Tiêu Tà Sứ

Chương 1: Oán

Đăng: 12/05/2026 16:15 4,750 từ 6 lượt đọc
Người ta thường lầm tưởng ma quỷ sinh ra từ những tầng sâu thẳm của địa ngục. Nhưng sự thật, hạt giống của mọi tai ương đều được gieo mầm ngay tại nhân giới, nảy nở từ một thứ cặn bã vô hình mang tên: Oán.

Oán không phải là phép thuật. Nó tựa chất dịch nhầy nhụa tiết ra từ những khát vọng thầm kín bị kìm nén, từ sự đố kỵ rỉ máu, từ cái nghèo đói túng quẫn bóp nghẹt nhân tính, và từ những nỗi uất ức không thể cất thành lời. Ở cái cõi người chật chội này, Oán khí bốc lên mỗi ngày, lẩn khuất dưới những mái nhà dột nát, bám vào kẽ nứt của những bức tường rêu phong, sinh sôi nảy nở trong những đêm dài không ngủ. Khi Oán tích tụ đủ lâu, đủ dày, nó sẽ kéo những linh hồn vương vất quy tụ lại, tước đoạt đi lý trí của chúng, nhào nặn chúng thành những thứ dị dạng thèm khát máu thịt người sống.

Và đêm nay, cái mùi tanh tưởi của Oán khí đang đặc quánh lại, bao trùm lấy một vùng quê nghèo xác xơ ở vùng châu thổ.

Đó là những năm tháng của thời kỳ bao cấp, khi cái đói vẫn còn hằn in trên từng nếp nhăn của người nông dân. Cơn bão số bốn ập đến từ chập tối, mang theo những luồng gió giật liên hồi như muốn xé toạc bầu trời. Mưa không rơi thành giọt, mà trút xuống như hàng vạn mũi giáo nước quất rin rít vào những mái ngói âm dương xộc xệch. Tiếng sấm rền vang, ì ùng lăn trên những ngọn đồi xa rồi nổ tung ngay trên đỉnh đầu, làm rung bần bật những nan tre mục nát.

Xung quanh đình làng, những rặng tre ngà mọc thành bụi lớn đang oằn mình sát xuống mặt bùn lõm bõm. Tiếng bẹ tre cọ xát vào nhau kêu cót két, cọt kẹt, nghe rợn người như tiếng nghiến răng của những bộ xương khô. Bóng tối đặc quánh nuốt chửng lấy ngôi làng. Điện lưới chập chờn nay đã chết hẳn. Điều đáng sợ nhất không phải là tiếng gió rít, mà là sự im ắng dị thường từ bầy chó cỏ thường ngày vẫn hay sủa càn. Cả xóm giềng như một nấm mồ tập thể khổng lồ đang bị ngâm sũng trong bùn lầy.

Rầm! Rầm! Rầm!

Tiếng đập cửa thô bạo, vội vã vang lên, xé rách sự u tịch của ngôi nhà gạch ba gian nằm trơ trọi nơi Xóm Miễu.

"Thầy Tứ! Thầy Tứ ơi! Mở cửa cứu nhà con với! Thầy Tứ!"

Tiếng gào khản đặc của một người đàn bà lọt thỏm giữa tiếng gió rít, nghe thê lương như tiếng chim lợn kêu rỉ rả trong đêm.

Bên trong nhà, một ngọn đèn Hoa Kỳ leo lét được thắp lên, hắt cái bóng gầy gò, xiêu vẹo của một người đàn ông lên vách tường trình bằng đất trộn rơm. Thầy Tứ - ông thầy pháp duy nhất của cái làng này - làu bàu nhổ toẹt bã trầu xuống nền đất ẩm, khoác vội chiếc áo tơi lá cọ rồi lạch cạch tháo thanh chốt cửa bằng gỗ chò.

Cánh cửa gỗ long xệch bật mở. Gió thốc vào mang theo hơi nước lạnh buốt, suýt nữa thổi tắt ngọn đèn dầu.

