Chương 4: Nhân gian vạn sự, khổ hải vô biên
Gió từ phương Bắc thổi về, lướt qua những rặng thông già cổ kính, phát ra những tiếng hú dài cô quạnh. Hoàng hôn buông xuống, nhuộm đỏ một vùng mây trời tịch mịch, khiến cho những ngôi bảo tháp bằng đá xám khoác lên mình một lớp áo huyết sắc thê lương.
Bình An đẩy cánh cửa gỗ khép hờ, bước vào bên trong nhà. Thân hình hắn gầy gò, khoác chiếc áo vải thô màu xám tro đã bạc màu ở hai bên vai, trên ống quần vẫn còn dính vài vệt bùn đất ẩm ướt chưa khô. Hắn đặt cây chổi tre thô kệch vào góc tường, động tác nhẹ nhàng, thong thả, phảng phất như gã thanh niên này chưa bao giờ biết đến khái niệm vội vã.
Nguyễn Dương nhìn thấy sắc mặt có phần nhợt nhạt của Bình An, thở dài, đẩy một chén nước trà thô qua, hỏi:
Làm tạp dịch ở Vệ tăng... con có thấy khổ không?"
Bình An bước tới, thản nhiên ngồi xuống chiếc ghế băng dài. Hắn bưng chén nước lên, uống một ngụm nước, sự ấm áp thấm vào cổ họng, xua đi phần nào sự mỏi mệt của cơ thể. Trên gương mặt , một nụ cười nhẹ nhàng thoáng hiện.
"Không khổ." Bình An khẽ lắc đầu, giọng nói trầm ổn và bình lặng như mặt hồ không gợn sóng.
Nguyễn Dương nhướng mày, có vẻ không tin: " Thanh Nghiêm là Giám tăng của Giới Luật Viện, nhưng tính tình của y ai cũng biết là lãnh khốc, nghiêm nghị bậc nhất. Hai năm qua, hắn không ít lần cố tình gây khó dễ cho con, bắt con làm những việc nặng nhọc nhất, phạt con đứng sám hối dưới mưa. Con thực sự không căm ghét hắn sao?"
Bình An nhìn làn khói mỏng bốc lên từ chén nước trà, đôi mắt hắn chợt trở nên sâu thẳm. Hắn khẽ nói:
"Con không ghét hắn. Cái khó mà Thanh Nghiêm mang lại cho con, chung quy cũng chỉ là một chút khổ nhọc về thân xác, một chút quy củ khắc nghiệt của cửa thiền mà thôi. Cái khó của hắn đối với con... chỉ là cái 'tiểu khó' trong ngàn khó vạn khó của thế gian này."
Nguyễn Dương ngẩn người.
Bình An im lặng, không giải thích thêm.
Tiếng chuông chùa vọng lại, trầm hùng mà xa xăm, vang vọng khắp sơn dã.
Dưới núi Yên Tử, thành Đại La nằm sừng sững qua hàng trăm năm bão táp.
Thành này dân cư đông đúc, hơn ba vạn người cùng chung sống dưới một vòm trời. Điểm đặc biệt nhất của Đại La là hơi thở Phật giáo thấm đẫm vào từng thớ đất, từng viên gạch. Từ bậc đại phú trưởng giả cho đến kẻ buôn thúng bán mẹt, từ cụ già tóc bạc phơ đến đứa trẻ mới biết đi, người người đều thành kính tin Phật, niệm Phật. Người phương xa tới đây, mười người thì hết chín người gọi nơi này bằng cái tên đầy tôn kính: Phật Đô.
Mỗi khi đến ngày Phật Đản, Phật Đô lại rũ bỏ vẻ trầm mặc, thanh tịnh thường ngày để khoác lên mình bộ áo hoa lệ, lộng lẫy nhất. Nhà nhà kết hoa, người dân tụ tập đông đúc, ngựa xe như nước, áo quần như nêm. Khói hương từ hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ quyện vào nhau, bốc lên tận chín tầng mây, biến cả thành Đại La thành một biển sáng bất dạ, lấp lánh và trang nghiêm đến cực điểm.
