Tàng Sử

Chương 1: Tên Đệ Tử Lười

Đăng: 06/06/2026 23:51 4,288 từ 3 lượt đọc

Minh Tâm Đường nằm ở sườn đông Khải Minh Viện, nơi nắng sớm thường đến muộn hơn tiếng chuông học nửa khắc.

Khi hồi chuông thứ ba ngân dài qua những lớp mái ngói rêu phong, ánh sáng ban mai mới bắt đầu men theo hàng hiên đá tảng, chậm rãi lùa qua bức mành trúc mà rủ xuống giảng đường. Nó lướt qua những kệ thẻ tre cao sừng sững quá đầu người, trượt trên mấy cuộn địa đồ ố vàng treo sát vách mộc, rồi dừng lại ngay trên nghiên mực còn đọng sương đêm trước mặt Nghiêm Tử Hoài.

Trong không khí thoang thoảng mùi giấy cũ ngai ngái hòa cùng hương mực mới thanh tao.

Khải Minh Viện, nơi được thiên hạ gọi là đỉnh cao học thuật, lúc này đang chìm trong một vẻ trang nghiêm rất hợp để người ta cúi đầu ghi chép, nghiền ngẫm đại đạo, hoặc chí ít cũng giả vờ như mình đang làm vậy.

Người đời vẫn thường kháo nhau rằng Khải Minh Viện là nơi ban phát chân lý cho nhân gian. Nơi đây chia làm vô số học cung, mỗi nơi giảng giải một đạo lý sinh tồn, điển hình như:

Võ Đạo Học Cung dạy người ta hiểu vì sao nam nhi phải cầm kiếm.

Chiến Lược Học Cung dạy người ta hiểu khi nào tuyệt đối không nên rút thanh kiếm ấy ra.

Còn Lịch Sử Học Cung lại dạy người ta hiểu thanh kiếm ấy từng chém qua cổ những ai, vì sao nó nhuốm máu, và vì sao hậu nhân lại chỉ hời hợt ghi lại trong sách sử hai chữ “ghi công”.

Thế nhưng, các vị giảng sư trong viện luôn lắc đầu trước cái suy nghĩ “ban phát chân lý” đầy ngạo mạn kia.

“Khải” là mở ra.

“Minh” là sáng rõ.

Khải Minh không phải là ép kẻ khác quỳ gối tin vào đạo lý của mình, mà là dùng tri thức để cạy mở một khe sáng nhỏ nhoi trong nhận thức tối tăm, đặc quánh của con người, để họ tự dùng đôi mắt mình nhìn thấy những điều trước kia vốn bị sương mù che khuất.

Ngay trên bức tường đá cẩm thạch chính diện của Minh Tâm Đường, viện huấn ngàn năm vẫn được khắc sâu bằng những nét bút tung hoành đầy nội lực: [Không có chân lý vĩnh hằng, chỉ có nhận thức không ngừng tiến bộ.]

Dưới bóng râm của dòng chữ ấy, mấy trăm đệ tử Lịch Sử Học Cung bận viện phục áo xanh hoặc trắng đang nghiêm túc ngồi thẳng lưng. Tiếng ngọn bút lông thỏ chạm vào mặt giấy vang lên lạo xạo, đều đặn, mềm mại mà miên man như một cơn mưa bụi lướt qua rừng trúc.

Nghiêm Tử Hoài đứng trên bục giảng.

Ông mặc bộ áo dài màu xanh mực tươm tất, không một nếp nhăn, lưng thẳng tắp như một nét bút sổ dọc vừa dứt khoát hạ xuống mặt giấy. Râu ông chưa dài, tóc cũng chưa vội bạc, nhưng đôi mắt hẹp dài kia lại mang vẻ thâm thúy của một người đã đọc quá nhiều lời nói dối được cất giấu cẩn thận trong sách sử.

Trên án thư trước mặt ông đặt hai món đồ.

Một là chén trà bằng gốm trắng tinh khôi vừa mới ra lò, cốt sứ vẫn còn ánh lên nét tươi mới.

Món thứ hai là một mảnh vỡ của cái chén cổ màu xanh xám, xù xì, sứt mẻ và bám đầy cặn bẩn của tháng năm.