Đứng dưới mái hiên dột nước tỏng tỏng là bà Mùi, người đàn bà góa chồng ở Xóm Vạn Đò mới chuyển lên bờ được vài năm. Trông bà ta lúc này chẳng khác nào một xác chết trôi. Tấm áo mưa nilon mỏng dính rách bươm dính chặt vào da thịt, phô ra thân hình gầy nhom. Tóc bà ta bết lại, xõa xượi che khuất nửa khuôn mặt trắng bệch. Hai tay bà bấu chặt lấy bậu cửa, những móng tay cáu bẩn cào mạnh vào gỗ đến bật máu, ánh mắt mở trừng trừng vằn lên những tia đỏ quạch vì kinh hãi.

"Nó... nó lại lên cơn rồi thầy ơi! Cái Liên..." Giọng bà Mùi vỡ vụn, nấc nghẹn, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập không rõ vì cái rét cắt da cắt thịt hay vì nỗi sợ tột cùng. "Thầy sang cứu con bé... Lần này... nó không nói tiếng người nữa thầy ơi!"

Thầy Tứ cau mày, đưa ngọn đèn dầu lên soi rõ khuôn mặt tái dại của người đàn bà. Ông biết cái Liên. Đứa con gái mười sáu tuổi của bà Mùi vốn có tính khí lầm lì, ít nói. Khoảng nửa tháng nay, con bé thỉnh thoảng lại có biểu hiện lạ, đêm ngủ hay nói mớ, ban ngày thì ngồi thẫn thờ bứt tóc. Vài ngày trước, bà Mùi có mang qua cho ông nải chuối sáp và ba bơ gạo, nhờ ông sang cúng dâng sao giải hạn. Ban đầu, ông chỉ nghĩ con bé đi làm đồng về khuya, bị hơi lạnh nhập vào người, hoặc cùng lắm là có một vong hồn vất vưởng nào đó ở khúc sông trêu chọc.

Ông vốn chẳng phải là pháp sư cao tay hay truyền nhân của thế gia vọng tộc nào. Mớ kiến thức ông có được chỉ là vài câu kinh học lỏm từ một ông đạo sĩ già giang hồ thời kháng chiến, cộng thêm một chút nhạy cảm bẩm sinh với âm khí để dọa ma mấy mụ buôn đồng nát. Nhưng ở cái làng khỉ ho cò gáy này, ông đã là chỗ dựa tâm linh duy nhất.

"Chị cứ bình tĩnh." Thầy Tứ trầm giọng, cố giữ vẻ uy nghiêm. "Hôm trước tôi dán bùa trước cửa buồng nó rồi cơ mà? Cắn răng lại, nói cho rõ ràng xem nào. Nó làm sao?"

Bà Mùi trượt khụy xuống, ôm lấy bắp chân gầy guộc của thầy Tứ, khóc nấc lên từng hồi cơ hồ đứt ruột đứt gan:

"Cái bùa... cháy thành tro rồi thầy ơi! Con bé... nó cười the thé... mắt nó lật ngược hết lên... Nó cào nát cả mặt nó... Con ôm nó bị nó hất văng... Nó đang... đang nhai sống con gà trống tơ..."

Đồng tử thầy Tứ đột ngột co rúp lại. Bàn tay đang cầm ngọn đèn dầu khẽ run lên một nhịp.

Ông hít một hơi thật sâu. Không khí lùa vào phổi lạnh ngắt. Giữa cái mùi ngái ngái của hơi đất sau mưa, mùi tanh của nước sông dâng cao, thính giác tâm linh của ông lờ mờ đánh hơi thấy một thứ áp suất vô hình đang rỉ ra từ phía cuối xóm, nương theo chiều gió bão mà thổi ngược về phía này. Đó là một mùi tanh tưởi buồn nôn — thứ mùi của thịt rữa và rêu phong ứ đọng.