Thế nhưng, Phật có thể độ hóa chúng sinh, nhưng lại chẳng thể độ hết những bi kịch ái hận tình thù ẩn giấu trong lòng mỗi con người.
Thích Thanh Nghiêm, vị Giám tăng quyền lực của Giới Luật Viện ngày nay, thực chất lại xuất thân từ chính một góc tối nghèo khổ nhất của thành Đại La.
Năm xưa, hắn không phải là một cao tăng thanh cao, mà chỉ là con của một gia đình nghèo khó, ăn bữa đói bữa no. Thuở nhỏ, khi những đứa trẻ khác đang ê a học chữ ở tư thục, thì Thanh Nghiêm đã phải mang trên mình chiếc gùi tre thô suyển, theo cha lầm lũi bước lên những vách đá dựng đứng của núi Yên Tử.
Mùa đông Yên Tử lạnh thấu xương, đôi bàn tay nhỏ bé của đứa trẻ lên mười sớm đã chai sạn, rướm máu vì vết cứa của củi rừng. Hai cha con đốn củi, đốt thành than, rồi lại gùi những bao than nặng trĩu, đen nhẹm vào thành bán cho các gia đình giàu có. Công việc khó khăn vất vả, lấy thân xác đổi miếng ăn, vậy mà vẫn chẳng thể nào đủ. Cái nghèo như một bóng ma dai dẳng bám lấy số phận của hắn, khiến hắn tưởng như cuộc đời mình cũng sẽ đen tối và lụn bại như những khúc than mục kia.
Năm Thanh Nghiêm mười tuổi, một ngày cuối đông trời đổ mưa phùn giá rét, hắn lần đầu tiên được theo cha bước qua cánh cổng sơn son thếp vàng của Lý gia.
Chủ nhân của Lý gia là Lý Gia Huy – một vị thương nhân giàu có tiếng trong thành, chuyên buôn bán tơ lụa thượng hạng.
Thanh Nghiêm ôm bao than nhỏ lem luốc, cúi gục đầu nhìn mũi giày rách rưới của mình, bước từng bước rụt rè theo gia đinh hướng về phía nhà bếp ở sân sau. Hơi ấm từ lò sưởi và mùi thức ăn thơm phức thoảng qua sống mũi khiến cái bụng rỗng tuếch của đứa trẻ nghèo reo lên một tiếng thảm hại. Hắn cảm thấy tự ti, tủi nhục tột cùng, chỉ muốn bản thân biến mất ngay lập tức.
Chính vào khoảnh khắc tăm tối ấy, hắn vô tình ngước mắt lên.
Bên hiên nhà tràn ngập ánh nắng nhạt của ngày đông, một cô bé đang đứng đó. Đó là con gái út của Lý Gia Huy – Lý Hương Lan. Năm ấy, nàng cũng mới mười tuổi.
Trong ký ức nhuốm màu tro than của Thanh Nghiêm suốt cuộc đời này, khoảnh khắc đó tựa như một phép màu của Thần Phật. Nàng mặc một chiếc áo cánh màu cánh sen, khuôn mặt tròn trịa, đôi mắt trong veo không một gợn đục, xinh xắn và trong sáng như ánh trăng rằm treo trên đỉnh Yên Tử vào đêm trung thu.
Hương Lan nhìn thấy đứa trẻ gầy guộc, toàn thân lem luốc, đôi môi mím chặt vì lạnh và đói. Nàng không hề lộ ra vẻ ghê tởm hay khinh miệt như những tiểu thư đài các khác, trái lại, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu, trong mắt hiện lên một niềm trắc ẩn sâu sắc. Nàng quay người chạy vào trong bếp, lát sau trở ra, trên tay nâng một chiếc bánh bao trắng ngần, còn bốc khói nghi ngút.