“Vạn vật trong thiên địa, chỉ cần từng hiện diện, từng tồn tại tất sẽ để lại dấu ấn.” Nghiêm Tử Hoài cất giọng, âm sắc trầm ổn, len vào từng góc nhỏ của giảng đường: “Dấu ấn ấy có thể nằm trong tảng đá vô tri, trong nắm xương tàn, trong những trang sách mục nát, trong lưỡi đao rỉ sét, hoặc thậm chí... nằm trong một câu nói bâng quơ đã bị thế nhân quên lãng từ lâu.”

Ông hơi dừng lại, ánh mắt lướt qua đám đệ tử.

“Chúng ta gọi nó là Đạo Uẩn, đó cũng là căn cơ của con đường tu luyện trong thế giới này.”

Đám đệ tử bên dưới lập tức cúi đầu, cắm cúi ghi chép, những cái gật đầu tâm đắc thi nhau xuất hiện.

Chỉ trừ một người.

Ở hàng ghế cuối cùng, sát góc tường khuất gió.

Quách Tuệ Lâm cũng đang cúi đầu.

Nhưng hắn không ghi chép.

Hắn đang ngủ.

Thiếu niên bận bộ viện phục Khải Minh màu trắng ngà, nhưng phần khuỷu tay áo đã nhăn nhúm vì bị đè lên quá lâu. Cổ áo hơi xộc xệch, mái tóc đen buộc qua loa bằng một sợi dây vải thô, vài lọn tóc vương vãi thả xuống bên gò má thanh tú.

Giữa một rừng đệ tử đang say sưa với đại đạo, dáng vẻ của hắn hệt như một vị công tử nhà giàu chán chường vừa bị người ta bế thốc từ trong chăn ấm nệm êm ném thẳng ra giảng đường.

Ngang trái thay, nơi cổ tay tái nhợt đang làm gối kê đầu của hắn lại lấp ló một xâu chuỗi hạt trầm hương màu đen tuyền. Chuỗi hạt không nổi bật nếu nhìn qua loa, chỉ thỉnh thoảng lặng lẽ ánh lên một màu đen trầm như mực cũ.

Trần Khánh Băng ngồi ngay cạnh Tuệ Lâm. Gã thiếu niên hơi mập mạp này liếc nhìn vũng mực đang âm thầm loang lổ dưới ngọn bút trúc vô chủ của bạn mình, rồi lại hoảng hốt ngẩng lên nhìn bục giảng.

Nhận thấy ánh mắt của Nghiêm Tử Hoài đang từ từ quét xuống góc lớp, mồ hôi trên trán Trần Khánh Băng lập tức thi nhau tứa ra.

Gã lén thò cùi chỏ, huých mạnh vào sườn Tuệ Lâm.

“Quách huynh...” Trần Khánh Băng gằn giọng thì thào, nhỏ như muỗi kêu.

Không có phản ứng.

Quách Tuệ Lâm chỉ khẽ chép miệng một cái.

“Quách huynh, mạng nhỏ không giữ được đâu, dậy mau...” Trần Khánh Băng sắp khóc đến nơi.

Vẫn tĩnh lặng như tờ.

Trên bục giảng, tiếng bình giảng về Đạo Uẩn bỗng nhiên im bặt.

Không khí trong Minh Tâm Đường dường như đông đặc lại. Cả mấy trăm con người chẳng ai bảo ai, ánh mắt đều dồn về phía hàng ghế cuối cùng.

Một lát sau, thanh âm lạnh lẽo của Nghiêm Tử Hoài vang lên, từng chữ rành rọt rớt xuống như những viên đá lạnh.

“Quách Tuệ Lâm.”

Mãi đến lúc này, thiếu niên ở góc lớp mới chịu ngọ nguậy. Hắn mơ màng nâng cái đầu nặng trĩu lên khỏi mặt bàn, dùng mu bàn tay dụi dụi khóe mắt, bộ dạng vẫn còn ngáy ngủ.

Hắn chớp chớp nhìn quanh rồi bằng một chất giọng vô tội, thành thật đến mức khiến người ta không nỡ trách móc, buông một câu: “Đến giờ ăn rồi sao?”

“Phụt...”

Vài tiếng khục khặc vang lên.

Ngay sau đó, Minh Tâm Đường rộ lên những tiếng cười rúc rích. Mấy đệ tử ngồi gần vội cúi đầu che miệng, sợ bị Nghiêm Tử Hoài tiện tay ghi tên vào sổ phạt.

Nghiêm Tử Hoài không cười.