Hơn hai mươi năm hành nghề cúng bái vặt vãnh, đây là lần đầu tiên ông cảm nhận được luồng khí tức nặng nề đến thế. Nó không phải là thứ Oán Linh ất ơ chết đuối bám theo hơi người sống nữa. Thứ đang ngự trị trong nhà bà Mùi lúc này đã ngưng tụ oán khí đến mức kết thành thực thể hữu hình, đủ sức xâm phạm trực tiếp vào nhục thân người sống, đủ sức bóp nát bùa chú bảo mệnh. Nó là một con Ma thực thụ — một cái hố đen của những cảm xúc tiêu cực đang khát máu.

Chó trong làng nãy giờ không sủa một tiếng nào. Bọn chúng không phải đang ngủ, mà đang thu mình rên rỉ dưới gầm giường, bị áp chế bởi bản năng sinh tồn trước một kẻ săn mồi ở cõi âm.

Thầy Tứ chép miệng, xoay người bước nhanh về phía bàn thờ tổ. Ông biết chuyện này đã vượt quá tầm kiểm soát của những lá bùa giấy dỏm. Ông luống cuống bật tung nắp chiếc rương gỗ nhỏ đóng đầy mạng nhện, vội vã lôi ra một túi vải bạt sờn rách. Bên trong túi là một nén nhang đen sì, một chuôi kiếm bằng gỗ đào đã xỉn màu, và quan trọng nhất — một chuỗi tiền đồng cổ đã ngả màu xanh rì, một món "Thần Cụ" cấp thấp hiếm hoi mà ông mót được từ thời trẻ, bên trong vẫn còn lưu luyến chút linh khí yếu ớt của một vị thần địa phương nào đó.

Chỉ cần thứ này còn, cái mạng già của lão may ra còn có cơ hội giữ.

"Đứng lên đi!" Thầy Tứ xốc chiếc túi vải lên vai, tay với lấy chiếc nón lá tơi tả đội lên đầu. Ngọn đèn Hoa Kỳ bị ông thổi tắt phụt. Trong bóng tối, đôi mắt già nua của người thầy pháp làng ánh lên một sự kiên định pha lẫn một chút sợ hãi khó giấu. "Dẫn đường!"

Đoạn đường đất nện từ nhà thầy Tứ sang Xóm Vạn Đò chưa đầy nửa cây số, nhưng đêm nay nó đặc quánh sình lầy, rỉ ra thứ hơi lạnh thấu xương thấu tủy như một nẻo đường dẫn thẳng xuống hoàng tuyền.

Bà Mùi lầm lũi đi trước, đôi bàn chân trần ngập sâu xuống lớp bùn đặc quánh. Bà vấp ngã chúi dụi mấy bận, hai đầu gối rớm máu lẫn sình lầy nhưng vẫn lồm cồm bò dậy trối chết chạy về phía trước. Theo sát gót, thầy Tứ hóp bụng lại, một tay giữ rịt chiếc nón lá tơi tả trên đầu để nó khỏi bay mất, tay kia cầm chiếc đèn pin vỏ nhôm đít đỏ. Thứ ánh sáng vàng khè, yếuớt của bóng đèn sợi đốt chỉ đủ rạch một đường mờ mịt, chập chờn xuyên qua màn mưa dày đặc.

Càng tiến gần đến ngôi nhà cấp bốn lợp ngói phi-bờ-rô xi-măng của bà Mùi, bước chân của thầy Tứ càng trở nên nặng trĩu. Không phải vì bùn lầy kéo ghì đôi dép cao su đúc, mà là do một thứ áp suất vô hình đang nén chặt lấy lồng ngực ông. Nó giống hệt như cảm giác lặn xuống một đáy giếng sâu hoắm ngập ngụa rêu phong. Tiếng gió rít và tiếng mưa quất vào mái tôn xung quanh dường như bị một bức tường âm thanh vô hình làm cho méo mó, nghèn nghẹt đi. Lỗ chân lông trên sống lưng ông đồng loạt dựng đứng.

Ngôi nhà tối om, lọt thỏm giữa khu vườn um tùm những gốc chuối tiêu rách bươm lá. Cánh cửa gỗ lim lùa chệch bản lề đang hé mở bằng nửa thân người, đung đưa theo từng đợt gió tạo ra tiếng cót két khô khốc, nghe như tiếng mài dao trên đá ráp.