Nàng bước đến trước mặt hắn, mỉm cười dịu dàng:
"Cho ngươi này. Cầm lấy ăn đi, còn nóng lắm."
Giọng nói của nàng thanh tao như tiếng khánh ngọc. Thanh Nghiêm ngơ ngác đón lấy. Sức ấm từ chiếc bánh bao truyền qua lòng bàn tay, thấm vào tận tâm can đang giá lạnh của hắn. Hắn cắn một miếng, vị ngọt của bột mì hòa cùng vị béo của nhân thịt tràn ngập khoang miệng.
Đó là cái bánh bao ngon nhất trên đời mà Thanh Nghiêm từng được ăn. Và cũng kể từ ngày hôm đó, giữa đứa trẻ đốt than nghèo khổ và vị tiểu thư lá ngọc cành vàng đã nhen nhóm một tình bạn kỳ lạ, trong sáng mà bền chặt.
Năm mười hai tuổi, biến cố gia đình ập đến, cha mất sớm, Thanh Nghiêm bơ vơ không nơi nương tựa. Duyên số đưa đẩy hắn gặp được sư phụ Thích Hoằng Pháp của Thiền Viện Trúc Lâm. Nhìn thấy căn cốt thanh tịnh, duyên trần tuy nặng nhưng có tuệ căn của đứa trẻ, đại sư đã thu nhận hắn làm đệ tử, dẫn dắt hắn bước vào cửa Phật.
Từ đó, thành Đại La bớt đi một đứa trẻ đốt than nghèo khổ, Chùa Yên Tử có thêm một vị tiểu hòa thượng ngày ngày gõ mõ tụng kinh.
Thế nhưng, cửa Phật tuy thanh tịnh, tiếng chuông chùa tuy có thể làm vơi đi phiền não, nhưng lại không cách nào xóa nhòa bóng hình ấy trong tâm trí Thanh Nghiêm.
Hắn và Hương Lan vẫn giữ mối quan hệ bạn tốt. Nàng thỉnh thoảng lại theo mẹ đến Chùa Yên Tử dâng hương, và mỗi lần như vậy, nàng đều tìm cách gặp hắn, mang cho hắn những cuốn kinh thư quý giá hay vài món quà nhỏ. Hương Lan càng lớn càng xinh đẹp, nét ngây thơ thuở nhỏ dần thay thế bằng vẻ thục mữ, đoan trang, dịu dàng như nước.
Trái tim của Thanh Nghiêm mặc dù sớm đã dậy sóng, tình cảm dành cho nàng tích tụ theo năm tháng lớn tựa đại hải, nhưng hắn là người xuất gia. Mỗi bận nhìn vào chiếc áo cà sa màu vàng sẫm trên người, nhìn vào những giới luật nghiêm khắc khắc trên vách đá Giới Luật Viện, hắn lại tự ép bản thân phải tỉnh mộng.
Hắn chưa bao giờ nói ra. Hắn chọn cách im lặng, chọn cách chôn sâu tình cảm ấy vào nơi đáy lòng tăm tối nhất, dùng kinh văn lạnh lẽo để đè nén, dùng tiếng mõ đêm khuya để tiêu trừ. Hắn thà chấp nhận bản thân chịu đựng sự dày vò của tình si, còn hơn làm ảnh hưởng đến danh dự của nàng.
Ngày Lý Hương Lan đi lấy chồng, kiệu hoa rước dâu đi vòng quanh thành Đại La, tiếng pháo nổ vang trời, náo nhiệt khôn cùng. Ngày hôm đó, Thanh Nghiêm không xuất hiện. Hắn quỳ trước tượng Phật Tổ trong đại điện suốt ba ngày ba đêm, gõ mõ đến mức bàn tay rớm máu, đôi mắt đỏ ngầu không rơi một giọt lệ. Hắn biết, sợi duyên trần duy nhất của mình đã đứt.