Lưng ông vẫn thẳng tắp, đôi mắt hẹp dài nhìn chằm chằm thiếu niên trước mặt như thể đang nghiêm túc cân nhắc xem nên để hắn đứng chép viện huấn ba mươi lần hay là năm mươi lần.

“Nếu ngươi đã ngủ đủ rồi.” Nghiêm Tử Hoài gõ gõ ngón tay lên án thư. “Vậy đứng lên nói thử xem, Đạo Uẩn là gì?”

Bị ép đứng dậy, Quách Tuệ Lâm ngáp dài một cái, tùy tiện vươn tay chỉnh lại cổ áo. Hắn đưa mắt nhìn mảnh chén vỡ sứt sẹo và cái chén trà trắng muốt đặt cạnh nhau trên bục giảng.

Khóe môi hắn khẽ nhếch lên: “Là thứ khiến một cái bình cũ bán được giá đắt hơn một cái bình mới.”

Cả lớp lại rộ lên một trận cười.

Ở hàng ghế đầu, Từ Cẩn, một đệ tử khoác áo xanh, dáng vẻ đoan chính, được xưng tụng là học bá của Lịch Sử Học Cung quay đầu lại, không giấu nổi cái nhíu mày khinh khỉnh.

Chốn thanh tịnh nghiên cứu đại đạo, vậy mà mở miệng ra là buôn bán, tiền bạc.

Sặc mùi phàm tục.

Lâm Sơ Vũ ngồi cách đó không xa, nữ đệ tử nổi tiếng điềm tĩnh và giỏi lý luận nhất khóa, chỉ lặng lẽ xoay cây bút ngọc trong tay. Nàng liếc Quách Tuệ Lâm một cái rồi lại cúi xuống nhìn trang giấy trước mặt, tựa như đang cân nhắc xem câu vừa rồi rốt cuộc là ngẫu nhiên nói bậy, hay chỉ đơn thuần là... nói bậy có chút đạo lý.

Nghiêm Tử Hoài nhăn mặt.

Ông định cất giọng răn đe nhưng lời đến khóe môi lại khựng một nhịp.

Câu trả lời này thô bỉ, đầy mùi con buôn nhưng xét về mặt học thuật, nó lại chạm được chút da lông.

Một chút mà thôi.

“Ngôn từ lỗ mãng.” Ông trầm giọng: “Nhưng... vì sao cái bình cũ lại đắt hơn?”

Thấy không thoát được, Quách Tuệ Lâm lười biếng nhún vai: “Vì nó không chỉ là một nắm đất nung. Nó từng được ai đó cầm lên uống rượu, từng bị đặt ở xó xỉnh nào đó, từng chứng kiến một gia tộc suy vong hay một vương triều sụp đổ, từng sống sót ròng rã qua hàng trăm năm đao kiếm vô tình.”

Hắn ngừng một chút, dường như cảm thấy nói dài quá mệt, bèn rút gọn: “Kẻ bỏ tiền ra mua nó, không phải chỉ mua cái vỏ đất nung sứt mẻ mà là mua lịch sử tồn tại của nó. Cái dấu vết thời gian ấy, gọi theo lời giảng sư, chắc là Đạo Uẩn.”

Tiếng cười trong lớp nhỏ đi đôi chút.

Một vài đệ tử ngơ ngác nhìn nhau, cảm thấy câu này hình như có thể chép vào vở, nhưng lại sợ sau này mở ra đọc thấy quá sặc mùi chợ búa.

Từ Cẩn càng nhíu mày sâu hơn.

Lâm Sơ Vũ dừng bút trong chớp mắt, rồi lại tiếp tục ghi thêm mấy chữ nhỏ ở mép giấy.

Nghiêm Tử Hoài nhìn Tuệ Lâm một lúc, khẽ vuốt râu.

“Ý thì miễn cưỡng không sai.”

Mắt Quách Tuệ Lâm sáng rỡ lên.

“Vậy thưa giảng sư, đệ tử có thể ngồi xuống ngủ tiếp được chưa?”

“Không thể.”

Lời nói vô tình chặt đứt mọi hy vọng.

Nghiêm Tử Hoài chắp tay sau lưng, bước ra giữa bục, mượn luôn sự chú ý của cả lớp học để dẫn vào bài giảng trọng tâm.

“Thế gian tu hành muôn ngàn vạn nẻo nhưng tu luyện là quá trình chúng ta tiếp xúc, thấu hiểu, dung nạp và đồng hóa Đạo Uẩn. Vậy ai nói cho ta biết, vì cớ gì cảnh giới đầu tiên lại là Luyện Tâm?”

