Thời Không Thần Thể

Chương 1: Kí Hiệu Vô Cực Dưới Đáy Vực

Đăng: 01/07/2026 14:27 3,446 từ 4 lượt đọc

Ầm!

Một tiếng nổ trầm đục vang vọng giữa màn đêm. Phía trên Hóa Thi Giản, bầu trời đột nhiên nứt ra một khe hở dài hơn mười trượng. Không gian vặn vẹo như mặt gương bị ai đó dùng búa đập mạnh. Từng tia sáng màu bạc xoắn quanh mép nứt, chiếu sáng cả một vùng sương xám bên dưới.

Đám quạ đen đang đậu trên xương thú bị kinh động, vỗ cánh bay tán loạn. Trong những khe đá tối om, vài con Quỷ Diện Thử vừa ló đầu ra kiếm ăn cũng lập tức rụt trở về, chỉ để lại mấy tiếng chít chít rất nhỏ giữa lớp sương độc.

Cảnh tượng ấy chỉ tồn tại trong chớp mắt. Ngay sau đó, một thân ảnh từ trong khe hở rơi thẳng xuống.

Bịch!

Đống phế liệu dưới đáy vực bị hất tung. Mảnh pháp khí gãy, xương thú mục nát cùng bùn đen bắn ra khắp nơi. Máu tươi nhanh chóng nhuộm đỏ một khoảng đất. Gió đêm thổi qua, mang theo mùi xác thối và chướng khí đặc quánh khiến người ta buồn nôn.

Dưới chân một vách đá cách đó không xa, một lão già áo xám chậm rãi ngẩng đầu. Trường bào trên người lão đã rách nát, từng mảng máu khô chồng lên máu mới. Tay trái buông thõng vô lực, năm đầu ngón tay cháy đen gần hết. Mỗi lần hít thở, lồng ngực lão đều phát ra tiếng khò khè nặng nề như có cát đá cọ xát bên trong.

Ánh mắt lão dừng lại nơi khe nứt vừa khép kín. Rất lâu sau, lão mới khàn giọng lẩm bẩm: “Không ngờ… vẫn còn…”

Lão chống tay lên vách đá, từng bước đi về phía đống phế liệu. Giữa đống rác chất cao như núi là một thiếu niên đang nằm bất tỉnh. Nhìn qua chỉ khoảng mười ba tuổi, trên người mặc bộ quần áo kỳ lạ mà lão chưa từng thấy ở Đông Hoang.

Lão đứng bên cạnh thiếu niên, thần thức yếu ớt quét qua một lượt, hàng mày hơi nhíu lại. Tạp linh căn, phàm thể. Bình thường đến mức không thể bình thường hơn. Nhưng một kẻ như vậy lại từ trong khe nứt không gian rơi xuống mà chưa chết; bản thân chuyện đó đã là điều bất thường nhất.

Lão nhìn thiếu niên thêm vài hơi thở, khóe miệng khẽ nhếch lên, không rõ là cười hay vì vết thương quá đau: “Rơi xuống đâu không rơi… lại rơi đúng Hóa Thi Giản.”

Lão ho khan hai tiếng, máu rỉ ra nơi khóe miệng, giọng thấp đến gần như bị màn sương nuốt mất: “Tiểu tử, tự cầu nhiều phúc vào.”

Nói xong, lão xoay người bước vào màn sương độc dày đặc. Chẳng mấy chốc, bóng dáng đã hoàn toàn biến mất.

Thiếu niên ấy là Trần Mặc.

Khi hắn tỉnh lại, trời đã sáng. Thứ đầu tiên hắn ngửi thấy không phải mùi đất, mà là mùi xác chết. Đầu óc đau như muốn nứt ra, cả người gần như không còn chút sức lực nào. Hắn cố chống tay ngồi dậy, vừa nhấc đầu đã nôn khan liên tục, cổ họng khô rát như bị ai nhét một nắm tro nóng vào.