Sau biến cố đó, Thanh Nghiêm chủ động xin gia nhập Giới Luật Viện của Thiền Viện Trúc Lâm, trở thành một Giám tăng chấp chưởng thanh quy. Hắn dùng sự nghiêm khắc tuyệt đối đối với bản thân và đệ tử khác như một cách để trừng phạt tâm ma của chính mình.
Thành Đại La có rất nhiều Phật tự, nhưng Chùa Yên Tử mới là ngôi chùa lớn nhất, cổ kính nhất của thành, cũng là nơi diễn ra các sự kiện chính của Lễ Phật đản do Thiền Viện Trúc Lâm chủ trì.
Năm nay, mùa Phật đản lại đến. Theo thông lệ, các Giám tăng của Giới Luật Viện sẽ không tham gia vào việc tiếp đón bá tánh để tránh. Thế nhưng, Thanh Nghiêm lại phá lệ, xung phong làm Tiếp khách tăng – nhận việc đón tiếp, giảng giải Phật pháp cho bá tánh thập phương.
Các sư huynh đệ đều nghĩ hắn vì đại cuộc, vì muốn hoằng pháp lợi sinh. Nhưng không một ai biết được bí mật ích kỷ ẩn sau quyết định ấy của vị Giám tăng lạnh lùng.
Năm nào cũng vậy, hắn chấp nhận hạ mình làm Tiếp khách tăng, đứng ở nơi sơn môn ồn ào đầy bụi trần, chỉ để được nhìn thấy Hương Lan lẫn trong dòng người đi lễ chùa một lần. Hắn không cần nàng nhìn thấy hắn, không cần một lời chào hỏi, chỉ cần từ xa nhìn thấy dáng vẻ nàng vẫn bình an, biết được nàng vẫn sống tốt trên cuộc đời này, thì cái tâm vốn đã chết vì tình si của hắn mới có thể yên lòng thêm một năm.
Bình An làm tạp dịch ở Thiền Viện Trúc Lâm đã được hai năm.
Hai năm, một khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ để hắn quen thuộc với từng gốc cây, ngọn cỏ. Hắn cực kỳ điệu thấp bản thân, giống như một cái bóng mờ nhạt di chuyển giữa những điện thờ nguy nga. Năm nào vào dịp Phật Đản, hắn cũng bị phái đến chùa Yên Tử quét dọn khu vực xung quanh hồ phóng sinh phía sau chùa.
Và đây cũng là lần thứ hai, Bình An nhìn thấy một khung cảnh lặp lại.
Trong ngôi đình nhỏ bằng gỗ sưa đỏ nằm cạnh bờ hồ phóng sinh, những rặng trúc xanh rậm rạp bao bọc xung quanh, tạo nên một không gian biệt lập, thanh tịnh. Tại nơi đó, có hai bóng người đang ngồi đối diện nhau qua một chiếc bàn đá.
Một người là Thích Thanh Nghiêm, mình mặc tăng bào chỉnh tề, gương mặt nghiêm nghị, đôi mắt trong suốt như nước giếng cổ, tỏa ra phong thái của một bậc cao tăng đắc đạo. Người ngồi đối diện là một vị nữ thí chủ, dung nhan tuy đã có vết tích của thời gian nhưng vẫn vẹn nguyên nét thanh tú, sang trọng năm nào – chính là Lý Hương Lan. Bên cạnh nàng, một cô hầu gái nhỏ nhắn đang đứng khép nép, tay cầm bình trà gừng ấm áp.
Thanh Nghiêm nghiêm túc giảng giải kinh văn, giọng nói trầm ấm, đều đặn vang lên, hòa cùng tiếng gió rít qua rặng trúc:
"Thí chủ, Phật pháp vô biên, vạn sự trên đời đều tuân theo nhân quả. Tâm nếu không động, thì gió ngừng thổi, sóng ngừng lặng. Hết thảy đau khổ của nhân gian, chung quy đều do lòng người cố chấp mà ra..."