Từ Cẩn lập tức đứng dậy, lồng ngực ưỡn cao, trả lời một cách trôi chảy từng chữ theo đúng kinh thư viện quy: “Bẩm giảng sư, vì tâm trí con người vốn yếu đuối. Nếu tâm không vững thì khi tiếp xúc với Đạo Uẩn, chúng ta sẽ lập tức bị ký ức, oán niệm hay dục vọng của ngoại vật xâm chiếm, lay động nhận thức, từ đó tẩu hỏa nhập ma, mất đi bản ngã.”

“Tốt, đúng từng chữ trong sách.”

Nghiêm Tử Hoài gật đầu hài lòng, ra hiệu cho Từ Cẩn ngồi xuống.

Sau đó, ông lại phóng ánh mắt về góc lớp.

“Tuệ Lâm, ngươi nói đi.”

Bị gọi tên lần nữa, Tuệ Lâm thở dài thườn thượt. Cái dáng vẻ bất đắc dĩ của hắn khiến người ta có cảm giác như hắn vừa bị bắt vác cối đá lấp biển.

Hắn xoa xoa gáy, lầm bầm vài tiếng rồi mới uể oải nói: “Vì một người nếu đến cả bản thân mình muốn gì cũng không biết thì nhìn thấy cái gì cũng dễ lầm tưởng đó là đạo của mình.”

“Nói rõ hơn xem.”

Ánh mắt Nghiêm Tử Hoài vẫn nghiêm khắc như cũ, chỉ là giọng nói chậm lại một chút.

“Đơn giản thôi.”

Tuệ Lâm nhịp nhịp ngón tay lên mặt bàn gỗ: “Một kẻ trong lòng ôm mộng hám quyền tham danh lại vô tình nhặt được cổ vật của một vị đế vương, hắn sẽ bị cái vương uy còn sót lại trong đó dỗ dành, tự huyễn hoặc rằng mình sinh ra là chân mệnh thiên tử để thống trị thiên hạ.

Một kẻ hận đời thấu xương khi chạm vào một thanh đao rỉ nhuốm máu, hắn sẽ thấy sát ý trong đó hợp với lòng mình rồi lầm tưởng chém giết mới là chân lý tối thượng của đời người.

Lại có kẻ tham sống sợ chết vớ được di vật trường sinh, hắn ta có khi sẽ sung sướng mà quỳ rạp xuống làm nô lệ cho nó.”

Nói đến đây, Tuệ Lâm ngáp khẽ một cái, như thể chính hắn cũng thấy mình hơi dong dài.

“Cho nên Luyện Tâm thực chất là bước dọn đường. Trước khi ngồi xuống nghe quá khứ và lịch sử lải nhải vào tai, ít nhất chúng ta cũng phải biết đâu mới là giọng nói của chính mình.”

Minh Tâm Đường yên tĩnh hơn lúc trước.

Không phải kiểu tĩnh lặng vì chấn động.

Mà là kiểu yên tĩnh của một đám đệ tử đang cố gắng phân biệt xem câu vừa rồi rốt cuộc có nên ghi lại hay không?

Vài người ghi.

Vài người không ghi.

Từ Cẩn mím môi, ánh mắt càng thêm không phục. Hắn cảm thấy Quách Tuệ Lâm chỉ là dùng lời lẽ kỳ quặc để nói lại đạo lý trong sách, chẳng có gì đáng khoe khoang.

Lâm Sơ Vũ cúi mắt nhìn trang giấy trước mặt. Ở mép giấy, nàng viết thêm một dòng nhỏ: [Biết giọng nào là của mình.]

Viết xong, nàng lại bình thản gạch một nét bên cạnh, giống như chỉ là tùy tay ghi lại một câu có thể dùng được trong bài luận.

Nghiêm Tử Hoài đứng im một lát.... rồi ông khẽ thở dài.

“Tuệ Lâm, nếu ngươi chịu nghiêm túc hơn một chút, có lẽ thành tích cuối kỳ đã không nằm ở vị trí thứ ba từ dưới đếm lên.”

Tuệ Lâm tỉnh bơ đáp lời: “Bẩm giảng sư, đệ tử chỉ là đang cố gắng duy trì sự cân bằng của nhân sinh thôi. Ở đời, đứng cao quá... rất dễ bị sai vặt.”