Đúng lúc ấy, phía xa truyền tới tiếng bánh xe gỗ lăn trên nền đá. Một thanh niên lực lưỡng đang kéo xe phế liệu đi ngang qua. Hắn nhìn thấy Trần Mặc thì khựng lại, ánh mắt đảo qua vết máu trên đất, lại nhìn thiếu niên đang chống tay thở dốc: “Ơ? Còn sống à?”

Không đợi Trần Mặc trả lời, thanh niên đã bước tới, ngồi xổm xuống xem xét một lúc rồi gãi đầu: “May thật. Ta còn tưởng hôm nay lại phải kéo thêm một cái xác.” Nói xong, hắn lấy từ trong ngực ra nửa cái bánh khô, nhét vào tay Trần Mặc: “Ăn đi. Ăn xong còn có sức mà sống.”

Hôm đó, Triệu Đại Hổ dẫn Trần Mặc trở về khu tạp dịch. Không ai hỏi hắn đến từ đâu. Ở Hóa Thi Giản, mỗi ngày đều có người bị ném xuống, cũng có người chết đi. Một đứa trẻ còn sống không phải chuyện đáng để tò mò. Người nơi này quan tâm nhiều hơn đến việc hôm nay có đào được thứ gì đổi lấy cơm, hay tối nay gió độc có thổi vào lều hay không.

Châu Đại Quản Sự chỉ liếc hắn một cái, ném tới một bộ áo xám đã giặt đến bạc màu cùng một chiếc thẻ gỗ: “Muốn ăn thì làm. Ngày mai đi theo đội nhặt phế liệu.”

Kể từ hôm ấy, Trần Mặc ở lại Hóa Thi Giản. Mùa xuân đến rồi đi, mùa hạ cũng qua. Chiếc áo của thế giới cũ dần rách nát rồi biến mất. Đôi bàn tay non nớt phủ kín những vết chai. Mùi xác chết từ chỗ khiến hắn nôn mửa trở thành thứ quen thuộc mỗi ngày. Xe chở xác vẫn đều đặn lăn xuống Hóa Thi Giản; có người mới tới, có người biến mất.

Triệu Đại Hổ vẫn thỉnh thoảng bẻ nửa cái bánh khô đưa cho hắn như ngày đầu tiên. Sau này xe phế liệu của Đại Hổ gãy trục mấy lần, cũng đều là Trần Mặc lặng lẽ giúp hắn sửa lại. Hai người không nói nhiều chuyện nghĩa khí. Ở nơi này, một người chịu chia bánh, một người chịu vá bánh xe, vậy đã tính là giao tình không cạn.

Có những người mất ba năm để bước vào con đường tu tiên. Trần Mặc dùng ba năm… chỉ để học cách sống sót ở Hóa Thi Giản.

Cạch.

Móc sắt cắm xuống lớp bùn đen, bẩy lên một mảnh giáp đã mục nát cùng vài khúc xương vụn.

Trần Mặc cúi người nhặt lấy, dùng móng tay cạo nhẹ lớp gỉ xanh bám trên mép rồi tiện tay ném vào chiếc sọt bên trái: “Đồng thường. Cân cả sọt cũng chưa chắc đổi nổi một viên linh sa.”

Bên cạnh hắn có ba cái sọt cũ. Một sọt chứa kim loại vụn, một sọt chứa xương yêu thú, sọt còn lại chuyên để những món hắn chưa xác định được công dụng: mảnh ngọc có hoa văn, đá vụn không nhiễm độc, mảnh xương có vết khắc, hoặc những thứ không có linh khí nhưng cũng không giống rác thường. Ba năm ở Hóa Thi Giản đã khiến hắn hình thành thói quen ấy. Thứ gì không biết rõ, trước tiên đừng vội ném. Có nhiều món nhìn như rác, nhưng chỉ cần gặp đúng người, nó có thể đổi được mấy chục linh tinh, thậm chí nửa viên linh sa. Ở Hóa Thi Giản, nửa viên linh sa đủ mua hai ngày bánh thô.