Thầy Tứ ra hiệu cho bà Mùi đứng lùi lại phía sau lưng mình. Ông thò tay vào túi vải bạt, nắm chặt lấy chuỗi tiền đồng cổ lạnh ngắt, rồi hít một hơi dài, lách người bước qua bậc thềm xâm xấp nước mưa.

Mũi ông lập tức bị dội một gáo nước lạnh bởi thứ mùi hôi thối xộc thẳng vào xoang mũi. Không chỉ có mùi ngai ngái của bùn đất, gian nhà giữa sực lên thứ mùi tanh lợm giọng của máu tươi hòa lẫn với mùi amoniac khai nồng của nước tiểu.

Ông lia luồng ánh sáng vàng khè của chiếc đèn pin quét một vòng quanh gian nhà chính. Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến dạ dày người thầy pháp già quặn thắt lại. Bàn thờ gia tiên bị lật tung, bát hương vỡ nát văng tung tóe dưới nền gạch hoa xỉn màu. Tro nhang và máu tươi hòa quyện thành những vệt bôi trát nham nhở dính đầy trên các bức tường. Khắp sàn nhà vương vãi những nhúm lông đỏ tía và vài mẩu nội tạng bèo nhèo của con gà trống tơ.

Răng... rắc...

Một âm thanh khô khốc, rin rít vang lên từ phía góc khuất trên nóc chiếc tủ chè gỗ mít. Âm thanh của những khớp xương bị bẻ gãy, nhai nát cọ xát vào nhau.

Thầy Tứ nuốt khan, yết hầu già nua trượt lên trượt xuống khó nhọc. Bàn tay nổi đầy gân xanh run lẩy bẩy, chậm chạp hướng luồng sáng yếu ớt của chiếc đèn pin lên cao. Ánh đèn chớp giật vài cái trước khi soi rọi trúng một thân hình đang đậu chót vót trên nóc tủ, sát với xà gồ mái nhà.

Đó là cái Liên. Hay đúng hơn, là thứ gì đó đang dùng thể xác của cái Liên như một bộ quần áo chật chội.

Con bé không ngồi, cũng chẳng phải quỳ. Nó đang bám trên nóc tủ bằng một tư thế vặn vẹo, gãy gập như một con nhện khổng lồ bị người ta dẫm nát. Hai đầu gối nó bẻ gập ngược ra phía sau như khớp chân của loài châu chấu, mười ngón tay gầy guộc tứa máu bấu ngập vào lớp gỗ cứng của chiếc tủ chè. Mái tóc đen bết dính máu và nước mưa, rũ rượi che khuất phân nửa khuôn mặt, từng lọn vắt vẻo gớm ghiếc như những con đỉa no máu.

Trong bóng tối nhờ nhợt, nó đang dùng hai tay ôm chặt lấy cái xác con gà trống tơ chỉ còn một nửa, đưa lên miệng cắn xé. Máu tươi đen ngòm chảy ròng ròng từ khóe miệng, nhỏ từng giọt tí tách xuống nền gạch. Nó nhai sống cả xương lẫn thịt vỡ vụn trong khoang miệng nhỏ bé.

"Liên..." Bà Mùi đứng lấp ló ngoài cửa, thấy cảnh tượng đó không kìm được tiếng nấc nghẹn ngào, định lao vào.

"Đứng im!" Thầy Tứ quát khẽ, giọng rít qua kẽ răng. Ông biết thứ trên nóc tủ kia đã hoàn toàn nuốt chửng lý trí của con bé.