Câu chốt hạ khiến cả lớp một lần nữa không nhịn được mà cười phá lên, sự căng thẳng nháy mắt tan biến.

Nghiêm Tử Hoài lắc đầu, bất lực quay lại với án thư.

Tiếng chuông tan học rốt cuộc cũng điểm.

Khắp các hành lang lát đá tảng, đệ tử ùa ra như ong vỡ tổ. Trần Khánh Băng lạch bạch chạy theo sát gót Quách Tuệ Lâm, khuôn mặt tròn xoe tưng bừng vẻ kích động.

“Quách huynh! Mấy câu vừa nãy ở Minh Tâm Đường cũng được lắm đó. Ít nhất đệ thấy Từ Cẩn tức đến xanh mặt.”

Tuệ Lâm hai tay đút trong ống tay áo, lững thững bước đi như một ông cụ non.

“Làm người khác tức giận cũng không đổi được cơm sườn túy kê.”

Trần Khánh Băng gãi đầu.

“Nhưng đệ thấy Nghiêm giảng sư có vẻ không giận huynh lắm.”

Nghe đến đây, bước chân Tuệ Lâm chợt khựng lại.

Khuôn mặt luôn nhởn nhơ của hắn bỗng trở nên nghiêm trọng lạ thường. Hắn quay sang nhìn Trần Khánh Băng bằng ánh mắt bi ai.

“Đó mới là chuyện khủng khiếp nhất trên đời, ngươi có hiểu không?”

Trần Khánh Băng chớp chớp mắt ngu ngơ.

Tuệ Lâm nghiến răng: “Ở cái Khải Minh Viện này, một khi giảng sư bắt đầu cảm thấy ngươi còn cứu được, vậy xin chúc mừng, ngươi đã đánh mất quyền lợi được yên ổn.”

Chưa dứt lời, từ phía cuối hành lang, một gã thư đồng bận áo xám hớt hải chạy vọt tới, thở hồng hộc chặn ngang đường hai người.

“Quách... Quách Tuệ Lâm! Nghiêm giảng sư có lệnh, lập tức gọi ngươi đến Chấp Sự Đường!”

Tuệ Lâm ngửa mặt lên nhìn bầu trời thu trong vắt, đôi mắt vô hồn nhắm nghiền lại. Hắn vỗ vỗ vai Trần Khánh Băng, cay đắng thốt lên: “Ngươi xem, báo ứng của kẻ lỡ mồm nó đến có nhanh không?”

Chấp Sự Đường là cái chốn mà mọi đệ tử Khải Minh Viện vừa thèm khát, vừa e dè thù hận.

Không gian bên trong đại đường sặc mùi gỗ mộc, mực đóng dấu và mồ hôi. Một tấm bảng nhiệm vụ khổng lồ dựng đứng giữa phòng. Hàng ngàn chiếc thẻ gỗ nhỏ xíu, khắc chi chít chữ, được treo thành từng hàng tăm tắp.

Đám đệ tử đang chen chúc trước bảng, người nhón chân, kẻ nghiêng đầu, có kẻ còn âm thầm dùng khuỷu tay chiếm vị trí tốt để tranh giành những nhiệm vụ ngon ăn nhất.

Từ khảo cổ di tích, chỉnh lý thư khố bám bụi, hộ tống học giả lẩm cẩm, cho đến việc dạy học ở địa phương hay đi ghi chép địa chí vùng sâu vùng xa.

Tất cả đều quy ra công trạng.

Ở Khải Minh Viện, công trạng chính là loại tiền tệ thứ hai, thậm chí có lúc còn quyền lực hơn cả vàng bạc.

Muốn mượn sách quý? Bỏ công trạng ra.

Muốn xin vào thư khố tầng sâu dưới lòng đất? Bỏ công trạng ra.

Muốn nghe các vị giảng sư uy vọng mở lớp dạy riêng? Cũng phải bằng công trạng.

Và quan trọng nhất, để có thể bình yên vượt qua kỳ bình xét cuối năm mà không bị gọi tên trước toàn viện, ngươi bắt buộc phải tích đủ định mức công trạng.

Quách Tuệ Lâm thì ôm chí hướng vĩ đại hơn nhiều.