Hắn không đào từ giữa đống phế liệu xuống như những tạp dịch mới tới, mà đào từ mép ngoài vào trong, từng lớp một. Làm vậy chậm hơn, nhưng ít làm vỡ bình ngọc, phù chú hoặc những thứ giòn mỏng bị chôn bên dưới. Lúc mới tới Hóa Thi Giản, hắn từng tận mắt thấy một gã tạp dịch dùng cuốc bổ thẳng xuống đống rác, kết quả đập nát một bình đan còn sót nửa viên đan dược.

Lão Tôn lúc đó chỉ nhìn mảnh bình vỡ rồi nói một câu: “Một cuốc này, ngươi bổ mất nửa năm tiền công.”

Từ hôm ấy, Trần Mặc không bao giờ dùng cuốc. Một tạp dịch bình thường ở đây, nếu không bị thương, không nhiễm độc, cũng không bị quản sự trừ phần, một tháng may mắn lắm mới dư được bảy tám viên linh sa. Nửa năm tiền công đối với người trên núi có lẽ chẳng đáng gì, nhưng với người dưới Hóa Thi Giản, đó là áo bông mùa đông, thuốc giải độc khi bị Quỷ Diện Thử cắn hoặc cứu nguy lúc ốm đau không làm việc được.

Trần Mặc mặc một bộ áo xám đã vá nhiều chỗ. Mười đầu ngón tay đầy vết chai, mu bàn tay còn lưu lại vài vết bỏng cũ do hỏa độc ăn mòn. Vẻ non nớt của thiếu niên mười sáu tuổi gần như đã bị Hóa Thi Giản mài mất, chỉ còn lại sự bình tĩnh không hợp tuổi. Trong mắt người khác, hắn chỉ là một tạp dịch bình thường của Hàn Sơn Tông; một kẻ tạp linh căn, phàm thể, ba năm vẫn quanh quẩn dưới đáy Hóa Thi Giản.

Ít nhất, trong mắt người khác là như vậy.

“Vẫn chưa chịu nghỉ à?”

Một giọng nói vang lên phía sau. Không cần quay đầu, Trần Mặc cũng biết người tới là ai.

Triệu Đại Hổ đặt sọt củi xuống đất, vừa thở vừa xoa vai. Gã cao lớn hơn Trần Mặc gần một cái đầu, thân hình lực lưỡng, da mặt bị nắng và chướng khí hun đến hơi ngăm. Ở Hóa Thi Giản, người như Đại Hổ không hiếm, nhưng một người đã ở đây vài năm mà vẫn chịu chia bánh cho người khác thì rất hiếm.

Trần Mặc tiếp tục dùng móc sắt lật đống phế liệu trước mặt: “Còn sớm.”

Đại Hổ ngồi phịch xuống tảng đá bên cạnh, móc trong ngực ra nửa cái bánh khô, bẻ một miếng bỏ vào miệng: “Hôm nay được gì chưa?”

“Một thanh kiếm gãy.”

“Còn linh khí không?”

“Không.”

“Vậy chỉ bán sắt vụn.” Đại Hổ nhai bánh, giọng hơi tiếc. “Còn gì nữa?”

“Ba cái bát.”

“Còn dùng được không?”

“Nứt hết rồi.”

“Thế giữ làm gì?”

Trần Mặc dùng móc sắt khều từ dưới lớp bùn lên một cái đầu lâu đã nứt mất nửa bên, phủi bụi rồi đặt sang một bên: “Còn cái này.”

Đại Hổ nhìn chằm chằm vài giây, miếng bánh trong miệng suýt rơi ra. Gã cầm cành cây chọc nhẹ vào cái đầu lâu một cái: “Huynh đệ, nếu còn sống thì chớp mắt.”

Trần Mặc liếc hắn. Đại Hổ ho khan một tiếng, thu cành cây lại: “Đừng nói với ta ngươi định đem thứ đó đi bán.”

“Nếu có người mua.”

“Đầu lâu ai mua?”

“Tà tu, người luyện cốt, mấy gã học trận âm sát. Hóa Thi Giản có bao giờ thiếu người mua thứ kỳ quái đâu?”