Dường như nghe thấy tiếng người, sinh vật trên nóc tủ ngừng nhai. Nó từ từ quay đầu lại. Cái cổ vặn xoắn một góc hơn một trăm tám mươi độ, phát ra những tiếng sụn kêu lạo xạo gai người. Qua kẽ tóc lưa thưa, thầy Tứ nhìn thấy một khuôn mặt nhợt nhạt, chi chít những vết cào rách tươm do chính móng tay nó tự xé rách da thịt mình. Đôi môi dưới đã bị nhai nát bươm để lộ hàm răng vương đầy vụn thịt và lông gà. Đáng sợ nhất là đôi mắt. Tròng đen đã hoàn toàn lật ngược lên trên, chỉ còn lại lòng trắng dã đục ngầu, hằn lên những tia máu đỏ chót đang nhìn chòng chọc vào ông.

Bất thình lình, cái Liên há miệng rộng hoác đến mức mang tai tưởng chừng như sắp rách toạc. Khí quản của nó phát ra một thứ âm thanh the thé, chát chúa, pha trộn giữa tiếng khóc của phụ nữ và tiếng rít của kim loại cọ vào nhau.

“RÉÉÉÉÉÉÉ!”

Cùng với tiếng rít, một luồng oán khí lạnh ngắt như băng đen ập tới, mạnh đến mức thổi bay chiếc nón lá tơi tả trên đầu thầy Tứ, làm vỡ nát tấm kính của khung ảnh thờ treo trên tường. Chiếc đèn pin vỏ nhôm trong tay ông chớp nháy điên cuồng rồi vụt tắt ngấm. Gian nhà chìm vào bóng tối đặc quánh, chỉ còn lại ánh chớp ngoài trời thỉnh thoảng giật nhằng nhằng qua khe ngói, soi rõ cái bóng vặn vẹo trên nóc tủ đang lấy đà.

"Oán khí ngưng tụ thành sát khí... Mày là con Ma già ở khúc sông nào lên đây?!"

Thầy Tứ gầm lên để lấy lại dũng khí. Ông nhanh tay rút từ trong túi bạt ra ba lá bùa giấy ố vàng, cắn chót lưỡi phun một ngụm máu dương khí vào chuỗi tiền đồng cổ. Ông ném ba lá bùa về phía trước, tay bắt quyết, miệng nhẩm nhanh đoạn chú ngữ Trấn Trạch.

Ba lá bùa bắt hơi người sống, bay lơ lửng trong không trung và bốc cháy. Nhưng thay vì tạo ra ngọn lửa màu vàng ấm áp của pháp thuật thanh tẩy, ngọn lửa vừa bén lên đã bị oán khí trong phòng ép cho chuyển sang màu xanh lè như ma trơi. Ngọn lửa xanh thảm hại rít lên một tiếng xèo xèo rồi bị oán khí nhai nuốt trọn, biến thành đám tro tàn xám xịt rơi lả tả xuống mặt đất.

Trên nóc tủ, cái xác vặn vẹo của con bé Liên nghiêng đầu. Nó không hề tỏ ra sợ hãi trước ánh sáng pháp thuật. Trái lại, khóe miệng đầy máu của nó nhếch lên một nụ cười giễu cợt đầy ác ý. Không một tiếng động báo trước, nó buông mình. Hai cẳng chân gãy gập đạp tung mép xà gồ, hất một mảng gỗ vụn mù mịt. Một cái bóng đen đặc quánh lao vút xuống như sao băng hắc ám, mười móng tay đen ngòm xé toạc không khí, găm thẳng vào yết hầu người thầy pháp già.

Thầy Tứ không phải là cao thủ ẩn danh, nhưng bản năng sinh tồn của con người trước cửa tử thì bao giờ cũng nhạy bén. Ngay khi mười ngón tay tanh tưởi sượt qua mũi, ông ngã ngửa ra sau, lộn nhào một vòng vụng về trên nền gạch vương vãi miểng kính vỡ.

Phập!

Cú vồ hụt của con Liên cắm ngập mười ngón tay xuống nền gạch hoa. Nơi móng tay nó chạm vào, lớp gạch men xì lên khói đen sặc sụa, vỡ nát như miếng ngói vụn.

"Bà Mùi! Chạy ra ngoài!" Thầy Tứ rống lên. Lão lùi lết ra sau, tay móc vội vào túi nải lôi ra một nắm gạo nếp sống trộn chu sa, vung mạnh về phía cái bóng đen đang chồm lên.

