Chương 45: Hỏa Độc Tử Địa
Gió từ đỉnh Ma Hạc Nhai rít qua những khe đá hẹp, phát ra chuỗi âm thanh the thé như tiếng khóc than của quỷ đói.
Cố Trường Sinh một tay xách chiếc xẻng sắt cùn rỉ sét, một tay ôm bọc vải thô đựng hạt giống U Lan Thảo lép xẹp trước ngực, từng bước dẫm lên con đường mòn phủ đầy sỏi nhọn dẫn về phía chân vách đá phía nam Bách Thảo Phong. Hắn cố tình lê gót chân, bước đi khập khiễng, hơi thở kéo dài nặng nhọc ngắt quãng, tạo ra dáng vẻ của một kẻ vừa đột phá Luyện Khí tầng một nhưng kinh mạch tổn thương, khí huyết suy kiệt.
Bên trong cơ thể, Mộc linh khí tại Khí Hải Đan Điền vẫn lặng lẽ nghịch hành theo lộ tuyến Khô Thảo Tức. Luồng xoáy chân khí to bằng miệng chén màu xanh lục đậm bị ép co cụm lại thành một chấm nhỏ cỡ hạt đậu, toàn bộ áp lực linh lực tỏa ra ngoài da chỉ tương đương với một tu sĩ Luyện Khí tầng một sơ kỳ yếu ớt nhất. Ngũ quan được linh khí cường hóa âm thầm quét qua bốn phía trong phạm vi mười lăm trượng.
Mùi đất ẩm mốc của sườn núi chính dần dần bị thay thế bởi một mùi vị hỗn tạp khó chịu: mùi tanh tưởi của bùn lầy lưu huỳnh, mùi tro than khét lẹt nồng nặc của bã thuốc hỏng trôi dạt từ suối Dược Phế Khê, cùng với hơi nóng âm ỉ bốc lên từ lòng đất.
Đi hết khúc quanh cuối cùng dưới chân vách Ma Hạc Nhai, khung cảnh của Linh điền số mười ba hiện ra trọn vẹn trước mắt Trường Sinh.
Đó là một dải đất rộng chừng năm mẫu, nằm kẹp giữa chân vách đá granite sừng sững màu xám đen và một nhánh rạch tù đọng rỉ ra từ dòng Dược Phế Khê. Khác hẳn với những mảnh linh điền xanh mướt ngập tràn linh khí ở trung tâm phong, mảnh đất này tựa như một vết lở loét xấu xí trên da thịt ngọn núi.
Bề mặt linh điền nứt nẻ chằng chịt như mu rùa. Trên những khe nứt rộng cỡ hai ngón tay, một lớp muối kiềm màu trắng xám kết tinh dày cộm, lấp lánh thứ ánh sáng chết chóc dưới ánh tà dương. Tệ hơn nữa, đất ở đây không mang màu nâu đen phì nhiêu của linh thổ, mà loang lổ những mảng màu đỏ gạch pha lẫn xám tro. Cứ cách vài bước chân, từ các lỗ thông hơi tự nhiên dưới lòng đất lại bốc lên từng làn khói mỏng không màu, mang theo luồng nhiệt độc gắt gỏng khiến không khí xung quanh méo mó đi.
"Đan Hỏa Độc tích tụ ít nhất ba năm..."
Cố Trường Sinh dừng bước ở bờ ruộng, ánh mắt khẽ nheo lại.
Hắn ngồi xổm xuống, đặt chiếc xẻng rỉ sang một bên, tháo găng tay vải thô rồi cẩn thận dùng đầu ngón tay chạm vào bề mặt đất nứt nẻ. Cảm giác đầu tiên truyền đến là sự khô khốc và nóng rát. Lớp đất mặt nóng như vừa bị vùi trong tro bếp. Hắn cào nhẹ lớp muối kiềm trắng xám, bốc một nắm đất vụn màu đỏ gạch lên lòng bàn tay, đưa lại gần mũi ngửi thật sâu, rồi thậm chí còn chấm một hạt bụi đất nhỏ xíu đặt lên đầu lưỡi.
Vị chát đắng lập tức lan tỏa, kèm theo cảm giác tê dại đầu lưỡi và một cơn nóng rát nhẹ kéo xuống cuống họng.