Hắn không cần mượn sách quý, cũng chẳng thiết tha gì thư khố tầng sâu. Hắn chỉ muốn kiếm một nhiệm vụ quèn nào đó, tàng tàng cho xong chuyện, vơ vừa đủ số công trạng tối thiểu để bình an qua năm nay, tiếp tục kiếp sống của một con cá muối nằm thẳng chờ ăn.

Hắn chen vào góc bảng, nheo mắt lướt qua một lượt, ánh mắt bất chợt dừng lại ở một tấm thẻ gỗ hơi cũ.

[Thanh Hà Lục Thị cầu một vị tiên sinh tạm trú ba tháng. Nhiệm vụ: dạy con cháu gia tộc nhập môn cảnh giới Luyện Tâm, đồng thời hỗ trợ chỉnh lý thư khố cũ của gia tộc. Không yêu cầu chiến đấu.]

Mấy chữ “không yêu cầu chiến đấu” như phát ra hào quang chói lóa, đâm thẳng vào mắt Tuệ Lâm.

Hắn vui mừng khấp khởi, định bụng nhận nhiệm vụ này rồi cao chạy xa bay, không cần đối diện với Nghiêm Tử Hoài nữa.

Nào ngờ lúc hắn vừa đưa tay định giật lấy tấm thẻ, một bàn tay gầy guộc nhưng mạnh mẽ đã vươn ra, đè chặt lên mặt gỗ.

“Khoan đã.”

Nghiêm Tử Hoài không biết đã đứng ngay sau lưng hắn từ lúc nào. Sắc mặt vị giảng sư bình thản, giọng nói nhàn nhạt: “Nhiệm vụ này, vốn dĩ ta đã chọn sẵn cho ngươi.”

Sự cảnh giác trong lòng Tuệ Lâm lập tức réo lên liên hồi.

Hắn rụt tay lại, lùi một bước.

“Giảng sư, phàm là nhiệm vụ do các bề trên đích thân chọn sẵn thường có mùi của rắc rối.”

“Ngươi nghĩ ngợi quá nhiều rồi.”

Nghiêm Tử Hoài hừ lạnh, nhét cuốn hồ sơ nhiệm vụ vào tay hắn.

“Việc rất đơn giản. Xuống đó dạy vài đứa trẻ học vỡ lòng, đột phá Luyện Tâm, phủi bụi dọn dẹp vài cuốn sách nát rồi cắp bút viết một tờ báo cáo đem về nộp, chỉ thế thôi.”

Tuệ Lâm nuốt nước bọt.

“Nhiệm vụ nghe càng đơn giản, bên trong hố càng sâu.”

Hắn nhăn nhó mở hồ sơ ra lướt qua.

Gia tộc: Thanh Hà Lục Thị.

Địa điểm: Trấn Thanh Hà, nằm ven nhánh phụ của con sông lớn Giao Uẩn Hà.

Địa vị: Một gia tộc trung tầng đang trên đà suy yếu.

Yêu cầu: Dạy ba hậu bối đích tôn nhập môn Luyện Tâm.

Phụ việc: Chỉnh lý lại thư khố cũ kĩ không ai ngó ngàng.

Thời hạn: Ba tháng.

Còn về công trạng thì vừa khít để Quách Tuệ Lâm qua được kỳ bình xét năm nay. Đây quả thật là một đòn đánh chí mạng vào điểm yếu của kẻ lười.

Lòng kiên định “né việc” của Tuệ Lâm bắt đầu lung lay dữ dội. Hắn chần chừ ngẩng lên, nheo mắt nhìn Nghiêm Tử Hoài.

“Ngài cam đoan là không có nguy hiểm chứ?”

“Trên hồ sơ khảo sát của viện không hề có ghi chép gì về sự nguy hiểm tại Thanh Hà Lục Thị.” Nghiêm Tử Hoài nói rành rọt.

Tuệ Lâm nhìn chằm chằm vào mắt ông.

Sau một lát, hắn thở dài.

“Giảng sư à... ngài dạy sử mà ngài quên mất sao? Không có ghi chép và không có nguy hiểm hoàn toàn là hai phạm trù khác nhau.”

Nghiêm Tử Hoài khẽ khựng người.

Không phải vì kinh ngạc đến mức thất thần, mà vì câu này quả thật bắt đúng vào cái thói quen nghề nghiệp của Lịch Sử Học Cung: thứ không được ghi lại, đôi khi còn đáng để ý hơn thứ được ghi rõ ràng.

Nhưng chưa kịp để ông phản ứng, Tuệ Lâm đã tặc lưỡi, nhét luôn cuốn hồ sơ vào ngực áo, vẫy vẫy tay quay lưng bước đi.