Những hạt gạo nếp vừa chạm vào lớp sương đen lởn vởn quanh người con Liên liền nổ lách tách. Nhưng sức mạnh thanh tẩy yếu ớt ấy chẳng hề hấn gì. Con Ma không lùi bước, oán khí tỏa ra từ cơ thể nó đặc sệt lại, nuốt chửng nắm gạo nếp, biến chúng thành những hạt than đen thui rụng lả tả.

Thầy Tứ cắn nát môi, dồn chút sinh khí mỏng manh cuối cùng của một phàm nhân ra đánh cược. Lão rút phắt thanh kiếm gỗ đào đã xỉn màu sứt mẻ, không chút do dự cắn rách ngón tay cái. Máu tươi rỉ ra, miết một đường dài dọc thân kiếm hòng đánh thức chút linh tính mộc đào rẻ mạt. Lão dồn toàn lực vung kiếm chém thẳng vào bả vai cái thân hình đang vặn vẹo lao tới.

Bốp!

Không có tiếng vũ khí sắc bén xuyên qua da thịt. Thanh kiếm gỗ đào đập vào bả vai con Liên kêu lên một tiếng đục ngầu, cứng ngắc như chém vào tảng đá tảng. Rồi trước ánh mắt kinh hoàng của Thầy Tứ, thanh đào mộc vỡ nát thành từng mảnh vụn.

Con Ma nghiêng đầu, đôi mắt trắng dã vô hồn chớp chớp nhìn ông. Nó chậm rãi đưa một bàn tay lên, vung ra một cái tát hờ hững nhưng mang theo lực đạo ngàn cân của loài ác quỷ.

Thầy Tứ chỉ kịp chéo hai tay trước ngực, đưa chuỗi tiền đồng cổ - món Thần Cụ duy nhất - lên đỡ đòn.

KENG!

Một tiếng va chạm chói tai vang lên. Chuỗi tiền đồng lóe lên một quầng sáng xanh lè hòng cản lại luồng sát khí. Nhưng thứ linh khí còm cõi của một vị thần địa phương mót lại từ hàng chục năm trước hoàn toàn bất lực trước một hố đen oán hận. Quầng sáng rạn nứt rồi vỡ vụn.

Đứt phựt. Sợi dây cước đỏ tết quanh chuỗi tiền đứt tung. Những đồng tiền xu bằng đồng cổ xỉn màu vỡ nát thành hàng chục mảnh, văng tung tóe khắp gian nhà như những viên đạn lạc. Món Thần cụ đã hoàn toàn bị hủy diệt!

Sức mạnh từ cú tát của con Ma giáng thẳng vào lồng ngực người thầy pháp già. Thầy Tứ bị hất văng bổng lên không trung, bay qua chiếc bàn nước, đập mạnh lưng vào bức tường trình đất sét. Lão trượt xuống sàn, máu tươi ộc ra từ khóe miệng và mũi. Tiếng xương sườn gãy gập đâm vào phổi nghe lạo xạo, đau đớn đến mức lão không thể thốt lên nổi một tiếng rên.

"Làng xóm ơi! Cứu... cứu mẹ con tôi với! Ác quỷ giết người rồi!"

Bà Mùi đứng ngoài hiên, chứng kiến ông thầy pháp duy nhất của làng bị đánh gục chỉ trong vài nhịp thở, mụ điên cuồng gào thét. Tiếng gào xé họng của một người mẹ tuyệt vọng hòa vào tiếng bão. Nhưng vô ích. Tiếng sấm chớp ầm ĩ và tiếng mưa quất sầm sập trên những mái ngói đã nuốt chửng mọi âm thanh. Khắp Xóm Vạn Đò tối om như hũ nút. Dẫu có người nghe thấy tiếng kêu cứu, họ cũng chỉ dám trùm chăn run rẩy sau những cánh cửa cài then chốt chặt. Trong cái thời buổi u ám này, lòng dũng cảm là một thứ xa xỉ khi đối diện với cõi âm.