Trường Sinh lập tức nhổ ngụm nước bọt có lẫn bụi đất xuống rãnh nước cạn, đầu óc vận chuyển cực nhanh, đối chiếu với những kiến thức nông vụ mà cha hắn - Cố Đại Sơn từng truyền dạy cùng những dòng ghi chép trong chương "Thổ Nhưỡng Thiên" của cuốn Bách Thảo Kinh Sơ Lược.
Đất này vốn là loại thổ nhưỡng Thấp Âm nằm dưới bóng râm của vách Ma Hạc Nhai, tính hàn và ẩm. Đáng lẽ nó rất thích hợp để trồng các loại linh thảo âm tính như U Lan Thảo hay Hàn Cốt Thảo. Nhưng do nằm sát nhánh xả của Đan Dược Viện, bao năm qua nước thải chứa cặn phế đan, tro than địa hỏa cùng các loại kim loại nặng chưa cháy hết đã ngấm sâu xuống mạch nước ngầm. Địa hỏa độc và hàn khí ẩm thấp xung đột dữ dội trong lòng đất, biến lớp đất màu mỡ thành loại đất chết: bên trên đóng váng kiềm độc, bên dưới cháy khô vì hỏa độc, còn tầng đáy sâu nhất lại úng ngập bùn thối thiếu dưỡng khí.
Bất kỳ loại linh thảo nào gieo xuống đây, rễ non vừa nhú ra chạm phải lớp kiềm sẽ bị thối rữa, nếu đâm sâu xuống gặp đan hỏa độc sẽ lập tức bị thiêu rụi thành than.
"Hai mươi cân U Lan Thảo tươi trong vòng ba mươi ngày..." Trường Sinh lẩm bẩm, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười lạnh lẽo.
Thảo nào gã chấp sự họ Triệu lại hào phóng ném thẻ bài này cho hắn mà không thèm đòi thêm linh thạch hối lộ. Đối với những đệ tử ngoại môn thông thường chỉ biết tưới nước dẫn khí mù quáng, mảnh đất này chính là một cái hố chôn sống, một cái bẫy nợ môn vụ khiến kẻ nhận việc mất sạch điểm cống hiến và gánh thêm khoản nợ bốn mươi khối linh thạch hạ phẩm tiền phạt.
Nhưng đối với Cố Trường Sinh, đây lại là mảnh đất hoàn hảo nhất.
Hắn đứng dậy, phủi sạch bụi đất trên tay, đưa mắt quan sát xung quanh. Cách bờ ruộng chừng ba mươi trượng về phía góc vách đá Ma Hạc Nhai là một căn chòi lá xiêu vẹo dựng bằng gỗ thông mục nát và đá tảng xếp chồng. Mái chòi lợp bằng cỏ tranh khô đã bị gió xé rách tả tơi, lộ ra những thanh xà gồ đen đúa.
Trường Sinh cầm xẻng, bước chậm rãi về phía căn chòi. Hắn không vội bước vào trong ngay. Cầm cán xẻng sắt, hắn gõ nhẹ lên từng phiến đá quanh bậc cửa, dùng Mộc linh khí quán thị giác quét qua từng góc khuất.
Sau khi xác định không có bẫy rập của tu sĩ hay độc trùng nguy hiểm nào như Hắc Giáp Hạt ẩn nấp dưới lớp cỏ mục, hắn mới cúi đầu bước vào.
Bên trong chòi rộng chưa đầy một trượng vuông, ẩm thấp và bốc mùi ẩm mốc nồng nặc. Góc trong cùng kê một tấm phản gỗ mục gãy một chân, được kê tạm bằng hai viên đá hộc. Trên vách đá dựng đứng phía sau chòi, từng giọt nước lạnh ngắt rỉ ra từ kẽ nứt, chảy tong tòng xuống một rãnh đá nhỏ rồi thoát ra ngoài.
Trường Sinh đặt túi hạt giống và chiếc xẻng rỉ vào góc phản gỗ, sau đó quay người đi ra khỏi chòi, tiến thẳng về phía chân vách đá Ma Hạc Nhai nằm sát ranh giới linh điền số mười ba.
