Chương 3: Vệ tăng
Một năm này, Nguyễn Bình An đã tròn mười ba tuổi.
Đứa trẻ thoi thóp giữa đống xác chết đêm mưa năm nào, nay đã trưởng thành thành một thiếu niên có dáng người thanh mảnh nhưng thẳng tắp như ngọn tùng non trước bão. Nước da hắn trắng trẻo, khí chất thanh khiết như ngọc thạch lộ diện sau lớp đá thô được gọt giũa. Đôi mắt hắn đen lánh, sâu thẳm hệt như màn đêm đại ngàn, và dị tướng nốt ruồi son giữa trán ngày càng đỏ thắm, rực rỡ như một đốm lửa bồ đề, ẩn hiện một loại tuệ căn vô thượng.
Một buổi chiều tà, khi ánh hoàng hôn vàng vọt như mật đắng trải dài trên những phiến đá xanh cổ kính, Nguyễn Dương bước vào phòng thiền. Gương mặt chữ điền của vị Vệ trưởng Đội vệ tăng thứ nhất hằn sâu những vết chân chim của sự lo toan.
Ông lặng lẽ đặt lên chiếc bàn gỗ một cuốn sách bọc bằng da trâu cũ kỹ, góc sách đã sờn rách theo năm tháng, trên mặt bìa viết ba chữ lớn bằng mực tàu: Luật Tạng Thư.
"Bình An, con cầm lấy cuốn Luật Thư này, trong vòng ba ngày phải học thuộc lòng toàn bộ." - Nguyễn Dương trầm giọng, ánh mắt nhìn đệ tử đầy vẻ nghiêm nghị nhưng ẩn chứa sự lo lắng sâu sắc.
Bình An hơi nghiêng đầu, điểm son giữa trán khẽ động. Hắn lễ phép chắp tay: "Sư phụ, đây là..."
"Đây chính là giới luật của Thiền Tự Trúc Lâm mà tất cả đệ tử, dù xuất gia hay tục gia, đều phải tuân theo như tính mạng." Nguyễn Dương thở dài, ngồi xuống chiếc ghế đối diện. "Con năm nay đã mười ba tuổi. Theo quy định của Thiền Tự từ trăm năm qua, đệ tử được nuôi nấng trong chùa đến tuổi này, nếu không xuống tóc xuất gia làm tăng nhân chân chính, thì bắt buộc phải xuống núi gia nhập vào đội ngũ Vệ tăng để làm tạp dịch, rèn luyện thân tâm."
Ông dừng lại một chút, thanh âm có chút nặng nề:
"Con là do một tay ta nuôi lớn, thân phận có chút đặc biệt, các vị trưởng lão trong Giới Luật Đường và các vị Giám tăng đều đang chú ý đến con. Học thuộc cuốn sách này đi, lỡ như các trưởng bối có hỏi tới, con còn biết đường mà đối đáp, tránh rước phải phiền phức vào người."
Bình An lặng lẽ đón lấy cuốn Luật Thư, những ngón tay thon dài, thanh mảnh vuốt nhẹ qua lớp da trâu sần sùi. Hắn biết ngày này rồi sẽ đến. Thiền Tự Trúc Lâm là chốn từ bi nhưng quy củ nghiêm minh, không nuôi dưỡng những kẻ ăn bám. Dẫu cho hắn có là kỳ tài trăm năm khó gặp đi chăng nữa, thì quy củ vẫn là quy củ.
Nguyễn Dương nhìn đệ tử, chậm rãi giải thích về thế cục bên trong bổn môn, điều mà trước đây ông luôn giấu kín:
"Thiền Tự Trúc Lâm chúng ta tuy là chốn thanh tu, nhưng đứng giữa thời đại đại loạn này, nếu không có lực lượng vũ trang hộ pháp thì chánh điện đã sớm bị ngọn lửa chiến tranh thiêu rụi. Vì thế, Thiền Tự thành lập ra tám đội Vệ tăng, mỗi đội có nhân số đông đảo lên đến hàng ngàn người, đóng giữ ở các vị trí hiểm yếu, chia nhau bảo vệ toàn bộ địa giới và bá tánh xung quanh vùng Yên Tử."
Nguyễn Dương chỉ tay ra ngoài cửa sổ, hướng về phía đỉnh núi cao nhất đang chìm vào sương lạnh:
"Trong tám đội, chỉ có Đội vệ tăng thứ nhất của ta là tinh nhuệ nhất, gồm những cao thủ tuyển chọn gắt gao, đóng giữ ngay tại núi Yên Tử để trực tiếp bảo vệ Thiền Tự Trúc Lâm và các vị đại đức cao tăng. Đứng đầu mỗi một đội Vệ tăng là một Vệ trưởng như ta, chịu trách nhiệm huấn luyện và tác chiến. Tuy nhiên, quyền lực trong Vệ tăng không hoàn toàn thuộc về Vệ trưởng. Bên cạnh chúng ta luôn có một vị Giám tăng. Giám tăng là những người xuất gia chân chính, mang danh đại diện cho Giới Luật Đường của chùa, chịu trách nhiệm giám sát hành vi, tư tưởng và việc chấp hành giới luật của toàn bộ Vệ tăng."