Đại Hổ nghẹn một lúc. Hắn nhìn cái đầu lâu, lại nhìn Trần Mặc, cuối cùng dịch người ra xa thêm nửa thước: “Ta hỏi để biết ngươi có kiếm được tiền không, không phải để xem ngươi đào mộ.” Gã chỉ vào cái đầu lâu, vẻ mặt nghiêm túc hiếm thấy. “Cất xa ra, nhìn nó cười với ta kìa.”

“Nó không cười.”

“Ta thấy nó cười.”

“Vậy ngươi nhìn ít thôi.”

Đại Hổ im lặng một lát rồi bật cười. Hắn nhét nửa cái bánh còn lại vào tay Trần Mặc: “Ăn đi. Ta thấy hôm nay ngươi đói quá rồi.”

Trần Mặc nhận lấy, không khách sáo. Bánh đã cứng, nhai trong miệng khô khốc, nhưng ít nhất có thể lót bụng.

Phía xa xa, tiếng bánh xe gỗ chậm rãi vọng tới.

Ken két… Ken két…

Triệu Đại Hổ quay đầu nhìn lên con đường núi ngoằn ngoèo phía trên. Ba chiếc xe gỗ cũ kỹ đang từ từ lăn xuống. Trên xe phủ vải bố, nhưng vài cánh tay tái nhợt vẫn thò ra ngoài theo nhịp rung lắc. Hai tạp dịch đẩy xe đi phía sau, một người vừa đi vừa mắng nhỏ vì bánh xe mắc vào khe đá: “Nặng thật.”

“Người chết, đứa nào chả nặng.”

Câu nói ấy trôi qua rất nhẹ, như một chuyện bình thường đến mức chẳng ai buồn để tâm. Ở Hóa Thi Giản, xe chở xác gần như ngày nào cũng có.

Đại Hổ nhai chậm lại: “Lại thiếu người rồi.”

Trần Mặc không ngẩng đầu. Ba năm qua, hắn đã nhìn thấy quá nhiều cảnh tượng như vậy. Ngoại môn, tạp dịch, thậm chí cả vài đệ tử nội môn xui xẻo. Có người chết trong miệng yêu thú, có người chết vì tranh một món tài nguyên, cũng có người chỉ vì đắc tội một kẻ không nên đắc tội.

Một cơn gió thổi qua, tấm vải trên chiếc xe gần nhất bị hất lên một góc, để lộ khuôn mặt của một thiếu niên khoảng mười lăm tuổi. Hai mắt hắn vẫn mở, trên cổ là một vết kiếm sâu gần như cắt đứt yết hầu.

Đại Hổ nhìn thấy thì hơi khựng lại: “Ta biết thằng nhóc này.”

Trần Mặc liếc qua: “Bạn ngươi?”

“Không hẳn. Hôm trước ở phường thị, hắn hỏi ta chỗ nào bán rượu rẻ. Còn bảo tháng sau kiếm đủ linh sa sẽ mua Tụ Khí Đan lỗi.” Nói đến đây, gã im lặng một lát rồi nhổ một bãi nước bọt xuống đất: “Tháng sau chưa tới.”

Trần Mặc thu hồi ánh mắt. Người chết ở Hàn Sơn Tông không đáng tiền, người sống mới đáng tiền. Muốn sống thì cần linh sa, cần đan dược, cần công pháp, cần một cái áo dày hơn khi trời lạnh và một gói thuốc giải độc khi bị Quỷ Diện Thử cắn. Đại Hổ từng nói năm mươi linh sa có thể mua được một viên Tụ Khí Đan lỗi. Loại đan ấy còn kém hạ phẩm rất xa, đan độc cũng nặng, uống vào chưa chắc giúp người ta đột phá, nhưng đủ để vô số tạp dịch cúi đầu đào rác suốt mấy tháng. Với người có linh căn kém, đó không hẳn là cơ duyên; chỉ là một lần đánh cược.