Lý Hương Lan hai tay chắp trước ngực, nghiêm túc lắng nghe từng lời của hắn. Ánh mắt nàng nhìn vị cao tăng trước mặt chứa đựng một sự thành kính và tin tưởng tuyệt đối. Nàng chỉ xem hắn là một người bạn thuở nhỏ nay đã thành bậc đại đức, một chỗ dựa tinh thần giúp nàng tìm lại sự thanh thản giữa những giông bão của cuộc đời phàm trần. Nàng hoàn toàn không biết, ẩn sau vẻ mặt nghiêm nghị kia là một trái tim đang rỉ máu, đang dùng hết nghị lực cả đời để kìm nén một con dã thú tình si.
Bình An đứng cách ngôi đình mười trượng, hai tay chống cán chổi tre, đôi mắt híp lại thành một đường chỉ nhỏ.
Khung cảnh ở ngôi đình kia mới tường hòa, thanh tịnh biết bao. Khói hương nhạt nhòa, tiếng gõ mõ xa xa, một vị tăng nghiêm túc giảng pháp, một nữ tử thành kính lắng nghe. Một bức tranh Phật môn hoàn hảo không một vết gợn.
Thế nhưng, nhìn thấy cảnh tượng ấy, khóe miệng Bình An lại bất giác nhếch lên, nở một nụ cười.
Đó là một nụ cười đầy ẩn ý mà chỉ mình hắn biết. Người ngoài nếu vô tình nhìn vào, có lẽ chỉ thấy nụ cười ấy nhẹ nhàng, ấm áp như gió xuân lướt qua mặt hồ vào buổi sớm.
Hắn đang cười cái gì? Cười vị Giám tăng mang danh thanh cao kia thực chất lại là kẻ nặng lòng trần thế? Hay cười người nữ tử tội nghiệp kia đang tìm kiếm sự giải thoát từ một kẻ bản thân còn chưa thể tự độ?
Có lẽ do cảm ứng được một ánh mắt dị thường phá vỡ bầu không khí tường hòa, Thích Thanh Nghiêm đang giảng kinh bất giác khựng lại. Đôi lông mày rậm của hắn khẽ nhíu, ánh mắt sắc bén như kiếm quang của Giới Luật Viện lập tức quét về phía bờ hồ phóng sinh.
Hắn ngẩng đầu lên, và bắt gặp ánh mắt của Bình An đang nhìn thẳng về phía mình.
Trong không trung, hai ánh mắt giao nhau ngắn ngủi một khoảnh khắc.
Bình An phản ứng cực nhanh. Thần sắc hắn lập tức thu liễm. Hắn nhanh chóng cúi đầu, tiếp tục lầm lũi đưa những nhát chổi quét dọn phần lá trúc rụng trên nền đá xanh.
Thanh Nghiêm thu hồi ánh mắt, lòng có chút nghi hoặc. Hắn niệm thầm một câu Phật hiệu, xua tan tạp niệm, rồi tiếp tục giảng kinh cho Hương Lan.
.......,
Phan Thành Đức – chồng của Lý Hương Lan – đang lảo đảo bước ra khỏi cánh cửa gỗ xộc xệch của một quán rượu nghèo nằm sâu trong ngõ tối. Gương mặt hắn đỏ gay vì men rượu, y phục xộc xệch nồng nặc mùi hôi hám, đôi mắt hằn lên những tia máu hung dữ và tuyệt vọng.
Gia cảnh nhà họ Phan vốn khá giả, cũng thuộc hàng có danh tiếng ở thành Đại La này. Nhưng vinh hoa phú quý đâu cưỡng lại được thói hư tật xấu. Thành Đức mắc phải chứng nghiện rượu và cờ bạc kinh niên. Ban đầu chỉ là vài quan tiền tiêu khiển, sau dần thành mười vạn, trăm vạn. Tài sản trong nhà, từ những bức tranh quý, những bình gốm cổ cho đến cả đất đai tổ tiên để lại, theo những trận say xỉn và những ván bài đỏ đen lần lượt đội nón ra đi, cho đến nay thì chẳng còn lại được bao nhiêu.