Sắc mặt Nguyễn Dương chợt trở nên vô cùng nghiêm túc, ông nhìn thẳng vào mắt Bình An, dặn dò bằng giọng cực kỳ nghiêm khắc:
"Bình An, ngày mai con sẽ xuống danh sách làm tạp dịch tại Đội vệ tăng. Ta dặn con, khi đến đó làm việc thì phải cẩn thận mười phần, mắt thấy tai nghe nhưng lòng phải giữ chặt. Đa số Vệ tăng trong các đội, kể cả Đội thứ nhất, đều là đệ tử tục gia. Họ chưa cắt đứt hồng trần, tâm tính của bọn họ vô cùng phức tạp, vẫn còn tham luyến tục thế sâu sắc. Thói hư tật xấu, tranh giành đấu đá, rượu thịt lén lút đều có đủ. Ta không muốn con, một đứa trẻ có Phật tính thuần khiết, lại nhiễm phải những thói hư tật xấu, bụi bặm dơ bẩn của bọn họ."
Nghe những lời dặn dò đầy ruột gan của sư phụ, Bình An không hề tỏ ra hoang mang hay sợ hãi. Hắn nhìn cuốn Luật Thư trong tay, rồi lại ngước gương mặt tú lệ lên nhìn Nguyễn Dương.
Một nụ cười nhẹ nhàng, thoang thoảng như mây khói xuất hiện trên môi vị thiếu niên mười ba tuổi. Nụ cười ấy không có sự ngạo mạn, cũng không có sự ngây ngô, mà nó chứa đựng một loại định lực, một loại thấu hiểu sâu xa.
Bình An chắp hai tay trước ngực, giọng nói thanh thoát, bình thản nhưng từng chữ lọt vào tai Nguyễn Dương lại như tiếng sấm rền giữa trời quang:
"Sư phụ lo lắng cho con, con xin ghi lòng tạc dạ. Nhưng con lại nghĩ khác. Nếu như không bước vào hồng trần, làm sao biết được chúng sinh khổ? Nếu chỉ ngồi trong phòng thiền ngắm nhìn tượng Phật, thì cái khổ của thế gian chỉ là những dòng chữ vô hồn trên giấy mà thôi."
Nguyễn Dương chấn động thân mình, đôi mắt trợn to nhìn đệ tử.
Bình An đứng dậy, bước đến bên bực cửa sổ, bóng lưng thiếu niên dẫu nhỏ nhắn nhưng lúc này lại hòa cùng bóng tối của đại ngàn, toát ra một vẻ cô liêu, vĩ đại lạ thường. Hắn tiếp tục nói, điểm son giữa trán dưới ánh đèn đỏ chót như một giọt máu tươi:
"Không nhìn thấy trăng tròn, làm sao biết được trăng khuyết? Bản tâm của con người nếu chưa từng đi qua chỗ tối tăm, làm sao biết trân trọng ánh sáng? Lại nói, một người tu hành nếu chưa từng cầm lên thanh đao, thì làm sao biết thế nào là thật sự buông bỏ? hai chữ 'buông bỏ' mà chúng ta hay nói ngoài miệng chẳng qua chỉ là lời nói dối lòng đầy bất lực."
Hắn quay đầu lại, ánh mắt trong vắt nhìn sâu vào tâm can của vị Vệ trưởng phong trần:
"Chính vì Vệ tăng là nơi đầy bụi bặm, đầy tham luyến tục thế, nên đó mới là đạo trường tốt nhất của con. Chỉ có đi vào hồng trần mà không nhuốm bụi trần, ở trong bùn lầy mà vẫn giữ được đóa sen tâm minh bản tánh, mới biết được đường tu hành thật sự là gì. Nếu không, chúng ta suốt ngày chỉ biết nói pháp trên môi, giảng kinh luận đạo cho hay, nhưng đến khi đối mặt với máu chảy, với lòng tham và cái chết lại không biết hành pháp như thế nào, thì làm sao có thể đắc đạo, làm sao có thể cứu độ chúng sinh?"
Uỳnh!
Một tiếng sấm muộn từ phía chân trời xa xăm bỗng vang lên, vọng vào phòng thiền.
Nguyễn Dương đứng chết lặng tại chỗ, hai tay ông run rẩy, chuỗi tràng hạt trên tay phát ra những tiếng lách cách liên hồi. Lời nói của một đứa trẻ mười ba tuổi giống như một lưỡi dao sắc bén, rạch toạc bức màn nhung bấy lâu nay ông dùng để che chở cho hắn.