Xe chở xác dần biến mất trong màn sương xám. Đại Hổ đứng dậy, vác sọt củi lên lưng: “Ta sang phía Đông xem thử. Hôm qua nghe nói có người ném xuống một đoạn Linh Hỏa Mộc.”

Trần Mặc ngẩng đầu: “Lớn không?”

“Không rõ. Nếu chỉ còn chút hỏa tính, gặp đúng người có thể đổi được nửa viên linh sa. Nếu là khúc lớn chưa cháy hết, may ra hai ba viên.”

“Vậy không chỉ mình ngươi nghe thấy đâu.”

“Biết chứ.” Đại Hổ cười hì hì, vỗ vỗ sọt củi sau lưng. “Cho nên ta mới đi sớm. Nhặt được thì ăn bánh mềm hai ngày. Nhặt không được thì coi như đi dạo.”

“Cẩn thận khu đất mềm.”

“Biết rồi.”

Đại Hổ đi được vài bước lại quay đầu: “À, tối nay đừng ra ngoài.”

Trần Mặc dừng tay: “Sao?”

“Đêm qua có người thấy Quỷ Diện Thử gần khu lều phía Tây. Con này nhỏ thôi, nhưng cắn bẩn lắm. Mã Lục lần trước bị cắn, sưng chân nửa tháng, vừa đi vừa chửi như cha chết.”

Trần Mặc gật đầu: “Ta biết.”

Đại Hổ nhìn hắn một cái, thấy hắn nghe thật mới yên tâm rời đi. Gã biết tính Trần Mặc. Người này ít nói, nhưng lời nên nghe thì thường nghe. Còn lời không nên nghe, có nói rách miệng cũng vô dụng.

Màn sương ngày càng dày. Chẳng mấy chốc, quanh khu phế liệu chỉ còn lại một mình Trần Mặc.

Móc sắt trong tay hắn vẫn đều đặn lật từng lớp bùn đen. Mồ hôi theo cằm nhỏ xuống đất. Lưng áo đã ướt đẫm, nhưng động tác không hề chậm lại. Ba năm nay, hắn gần như đã đào qua từng tấc đất ở khu vực này. Không ít người nói hắn điên; nếu thật sự có bảo vật, từ lâu đã bị người khác lấy mất.

Nhưng Trần Mặc vẫn kiên trì. Không phải vì hắn tin mình có khí vận hơn người, mà vì muốn tìm vật phẩm có manh mối lúc hắn bị dịch chuyển đến đây. Hắn không biết mình còn có thể tìm được gì, chỉ là không tìm, thì thật sự chẳng còn gì để chờ.

Mặt trời dần khuất sau biển mây. Ánh sáng cuối cùng lặng lẽ rút khỏi Hóa Thi Giản. Ngay lúc Trần Mặc chuẩn bị thu dọn đồ đạc trở về, móc sắt trong tay bỗng va phải thứ gì đó.

Kịch.

Âm thanh rất nhẹ. Không giống kim loại, cũng không giống xương cốt.

Ba năm đào bới trong đống phế liệu khiến Trần Mặc quá quen với những âm thanh như vậy. Thứ bên dưới mềm hơn một chút, giống như một vật bị chôn vùi quá lâu dưới lớp bùn đen. Khu đất này vốn không thể đào sâu. Bên dưới chồng tầng tầng lớp lớp phế liệu, đá vụn, xương mục và bùn độc tích lại qua nhiều năm.

Nhưng trận mưa độc xối xả kéo dài suốt cả tháng qua đã làm sạt lở một góc vách đá, gián tiếp lật ngược một phần lớp đất đá bị vùi kín từ ba năm trước lên bề mặt. Nếu không có trận mưa ấy, dù hắn đào thêm ba năm nữa cũng chưa chắc chạm tới.

Hắn không vội đưa tay xuống. Trước tiên, Trần Mặc dùng móc sắt gạt lớp tro xỉ sang hai bên, lại dùng một mảnh gỗ khô chọc nhẹ vài cái. Không có độc trùng bò ra, cũng không có linh khí dao động. Chờ thêm vài hơi thở, hắn mới ngồi xổm xuống.

