhưng mai ông đã hẹn người ta rồi, sáng ăn lót dạ hãy đi. Chân thế kia mà lại để bụng rỗng thì tôi không khiêng ông nổi đâu.”
“Ừ.”
Đại Phong đi sau. Cha hắn không nói thêm về cái chuông; mẹ hắn cũng không hỏi ma quỷ. Bà chỉ kéo chuyện trở lại cái chân đau, bữa sáng và việc chồng đã nhận lời đi đâu.
Qua cây du già, đoạn chỉ đỏ họ gặp lúc đi lên đã nằm bẹp trong vũng nước, bùn phủ gần hết. Đại Phong nhìn thấy nhưng không dừng. Đại Sơn cũng không nhìn xuống. Chỉ có Thúy Hoa kéo tay áo con cao hơn một chút để khỏi quệt vào bụi ướt.
Tới gần nhà, nàng mới buông khuỷu tay chồng.
“Chuyện gì chưa nói được thì thôi. Nhưng mai ông còn định đi đâu, nói tôi biết trước.”
Đại Sơn gật một cái. “Ừ.”
Lúc xuống hết bậc miếu, Đại Phong đã ngoái lại một lần. Bà Tư vẫn đứng ở cửa bên hông, không nhìn theo họ mà nhìn về phía bức tường sau miếu.
Về tới nhà, Đại Sơn ngồi xuống bậc cửa, chân phải duỗi thẳng. Ông đặt đồng xu vừa cầm ở miếu lên mảnh ván, cách gói xương một gang tay.
“Con nhặt đúng chỗ hắn đứng?”
“Dạ. Sát chân cột.”
“Có ai thấy con nhặt không?”
Đại Phong nghĩ một lúc. “Con không biết. Lúc ấy người ta đang ra vào.”
Đại Sơn gật, không hỏi thêm. Ông kéo cuộn dây gai cũ từ dưới phản ra, thử một nút rồi quấn lại.
Đại Phong nhìn đồng xu. “Cha ra bìa rừng vì cái này à?”
“Cha ra coi chỗ cũ.”
“Còn đồng này?”
“Cất riêng. Đừng bỏ chung với tiền bán da.”
Đại Phong lấy một mảnh vải nhỏ bọc đồng xu lại.
Đại Sơn nhìn sang gói xương. “Sáng mai con ở nhà.”
“Con chỉ đi tới bìa thôi được không?”
“Không. Ở nhà với mẹ.”
Giọng ông không cao, nhưng lần này không có chỗ để hỏi lại.
Thúy Hoa từ bếp đặt bát nước ấm xuống cạnh chồng. “Nghe cha con đi. Mai ở nhà chẻ giúp mẹ ít củi. Việc ngoài rừng để người biết đường ngoài rừng lo.”
Đại Phong không đáp ngay. Hắn nhìn đồng xu đã bọc, rồi nhìn cuộn dây gai trong tay cha.
“Con ở nhà.”
Đêm xuống, cuộn dây gai vẫn để cạnh đầu gậy của Đại Sơn. Đồng xu bọc vải nằm riêng trên mảnh ván, không chung với túi tiền bán da và cũng không chung với gói xương.
Đại Phong nằm quay mặt vào vách. Hắn nghe cha thử lại nút dây một lần trong bóng tối rồi đặt nó xuống.
Một lúc sau, Đại Sơn kéo dao săn lại gần đầu gậy.
“Mai ở nhà đấy.”
Đại Phong mở mắt trong bóng tối. “Con biết rồi.”
Ngoài sân, gió lùa qua cọc rào làm đoạn chỉ đỏ còn mắc ở đó khẽ quệt vào tre.
Sột.
Không ai trong nhà ra xem.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.