Vừa đủ công trạng là được.

Dù sao cũng tốt hơn là bị lôi đi mổ xẻ di tích.

Tuệ Lâm lê cất bước rời khỏi Chấp Sự Đường, hắn rảo trên con đường mòn lót đá vụn trở về khu học xá, trời đã ngả bóng xế chiều.

Bóng những rặng trúc hai bên lối đi bị ánh tà dương kéo lê thê, in hằn những vệt đen ngoằn ngoèo lên nền đá nhám. Gió từ mặt hồ sen thổi lại, lùa qua hành lang hun hút, mang theo hơi sương lành lạnh. Mặt hồ loang lổ ráng vàng rực rỡ, nhưng sự rực rỡ ấy lại mang một vẻ tịch mạc khó tả.

Giữa khung cảnh u tịch ấy, xâu chuỗi trên cổ tay Tuệ Lâm bỗng nhiên lạnh hơn một chút.

Hắn cúi mắt nhìn thoáng qua.

Những hạt trầm hương đen tuyền vẫn nằm yên ở đó, lặng lẽ như một vật trang sức bình thường.

Tuệ Lâm nhíu mày, kéo tay áo phủ lên chuỗi hạt, rồi tiếp tục bước đi.

Đêm đó, trong gian phòng nhỏ của học xá, Quách Tuệ Lâm thắp nến đèn dầu, bắt đầu lúi húi thu dọn hành trang.

Hành lý cho chuyến đi ba tháng của hắn bày la liệt trên phản gỗ, trông chẳng có chút phong thái gì của một tu sĩ sắp xuống núi hành đạo. Vài bộ viện phục để thay đổi, vài quyển sách để... phòng khi kê bàn không bằng, một gói bánh khô mè xững để ăn đêm, một gói thuốc chống mất ngủ, đề phòng lạ chỗ, vài mảnh Tàn Tinh xỉn màu, thứ tiền lẻ của giới tu luyện dùng để phòng thân... và quan trọng nhất, một chiếc gối nhồi bông lụa cực kỳ mềm mại.

Tất nhiên, trên cổ tay hắn, xâu chuỗi vẫn yên vị ở đó, đen bóng và lặng lẽ, tỏa ra mùi trầm hương khiến hắn say mê.

Trần Khánh Băng đẩy cửa bước vào, xách theo một bầu rượu nhỏ coi như tiễn bạn. Nhìn cái đống hành lý trên phản, gã trố mắt.

“Quách huynh, huynh thật sự nhận nhiệm vụ đi dạy học đó hả?”

“Ừ, trông ta không giống tiên sinh sao?”

Tuệ Lâm ném cái gối vào tay nải, chật vật buộc lại.

Trần Khánh Băng nuốt nước bọt: “Huynh... huynh đã từng dạy người khác bao giờ chưa?”

“Chưa từng.” Tuệ Lâm thành thật đáp.

Trần Khánh Băng kinh hãi, kêu lên một tiếng thất thanh: “Trời đất quỷ thần ơi! Cả ngày huynh chỉ biết ngủ, đạo lý thì toàn nói ngược. Huynh không biết dạy, vậy huynh lặn lội đến Thanh Hà Lục Thị đó làm gì?”

Tuệ Lâm dừng tay.

Hắn vỗ vỗ lên mặt tay nải cho xẹp bớt, khuôn mặt bỗng nhiên toát lên một vẻ nghiêm túc đầy đạo mạo. Hắn nhìn thẳng vào mắt Trần Khánh Băng mà nói chậm rãi: “Ta đến đó là để truyền thụ cho bọn trẻ một kỹ năng sinh tồn vĩ đại nhất của nhân loại.”

Trần Khánh Băng ngơ ngác: “Kỹ năng gì?”

Tuệ Lâm đáp: “Học cách tự làm bài mà không phiền đến thầy.”

Trần Khánh Băng cạn lời, triệt để câm nín.

Trăng ngoài cửa sổ đang lên cao, gió mơn man lật tung những trang sách cũ trên án thư. Quách Tuệ Lâm thổi tắt ngọn nến, mỉm cười ôm cái tay nải chuẩn bị cho ba tháng nhàn hạ dạo chơi, ăn chực ngủ nhờ.

0
Ủng hộ tác giả Miên Nhân Vạn sự tùy duyên