Lý gia sau vài lần đứng ra trả nợ giúp, thấy hắn vô phương cứu chữa, tính tình ngày càng bạo ngược, nên cũng đã tuyên bố tuyệt tình, cắt đứt hoàn toàn viện trợ kinh tế.
Càng rơi vào cảnh khốn khó, bị người đời khinh miệt, Phan Thành Đức lại càng uống rượu nhiều hơn để trốn tránh thực tại tàn nhẫn. Và mỗi lần say rượu, thứ duy nhất giúp hắn giải tỏa cơn uất hận, nhục nhã của một kẻ thất bại chính là bạo lực.
Hắn đánh vợ. Hắn trút vạn sự căm hờn lên thân xác của Lý Hương Lan – người con gái vốn là báu vật của Lý gia, người đã chấp nhận cùng hắn chịu khổ mà không một lời oán thán.
Thế nhưng, Phan Thành Đức lại là một kẻ cực kỳ thông minh và xảo quyệt trong sự điên cuồng của mình.
Hắn không bao giờ tát vào mặt, không bao giờ đánh vào những nơi dễ lộ ra ngoài như cổ hay bàn tay. Hắn dùng gậy tre quấn vải dày, hoặc dùng roi da quất vào lưng, vào bụng, vào đùi của Hương Lan – những nơi mà y phục thục nữ kín đáo có thể che giấu hoàn toàn trước mắt thế gian.
Chính vì thế, trước mặt người ngoài, Lý Hương Lan vẫn luôn giữ vẻ đoan trang, nhẫn nhục chịu đựng vì danh dự gia tộc và vì đạo nghĩa phu thê thời cổ đại. Không một ai trong thành Đại La này biết được, đằng sau bộ y phục lụa là sang trọng kia thực chất là một cơ thể chằng chịt những vết thương ngang dọc, xanh tím bầm dập đến đáng sợ. Nàng chịu đựng, cắn răng chịu đựng, và dùng việc lên chùa nghe kinh như một liều thuốc tê tạm thời để quên đi nỗi đau thể xác.
"Khốn kiếp... Toàn một lũ khinh thường ta! Lý gia các người... rồi sẽ có ngày ta bắt các người phải quỳ xuống cầu xin ta!"
Phan Thành Đức vừa đi vừa chửi đổng, tay quệt ngang dòng nước mũi, chân bước thấp bước cao bấu vào bức tường gạch loang lổ mốc meo của con hẻm nhỏ.
Đúng lúc này, từ trong bóng tối sâu thẳm của một khúc quanh, một đứa bé ăn xin gầy gò, quần áo rách rưới, toàn thân bốc mùi hôi hám đột ngột bước ra, chặn ngay trước lối đi của hắn.
Phan Thành Đức đang tâm trạng tồi tệ, thấy kẻ cản đường liền cáu bẳn, giơ chiếc chân run rẩy định đá mạnh:
"Cút ra chỗ khác! Thằng ranh con bẩn thỉu, muốn chết đầu thai sớm à?"
Đứa bé ăn xin sợ hãi né người lùi lại một bước, nhưng hai bàn tay gầy gộc như củi khô của nó vẫn run rẩy giơ ra một phong thư bằng giấy bản màu vàng xỉn, giọng nói lí nhí như muỗi kêu vì sợ hãi:
"Thưa... thưa đại gia, có một vị đại ca đưa cho con một quan tiền, bảo con phải trao tận tay lá thư này cho ngài. Nói là... liên quan đến đại ân nhân của ngài."
Phan Thành Đức khựng lại, chiếc chân định đá ra thu về. Hắn giật lấy bức thư, mở ra đọc nội dung trong đó. Qua chốc lát, hai tay của hắn run rẩy, đôi mắt long lên sòng sọc, vẻ nghiến răng nghiến lợi.
Đúng lúc này từ đằng xa chợt vang đến tiếng chuông chùa từ bi, tĩnh mịch.
Nhân gian vạn sự, khổ hải vô biên...
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.