Hắn đi dọc theo chân vách, giả vờ như đang kiểm tra bờ bao của ruộng, nhưng thực chất ánh mắt đang gắt gao rà soát từng vết nứt trên vách đá granite sừng sững.
Chỉ sau mười bước chân, mắt hắn khẽ sáng lên.
Ngay tại góc khuất sau một tảng đá mẹ nhô ra như đầu chim hạc, một rãnh nứt hẹp màu đỏ nâu do quặng sắt oxy hóa kéo dài thẳng đứng từ chân núi lên tận màn sương mù phía trên. Đây chính là điểm mù cấm chế của đại trận hộ sơn mà hắn từng trinh sát kỹ lưỡng trước đó. Cuộn dây thừng bện bằng vỏ cây gai tuyết phơi khô vẫn còn được giấu kín kẽ trong một hốc đá hẹp phủ đầy rêu chết, không hề có dấu vết bị động chạm.
Từ linh điền số mười ba này bước tới rãnh quặng sắt chỉ mất chưa đầy ba mươi nhịp thở.
"Danh chính ngôn thuận."
Trường Sinh thầm tính toán trong lòng. Từ nay về sau, hắn có thể ở lại mảnh linh điền này cả ngày lẫn đêm với lý do cày cuốc cải tạo đất. Đội tuần tra của Chấp Pháp Đường dù có quét la bàn đồng ngang qua cũng chỉ thấy một gã đệ tử ngoại môn nghèo hèn đang cắm đầu làm lụng bên bờ ruộng phế phẩm, hoàn toàn không thể ngờ rằng ngay sau lưng hắn là con đường bí mật dẫn thẳng ra chợ đen Hắc Thủy Đàm.
Xác định xong vị trí an toàn, Trường Sinh không hề lãng phí dù chỉ một khắc thời gian. Hắn quay lại chòi, mở túi vải thô chứa hạt giống U Lan Thảo ra kiểm tra.
Trong túi có khoảng hơn hai trăm hạt giống. Hạt U Lan Thảo tiêu chuẩn thường có màu lam nhạt, căng mẩy và tỏa ra một làn hơi mát lạnh nhẹ. Nhưng số hạt giống mà tên đệ tử Chấp Sự Đường ném cho hắn phần lớn đều teo tóp, vỏ ngoài xám xịt, khô khốc như hạt thóc lép.
Trường Sinh ngồi xếp bằng trên tảng đá phẳng trước chòi, đổ toàn bộ hạt giống ra một mảnh vải gai sạch. Hắn vận hành một tia Mộc linh khí cực kỳ mỏng manh như sợi tơ nhện nơi đầu ngón trỏ, nhẹ nhàng lướt qua từng hạt giống một.
Khả năng cảm ứng sinh cơ tinh tế của Luyện Khí tầng hai lập tức phát huy tác dụng.
Mười hạt... hai mươi hạt... năm mươi hạt...
Cứ mỗi hạt bị luồng linh khí quét qua, tình trạng sinh cơ bên trong lập tức hiện rõ trong tâm trí hắn. Có hạt phôi mầm bên trong đã chết khô hoàn toàn từ lâu; có hạt bị sâu đục rỗng ruột chỉ còn cái vỏ rỗng; nhưng cũng có những hạt phôi mầm tuy teo tóp vì mất nước nhưng vẫn còn giữ lại một tia sinh cơ yếu ớt ẩn sâu dưới lớp vỏ cứng.
Sau nửa canh giờ sàng lọc tỉ mỉ, Trường Sinh chia số hạt giống thành ba phần rõ rệt:
Một trăm mười hạt đã chết hoàn toàn, không thể cứu vãn, biến thành phế phẩm vô dụng.
Sáu mươi tư hạt sinh cơ suy kiệt nặng, nếu gieo theo cách thông thường chắc chắn tỷ lệ nảy mầm không quá một phần mười.
Chỉ có ba mươi lăm hạt là tương đối nguyên vẹn, phôi mầm vẫn còn giữ được tính đàn hồi linh khí.
"Ba mươi lăm hạt tốt, cộng với sáu mươi tư hạt yếu... Nếu biết cách kích mầm và chuẩn bị đất đai hoàn hảo, thu hoạch được hai mươi cân U Lan Thảo tươi hoàn toàn nằm trong tầm tay."