Gian nhà chỉ còn lại tiếng mưa rào rào và tiếng thở dốc đầy máu của thầy Tứ.

Con Ma trong xác cái Liên không bồi thêm nhát thứ hai. Nó đột ngột ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt trắng dã nhìn trân trân ra ngoài màn mưa đen đặc. Nó dường như cảm nhận được một luồng sinh khí nào đó lớn hơn trong bão, hoặc giả cơn cuồng sát vừa rồi đã đánh thức một bản năng tẩu thoát vô định.

Nó bò bằng cả tứ chi lên bậu cửa sổ gỗ đã mục nát. Một bên chân phải của nó bị bẻ gãy gập ra sau sau cú lộn từ nóc tủ, lủng lẳng lết theo thân hình. Nhưng điều đó chẳng hề làm nó chậm lại. Bằng cái chân trái còn lại và hai cánh tay vặn vẹo, nó nhún một lực kinh người, phóng vút qua khung cửa sổ, hòa mình vào màn mưa dông đặc quánh, điên cuồng lao thẳng về phía khu rừng phi lao mọc quanh bãi tha ma của làng.

"Liên! Liên ơi!" Bà Mùi gào lên định đuổi theo, nhưng đôi chân trần vừa chạm xuống lớp bùn ngoài sân đã trượt ngã sóng soài. Cái bóng thoăn thoắt kì dị của con gái bà đã mất dạng trong đêm tối. Mụ tuyệt vọng lết trở lại vào gian nhà, bò đến bên vũng máu của thầy Tứ.

"Thầy ơi... Thầy ơi sống lại cứu con tôi với..." Mụ khóc lóc, lay mạnh bả vai người thầy pháp.

Thầy Tứ ho sặc sụa, mỗi lần ho lại trào ra một búng máu sủi bọt. Phổi lão đã thủng, hơi thở hắt ra đứt quãng, thoi thóp tựa ngọn đèn cạn dầu trước gió. Lão biết mạng mình đến đây là tận.

Bằng chút sức tàn cuối cùng, bàn tay nhăn nheo, lạnh ngắt của lão quờ quạng trên mặt đất, gom lại được ba mảnh vỡ của một đồng tiền đồng cổ còn sót lại. Lão nắm chặt lấy tay bà Mùi, dí những mảnh vỡ dính máu vào lòng bàn tay mụ, móng tay lão cắm phập vào da thịt bà ta để bắt mụ phải tỉnh táo.

"Nghe... nghe cho rõ đây..." Thầy Tứ thều thào, tròng mắt đã bắt đầu dại đi, nhưng giọng nói lại mang sự khẩn thiết của kẻ đang gửi gắm di ngôn. "Đi... đi ngược về phía Tây Bắc... Tìm đến con phố đồ cổ... Tìm một người tên... Phạm Ngũ Lân..."

Bà Mùi lắp bắp: "Phạm... Phạm Ngũ Lân..."

"Phải... Gia tộc họ Phạm... Bọn họ là những kẻ thấu thị..." Khóe miệng thầy Tứ giật giật, máu tuôn thành dòng ướt sũng vạt áo tơi. "Đưa những mảnh vỡ này cho ông ấy... Nói rằng... đây là nguyện vọng cuối cùng của lão Tứ Xóm Miễu... Xin ông ấy cứu con Liên..."

Bàn tay đang siết chặt của thầy Tứ đột ngột buông thõng. Đồng tử lão giãn to, sững sờ nhìn lên mái nhà dột nát, rồi ánh sáng trong đôi mắt già nua ấy tắt lịm hoàn toàn. Người thầy pháp làng đã trút hơi thở cuối cùng, mang theo sự uất ức và bất lực trước một thế lực vượt quá tầm hiểu biết của phàm nhân.