Ông muốn bảo vệ hắn khỏi bụi bặm thế gian, nhưng hắn lại muốn lấy chính thân mình làm ngọn đèn dầu đi vào bóng tối. Câu nói "Chưa từng cầm lên đao, làm sao biết buông bỏ" và "Nói pháp không bằng hành pháp" của Bình An đập thẳng vào nhận thức học Phật mấy mươi năm của Nguyễn Dương, khiến ông rơi vào một trạng thái trăn trở, bàng hoàng tột độ. Ông không thể phản bác, bởi vì những lời ấy... chính là đại lý luận của Phật giáo thượng thừa, là con đường mà các vị Tổ sư năm xưa đã từng đi qua để chứng đạo.
Bình An cúi đầu lạy Nguyễn Dương một lạy dài, rồi ôm cuốn Luật Thư lẳng lặng lui ra ngoài, để lại một mình vị Vệ trưởng đứng im lìm trong bóng tối đang dần nuốt chửng phòng thiền.
Sáng hôm sau, sương mù chưa tan, Nguyễn Bình An đã có mặt tại doanh trại của Đội vệ tăng thứ nhất, nằm ở sườn phía Tây của núi Yên Tử.
Nơi đây hoàn toàn khác biệt với sự yên tĩnh, trang nghiêm của thiền tự phía trên đỉnh núi. Đây là một quần thể kiến trúc rộng lớn được bao quanh bằng những bức tường đá kiên cố. Ngay từ sáng sớm, tiếng hô vang trời dậy đất đã làm rung chuyển cả núi rừng.
“Hự! Cáp! Sát!”
Trên sân tập rộng lớn bằng đất nện, hàng trăm gã đàn ông lực lưỡng mình trần, mồ hôi nhễ nhại đang điên cuồng vung đao luyện tập. Những lưỡi giới đao bằng thép sáng loáng chém vào không khí phát ra những tiếng vù vù xé gió. Sát khí, chiến ý và mùi mồ hôi nồng nặc bốc lên cuồn cuộn.
Đúng như Nguyễn Dương đã nói, đa số Vệ tăng ở đây là đệ tử tục gia. Trên người họ nhuộm đầy khí tức của người trong giang hồ.
Bình An mặc một bộ quần áo vải thô màu xám tro dành cho kẻ làm tạp dịch, tay cầm một chiếc chổi tre lớn, lẳng lặng bước đến góc sân bắt đầu quét dọn những chiếc lá tùng rụng. Thân hình nhỏ nhắn, gương mặt thanh tú và đặc biệt là điểm son giữa trán của hắn lập tức thu hút sự chú ý của không ít người.
Chiếc chổi tre trong tay hắn đưa đi đều đặn, mỗi nhịp quét đều tương ứng với một nhịp thở sâu của Trúc Lâm Thiền Định Tâm Pháp. Hắn không nhìn những kẻ đang chế giễu mình, nhưng đôi mắt hắn lại đang âm thầm quan sát những đường đao, thế quyền của các Vệ tăng trên sân.
Hắn nhìn ra được, bộ Kim Cương Sơ Quyền hay Trúc Lâm Đao Pháp của những người này tuy mạnh mẽ, sát thương lớn, nhưng do tâm tính họ nóng nảy, tham luyến quá nhiều, nên chiêu thức đầy rẫy những sơ hở chết người. Họ luyện võ để giết người, chứ không phải để hộ pháp. Đó chính là cái khổ của sự chấp niệm vào sức mạnh trần tục.
Công việc tạp dịch của Bình An vô cùng nặng nhọc. Hắn phải dậy từ canh tư để gánh nước từ suối ngàn lên đổ đầy các vạc lớn trong bếp, sau đó quét dọn toàn bộ sân tập, lau chùi binh khí và dọn dẹp phòng thiền của các tăng nhân.
Đến giờ Ngọ, khi các Vệ tăng đang ngồi ăn cơm đại chúng tại nhà ăn, một bóng dáng cao lớn, mặc áo cà sa màu vàng sậm bước vào. Người này gầy gò, gương mặt dài, đôi mắt hí dài hẹp luôn lóe lên những tia nhìn sắc lẹm, lạnh lùng hệt như một con chim ưng đang săn mồi.
Đó là Đại đức Thích Thanh Nghiêm, Giám tăng của Đội vệ tăng thứ nhất, người do Giới Luật Đường trực tiếp phái xuống.
Thanh Nghiêm bước đi không một tiếng động, tràng hạt bằng đá đen trên tay ngài khẽ xoay đều. Ngài đi thẳng đến chỗ Bình An đang ngồi lẳng lặng ăn một bát cơm trắng với rau muống luộc ở góc nhà ăn.