Trường Sinh cẩn thận gói riêng ba mươi lăm hạt tốt vào một góc vải, bọc kỹ lại rồi nhét vào trong ngực áo. Số hạt còn lại hắn gói vào túi cũ để trên phản gỗ làm vỏ bọc che mắt kẻ khác.
Lúc này, mặt trời đã hoàn toàn lặn sau rặng núi phía tây. Bóng tối đặc quánh cùng sương mù độc chướng từ đầm lầy Thấp Âm bắt đầu tràn vào thung lũng chân vách Ma Hạc Nhai. Nhiệt độ hạ xuống nhanh chóng, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng núi đá. Thế nhưng, lớp đất dưới chân linh điền số mười ba vẫn âm ỉ tỏa ra thứ nhiệt khí hầm hập, ngột ngạt đến tức ngực.
Trường Sinh đứng dậy, cầm lấy chiếc xẻng sắt cùn.
Hắn cởi bỏ chiếc áo ngoài bằng vải gai thô, chỉ mặc độc một chiếc áo lót cộc tay đã bạc màu, để lộ lồng ngực gầy guộc nhưng săn chắc cùng vết rách bên sườn trái đang kết vảy hồng nhạt. Hắn không dùng linh lực để đào đất, bởi vì mỗi một tia linh lực tiêu hao lúc này đều là sự lãng phí tài nguyên, đồng thời việc phát tán linh áp liên tục có thể thu hút sự chú ý của la bàn Chấp Pháp Đường.
Hắn dùng sức mạnh thuần túy của thể xác phàm nhân đã trải qua hai lần linh khí tẩy tủy để bắt đầu công việc.
"Keng!"
Lưỡi xẻng sắt cùn bổ mạnh xuống mặt đất nứt nẻ, va phải lớp muối kiềm cứng như đá, phát ra một tiếng kêu chát chúa làm tê dại cả cổ tay. Mảnh xẻng rỉ chỉ cắm sâu vào đất được chừng hai tấc thì khựng lại.
Trường Sinh không hề biến sắc. Hắn xoay cổ tay theo một góc ba mươi độ - góc độ xẻ rễ thảo mộc mà cha hắn từng dạy - dồn trọng tâm toàn thân lên bàn chân phải, đạp mạnh vào vai xẻng.
"Rắc!"
Lớp váng kiềm dày cộp vỡ tung ra thành từng mảng lớn màu trắng đục. Hắn dùng xẻng hất tung mảng kiềm sang hai bên bờ rãnh, để lộ ra lớp đất màu đỏ gạch bốc khói phía dưới.
Mục tiêu đầu tiên của hắn trong đêm nay không phải là gieo hạt, mà là đào một hệ thống mương dẫn và rãnh thoát hiểm: gồm ba đường rãnh dọc sâu hai thước cắt ngang qua năm mẫu đất, nối thẳng từ vách đá Ma Hạc Nhai đổ ra nhánh rạch Dược Phế Khê.
Kế hoạch cải tạo đất của hắn được chia làm bốn bước cực kỳ nghiêm ngặt:
Bước thứ nhất: Đào rãnh xới đất, cạo sạch toàn bộ lớp váng kiềm độc trên bề mặt đem đổ đi, mở toang các lỗ thông hơi để đan hỏa độc trong lòng đất thoát bớt ra ngoài không khí theo gió lạnh ban đêm.
Bước thứ hai: Dẫn dòng nước lạnh ngắt rỉ ra từ kẽ đá Ma Hạc Nhai chảy ngập vào các rãnh mương trong vòng hai ngày đêm để rửa trôi lượng hỏa độc tồn dư ở tầng đất giữa, đồng thời làm nguội nhiệt độ đất nền.
Bước thứ ba: Gom lớp bùn hữu cơ lắng đọng ở đáy nhánh rạch Dược Phế Khê - nơi đã được dòng nước pha loãng bớt độc tố nhưng lại cực kỳ giàu khoáng chất phân rã từ bã dược liệu - trộn đều với tro than của rễ Tuyết Gai Thảo khô và tro củi tạp. Tro Tuyết Gai Thảo mang tính cực hàn và chát, kết hợp với tính kiềm nhẹ của tro than sẽ trung hòa triệt để dư lượng axit và hỏa độc còn sót lại, biến đất chết thành loại "Hàn Âm Linh Nê" màu mỡ nhất cho U Lan Thảo phát triển.