Một góc vải cũ kỹ dần lộ ra. Màu lam. Dưới lớp bụi bẩn và chướng khí ăn mòn, màu sắc vốn có gần như không còn rõ. Nếu đổi thành người khác, có lẽ đã tiện tay ném sang một bên.

Nhưng Trần Mặc khựng lại. Một cảm giác lạnh mảnh bò dọc sống lưng. Hắn từng thấy màu lam này. Trong căn phòng thí nghiệm cũ, ngay trước khi tiếng còi cảnh báo xé rách màn đêm, trước khi ánh sáng trắng nuốt chửng tất cả.

Trần Mặc nhìn quanh một vòng. Màn sương xám che kín không gian bốn phía, không thấy bóng người. Nhưng hắn vẫn không lập tức cầm túi lên. Hóa Thi Giản dạy hắn một đạo lý rất đơn giản: Thứ kỳ lạ không nhất định là cơ duyên, cũng có thể là thứ lấy mạng.

Hắn dùng móc sắt kéo chiếc túi ra ngoài. Chiếc túi không lớn, chỉ bằng hai bàn tay chụm lại. Trên bề mặt không có linh quang, cũng không có trận văn. Nhìn qua chẳng khác gì một món đồ bỏ đi lẫn trong đống rác. Nhưng cảm giác quen thuộc trong lòng lại càng lúc càng rõ.

Trần Mặc nhìn nó hồi lâu rồi nhét vào trong sọt, phủ thêm một lớp sắt vụn lên trên. Trời đã tối. Màn sương độc bắt đầu dày. Bất kể thứ này là gì, nơi thích hợp để xem xét chắc chắn không phải giữa Hóa Thi Giản.

Khi trở về căn lều gỗ, trời đã hoàn toàn đen. Hắn khóa cửa như thường lệ, dùng một thanh sắt gãy chèn ngang phía sau, lại cúi xuống kiểm tra khe dưới chân giường một lần. Sau khi chắc chắn không có dấu chân lạ, hắn mới ngồi xuống trước bàn.

Ngọn đèn dầu được thắp lên. Ánh lửa vàng nhạt lay động trong gió, hắt bóng hắn lên vách gỗ. Trần Mặc lấy chiếc túi từ trong sọt ra, đặt lên mặt bàn. Lần này hắn nhìn kỹ hơn.

Dưới ánh đèn, lớp bụi bẩn trên mặt túi dường như mỏng hơn lúc ban ngày. Hắn dùng tay áo lau nhẹ một cái. Một lớp bụi rơi xuống. Rồi thêm một lớp nữa. Cho tới khi một ký hiệu bằng chỉ bạc chậm rãi hiện ra dưới ánh sáng leo lét.

Ngón tay Trần Mặc dừng lại trên mặt túi. Trong căn lều nhỏ, tiếng gió ngoài khe cửa bỗng trở nên rất xa. Hắn nhìn ký hiệu ấy rất lâu, lâu đến mức ngọn đèn dầu khẽ nổ tách một tiếng, hắn mới chậm rãi siết chặt tay.

Ba năm. Suốt ba năm qua, đây là lần đầu tiên hắn tìm thấy một thứ thuộc về thế giới cũ. Ký ức về căn phòng thí nghiệm lạnh lẽo, bóng lưng cha mẹ, tiếng còi cảnh báo và luồng sáng trắng cuối cùng cùng lúc ùa về.

Không ồn ào, không dữ dội như sấm sét, mà lạnh và sâu, giống như có người chậm rãi mở lại một cánh cửa hắn đã cố đóng kín suốt ba năm.

Trần Mặc cúi đầu, nhìn dấu hiệu vô cực bằng chỉ bạc. Một lúc lâu sau, hắn khàn giọng nói rất nhỏ: “Ta tìm thấy rồi.”


0
Ủng hộ tác giả Bút Hết Mực Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.