Cạch.
Thanh Nghiêm dừng bước trước mặt Bình An, uy áp của một vị cao thủ vô hình trung tỏa ra, khiến các Vệ tăng xung quanh đang ồn ào bỗng chốc im bặt, không ai dám ho khan một tiếng.
Bình An đặt bát cơm xuống, đứng dậy chắp tay cúi đầu: "Tạp dịch Nguyễn Bình An, bái kiến Giám tăng đại sư."
Thanh Nghiêm nhìn chằm chằm vào điểm son giữa trán của Bình An, đôi mắt hí nheo lại, giọng nói khàn khàn, sắc lạnh vang lên:
"Quy củ của Vệ tăng cực kỳ nghiêm ngặt. Con hãy đọc thuộc lòng điều thứ chín mươi chín trong Luật Thư về tội danh 'Tục gia đệ tử tư thông ngoại đạo, sát sanh hại mạng' và hình phạt tương ứng cho ta nghe. Nếu sai một chữ, phạt gánh nước mười ngày, roi mây mười hạ!" - Thanh Nghiêm lạnh lùng quát.
Các Vệ tăng xung quanh đều nín thở, trong lòng thầm nghĩ tiểu tử này tiêu đời rồi. Điều thứ chín mươi chín nằm ở cuối cuốn Luật Thư, từ ngữ Phạn - Nôm đan xen vô cùng rắc rối, người bình thường phải mất cả tháng mới nhớ nổi, một đứa trẻ mới vào làm tạp dịch một ngày làm sao thuộc được? Họ biết rõ, Giám tăng Thanh Nghiêm vốn có hiềm khích và bất đồng quan điểm về cách quản lý Vệ tăng với Vệ trưởng Nguyễn Dương.
Thế nhưng, Bình An vẫn đứng đó, sắc mặt không một chút thay đổi. Điểm son giữa trán hắn khẽ chuyển động dưới ánh nắng chiếu qua khe cửa, ánh mắt hắn lanh lợi và sâu thẳm nhìn thẳng vào Giám tăng Thanh Nghiêm.
Hắn chắp hai tay làm phật lễ, giọng nói thanh thoát, vang dội khắp nhà ăn, không sai một nhịp:
"Thưa Giám tăng, điều thứ chín mươi chín của Luật Thư viết: 'Tục gia đệ tử thân mang bổn môn võ học, nếu tâm sinh tà niệm, tư thông với các môn phái ngoại đạo như Bát Đao Môn, Thiên Kiếm Môn... làm tổn hại đến lợi ích của chúng sinh và Thiền Tự, hoặc tự ý sát sanh hại mạng kẻ vô tội vì tư oán, thì coi như phạm vào đại giới phá môn'."
Bình An không cần nhìn vào cuốn sách, hắn đọc rành rọt, trôi chảy như nước chảy mây trôi:
"Hình phạt tương ứng: Phế bỏ toàn bộ tu vi nội công, đoạn tuyệt gân tay gân chân, trục xuất khỏi địa giới Yên Tử vĩnh viễn, không bao giờ được phép quay lại. Nếu gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, Giới Luật Đường có quyền thi hành quy chế 'Sát độ', do Vệ tăng trực tiếp chấp pháp, thiêu xác thành tro để tạ tội với chư Phật."
Tĩnh mịch.
Toàn bộ nhà ăn im phăng phắc đến mức một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Giám tăng Thanh Nghiêm đứng chết lặng, đôi mắt hí trợn to, bàn tay cầm tràng hạt khựng lại giữa không trung. Ngài không thể ngờ được, một đứa trẻ mười ba tuổi, mới nhận Luật Thư vài ngày, lại có thể đọc thuộc lòng một cách chính xác, không sai lệch.
Bình An mỉm cười nhẹ nhàng, nụ cười rạng rỡ như ánh nắng xuân.
Đêm hôm đó, trăng tròn như chiếc đĩa bạc khổng lồ treo lơ lửng trên đỉnh Yên Tử, rọi những luồng ánh sáng lạnh lẽo xuống sân thiền thất.
Nguyễn Dương ngồi một mình bên bàn đá, trong đầu ông, câu nói của Bình An cứ lặp đi lặp lại như một tiếng chuông đánh liên hồi vào tâm thức:
“Chưa từng cầm lên đao, làm sao biết buông bỏ?... Nói pháp không hành pháp, làm sao đắc đạo?”
Nguyễn Dương chợt nhận ra, Bình An - đứa trẻ này tựa như một ngọn đèn dầu trong đêm tối, nó không sợ bóng tối, bởi vì nó muốn dùng chính ánh sáng trí tuệ của mình để đi xuyên qua bóng tối, tìm ra con đường cứu độ chân chính.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.