Bà Mùi thẫn thờ nhìn cái xác lạnh ngắt của thầy Tứ, rồi cúi xuống nhìn ba mảnh đồng tiền vỡ vụn dính đầy máu đỏ trong tay. Tiếng sấm gầm rít trên đầu như thúc giục. Không còn thời gian để khóc thương hay làm ma chay. Sinh mạng con gái bà giờ đây chỉ còn mong manh như sợi mành trước gió.

Người đàn bà góa loạng choạng bật dậy. Cắn chặt môi để nuốt ngược tiếng gào khóc vào trong, mụ bấu chặt những mảnh đồng xu đẫm máu vào ngực như một chiếc phao cứu sinh cuối cùng. Không ngoái đầu lại, mụ lao thẳng vào màn mưa đen ngòm điên cuồng chạy về phía Tây Bắc. Bỏ lại sau lưng ngôi nhà ngập ngụa tử khí.

Cách Xóm Vạn Đò đẫm máu kia chừng hơn một trăm cây số về phía Tây Bắc, mây mù đang cuộn mình trên những sườn núi đá vôi xám ngoét. Cơn bão đêm qua cũng quét qua đây, nhưng khi chạm đến địa hình hiểm trở của vùng rẻo cao này, nó chỉ còn lại những đợt gió rít qua khe đá và một màn sương buốt giá giăng kín đất trời.

Buổi bình minh nhợt nhạt dần ló rạng trên một con phố sầm uất mang đậm nét giao thoa của thời kỳ bao cấp. Nơi đây là ngã ba của những chuyến xe tải đường dài chở gỗ và thổ cẩm, cũng là chốn tụ tập của những tay buôn đồ cổ ranh mãnh.

Nằm lọt thỏm ở góc khuất nhất của phố núi là một tiệm đồ cổ nhỏ xíu, xập xệ với tấm biển gỗ mục nát mờ dòng chữ "Tích Cổ Các". Không gian bên trong tiệm chật chội, bốc lên mùi ngai ngái của gỗ hoàng đàn để lâu năm, hòa lẫn với mùi trầm hương rẻ tiền hăng hắc. Xung quanh bày la liệt đủ thứ hầm bà lằng: từ những chiếc bình gốm sứt mẻ dính đầy bùn đất, mấy thanh gươm rỉ sét thời phong kiến, cho đến cả những chiếc lư hương bằng đồng nhuốm màu thời gian.

Hơn chín phần mười những thứ ở đây đều là đồ giả cổ. Phần còn lại là những món đồ có "dớp", dính chút oán khí hoặc linh khí còm cõi lượm lặt được từ những nấm mồ vô chủ.

Phạm Ngũ Lân đang thong thả ngồi trên chiếc chõng tre trước cửa tiệm. Khác với cái tên mang hơi hướm kỳ vĩ của dòng họ, Lân chỉ là một gã đàn ông trung niên ngoài bốn mươi, mặc chiếc áo bông chần cũ kỹ, dáng vẻ tiều tụy với gò má hóp và đôi mắt lờ đờ như người thiếu ngủ.

Gã từ tốn châm một đóm thuốc lào, rít một hơi dài đến xẹp cả má, rồi từ từ nhả ra một làn khói trắng đục, phả vào màn sương ban mai. Tiếng nước sôi reo lục bục trên bếp lò than tổ ong đặt cạnh chân ghế. Lân nhấc siêu nước bằng đồng, chậm rãi chuyên một ấm trà San Tuyết ướp hoa sói. Mùi trà thơm thanh tao bốc lên, đối lập hoàn toàn với sự lộn xộn, bụi bặm của cửa tiệm.

Trong giới thầy pháp, cái họ "Phạm" là một thứ gì đó rất đỗi uy phong. Người ta đồn rằng những kẻ mang họ Phạm nội tộc sở hữu đôi mắt có thể nhìn thấu âm dương, diệt ma trừ quỷ dễ như trở bàn tay. Thế nhưng, một gia tộc vĩ đại cũng giống như một cái cây cổ thụ, có rễ cái cắm sâu vào lòng đất thì cũng có những nhánh con, cành tăm héo hon mọc rải rác khắp nơi.


Thảo luận

Bình luận chương

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.