Bước thứ tư: Dùng Mộc linh khí tơ nhện ngâm hạt giống trong nước thuốc Khổ Đằng pha loãng để kích thích phôi mầm phá vỏ trước khi gieo xuống đất theo mô hình mắt lưới so le.
Từng nhát xẻng nện xuống đất đều đặn như một cỗ máy.
"Keng! Xoạc! Bụp!"
Mồ hôi bắt đầu túa ra như tắm trên trán, chảy ròng ròng qua sống mũi rồi rơi xuống lớp đất đỏ gạch nóng rực, lập tức bốc hơi xèo xèo thành những làn khói trắng nhỏ xíu. Hai lòng bàn tay của Trường Sinh - vốn đã chai sần vì nhiều năm cầm liềm cắt cỏ - bắt đầu nóng rát. Vết thương bên sườn trái nhói lên từng cơn âm ỉ theo mỗi nhịp vặn mình dùng lực, nhưng cơ mặt hắn vẫn phẳng lặng như mặt nước giếng cổ.
Hắn không dừng lại. Hắn nhẫn nại điều chỉnh từng nhịp thở, dùng Khô Thảo Tức khóa chặt mạch máu ven sườn để vết thương không bị rách toác ra, biến cơn đau thể xác thành sự tập trung cao độ.
Đến canh ba đêm, khi vầng trăng khuyết bị sương mù che khuất hoàn toàn, rãnh thoát nước đầu tiên dài mười trượng, sâu hai thước rưỡi đã thành hình ngay ngắn như một đường kẻ chỉ thẳng tắp xuyên qua mẫu ruộng đầu tiên.
Đúng lúc này, từ trên đỉnh không trung xa xăm, một tiếng xé gió rất khẽ truyền đến.
Một luồng sáng xanh mờ nhạt của Phi Hành Phù lướt qua màn sương đêm trên đỉnh vách Ma Hạc Nhai. Đội tuần tra của Chấp Pháp Đường đang thực hiện chuyến quét la bàn định kỳ mỗi ba khắc.
Cố Trường Sinh lập tức dừng xẻng, cúi rạp người xuống rãnh đất sâu vừa đào, toàn thân bất động như một khúc gỗ mục. Luồng xoáy Mộc linh khí trong đan điền thu lại triệt để, nhịp tim hạ xuống chỉ còn một nhịp sau mỗi mười hơi thở, thân nhiệt hạ thấp hòa lẫn hoàn toàn vào cái lạnh của bùn đất xung quanh.
Một luồng dao động thần thức vô hình kèm theo ánh sáng đồng đỏ của la bàn quét sượt qua đỉnh đầu hắn, dừng lại một thoáng trên khoảng đất nứt nẻ bốc khói của linh điền số mười ba, rồi nhanh chóng lướt qua, hướng về phía khu rừng gai Thấp Âm.
Trong mắt những kẻ tuần tra trên cao, nơi này chỉ là một bãi đất chết hoang tàn, không có bất kỳ dao động linh lực khả nghi nào của tu sĩ Luyện Khí tầng hai trở lên.
Khi ánh sáng xanh của Phi Hành Phù khuất hẳn sau rặng núi, Trường Sinh mới từ từ ngẩng đầu lên. Hắn thở ra một ngụm khí đục mang theo mùi bùn đất, khóe mắt ánh lên một tia sáng sắc lạnh.
Hắn đứng thẳng dậy, nhìn rãnh đất sâu hoắm dưới chân đang bắt đầu rỉ ra những dòng nước màu đỏ gạch sủi bọt khí độc.
Mảnh đất này đối với người khác là tuyệt lộ, là địa ngục đày ải.
Nhưng đối với hắn, đây chính là pháo đài sinh tồn đầu tiên được xây dựng bằng chính máu, mồ hôi và sự toan tính lạnh lùng của bản thân.
Trường Sinh lại cúi người, nâng chiếc xẻng sắt cùn lên, nhát xẻng thứ hai mươi vạn lại giáng mạnh xuống lòng đất đá khô cằn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.