Tiêu Tà Sứ

Chương 3: Trả

Đăng: 12/05/2026 16:15 6,829 từ 3 lượt đọc

Màn đêm trùm lên xóm Vạn Đò một màu đen quánh như hắc ín. Cơn bão đã tan, nhưng cái lạnh lẽo của bùn đất và âm khí từ bãi tha ma vẫn lẩn khuất trong từng kẽ lá phi lao.

Phạm Ngũ Lân cõng cái Liên trên lưng, đôi dép cao su đúc lún sâu xuống lớp sình lầy lép nhép. Chiếc áo bông chần cũ kỹ của gã nhanh chóng bị máu và thứ dịch vàng khè từ những vết thương trên người con bé thấm đẫm, bốc mùi tanh tưởi đến lợm giọng. Đi sát bên cạnh, bà Mùi ôm lấy cánh tay gãy gập đang đung đưa của con gái, vừa chạy lảo đảo vừa khóc không thành tiếng. Nước mắt, bùn đất và sự kinh hoàng quyện vào nhau trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn bà góa.

Mất gần một canh giờ đồng hồ cuốc bộ thục mạng, thứ ánh sáng nhợt nhạt của ngọn đèn nê-ông mờ ảo trước cổng Trạm xá xã mới hiện ra giữa màn sương.

Lân lấy đà, tông mạnh mũi giày vào cánh cửa sắt đóng hờ. Tiếng kim loại va đập ầm ĩ xé toạc sự tĩnh lặng của ca trực đêm.

"Bác sĩ! Có người cấp cứu!" Lân gầm lên, giọng ồm ồm khẩn thiết của một gã nông dân đang tuyệt vọng.

Từ trong căn phòng trực lập lòe ánh đèn sợi đốt, một cậu y sĩ trẻ tuổi lật đật khoác vội chiếc áo blouse trắng nhăn nhúm chạy ra, theo sau là một vị bác sĩ trưởng trạm đã đứng tuổi, tay cầm chiếc đèn pin soi chói lóa vào mặt Lân.

"Chuyện gì mà ầm ĩ thế? Đặt bệnh nhân lên băng ca ngoài hiên nhanh lên!" Vị bác sĩ già nạt lớn, nhưng khi luồng sáng của chiếc đèn pin lướt qua hình hài đang nằm trên lưng Lân, giọng ông ta đột ngột nghẹn lại nơi cuống họng. Cậu y sĩ trẻ đi cùng thậm chí còn lùi lại nửa bước, mặt cắt không còn một giọt máu.

Đó không phải là hình hài của một bệnh nhân thông thường. Khi Lân nhẹ nhàng đặt cái Liên xuống chiếc băng ca trải nilon trắng, lớp ánh sáng lờ mờ của trạm xá phơi bày toàn bộ sự tàn phá kinh hoàng trên cơ thể con bé.

Xương đùi phải của nó gãy gập thành một góc nhọn hoắt, đầu xương trắng hếu chọc thủng cả lớp vải quần cộc và da thịt nhợt nhạt, rỉ máu liên hồi. Hai khớp vai trật hoàn toàn, khiến cánh tay oặt ra phía sau lưng như đôi cánh của một con chim bị vặt gãy. Đáng sợ nhất là khuôn mặt và cổ con bé chi chít những vết cào xé sâu hoắm, có những vệt rách nát đến mức lộ cả lớp cơ đỏ lòm bên dưới. Dù đã được cầm máu bằng những miếng vải ố màu nhưng bệnh nhân đã rất yếu.

Bệnh viện tuyến xã vào những năm bao cấp vốn thiếu thốn trăm bề, các y bác sĩ ở đây đa phần chỉ xử lý vài ca tai nạn lao động hay ngộ độc thực phẩm. Một cơ thể nát bươm, dị dạng như vừa bị cối xay thịt nghiền qua thế này là thứ họ chưa từng chứng kiến.

"Trời đất ơi..." Vị bác sĩ già lắp bắp, vội vàng đeo ống nghe lên, tay run run chạm vào động mạch cảnh trên cổ cái Liên. "Huyết áp tụt nghiêm trọng, mạch đập yếu lắm rồi! Cậu Phương, lấy ngay kẹp máu, chuẩn bị nẹp cố định xương đùi! Nhanh!"

Cậu y sĩ tên Phương luống cuống chạy vọt vào phòng kho. Vị bác sĩ già quay ngoắt sang nhìn Lân và bà Mùi, ánh mắt hằn lên sự nghi ngờ tột độ. Ông nhìn chằm chằm vào những vết cào cấu không giống bất kỳ vết thương do tai nạn nào trên người con bé.

"Người nhà đâu? Thế này là thế nào?" Bác sĩ gắt giọng, ánh mắt dò xét lướt từ chiếc áo bông dính máu của Lân sang khuôn mặt thất thần của bà Mùi. "Đây không phải tai nạn đụng xe! Khớp bị bẻ ngược thế này... vết cào xé này... Chẳng lẽ các người bạo hành con bé? Hay có kẻ nào thù oán hãm hiếp rồi tra tấn nó? Tôi phải gọi báo dân quân xã!"

Bà Mùi nghe đến hai chữ "dân quân", hai chân bủn rủn, ngã khụy xuống nền gạch hoa lạnh ngắt. Mụ biết rõ nhà mình hiện tại đang bị phong tỏa vì cái xác của thầy Tứ. Nếu công an đến đây, mụ không thể nào giải thích được sự liên quan giữa cái chết của thầy pháp và tình trạng dị dạng của con gái mình. Quá khứ đen tối dưới đáy sông sẽ bị bới móc lên. Mụ chỉ biết ôm mặt nấc lên từng hồi.

Ngay khoảnh khắc vị bác sĩ định quay người đi đến chiếc điện thoại quay số gắn trên tường, một bàn tay thô ráp, lạnh ngắt đã nắm chặt lấy cổ tay ông ta.

Là Phạm Ngũ Lân.

Khác với vẻ tàn nhẫn và sắc lạnh lúc trừ tà, khuôn mặt Lân lúc này giãn ra, nhăn nhúm lại thành một nét khắc khổ, đáng thương đến mức hoàn hảo. Gã thở hắt ra một hơi dài nặc mùi thuốc lào, buông lời bằng chất giọng khàn khàn, mộc mạc của một kẻ nhà quê.

"Bác ơi, nương tay cho nhà em..." Lân cúi rạp người, diễn tròn vai một người chú đang hoảng loạn. "Gia đình em gốc dân Vạn Đò nghèo rớt mồng tơi, lấy đâu ra kẻ thù mà tra tấn. Khổ nỗi con bé này thần kinh nó không được bình thường từ lúc đẻ ra, cứ tối đến là điên khùng lên núi chơi một mình."

Bác sĩ trưởng trạm nhíu mày, chân bước chậm lại: "Điên khùng? Thế những vết bẻ khớp và cào xé này giải thích sao?"

"Bão số bốn đêm qua cày nát cái đồi phi lao sau bãi tha ma, cây đổ ngổn ngang. Con ranh con này trốn mẹ chạy lên đó tìm tổ chim. Trời tối đen như mực, nó trượt chân ngã từ trên đỉnh đồi đá ong xuống." Lân tuôn một tràng trơn tru, không vấp một nhịp, tay chỉ ra phía cửa sổ hướng về màn đêm. "Đá ong nó sắc như dao chọc tiết lợn, lại thêm gai góc bụi dứa dại cào rách hết da thịt. Lúc rớt xuống đáy vực, chân tay nó đập vào thân cây to mới bị bẻ trật khớp ra đằng sau đấy chứ. Mẹ nó đi tìm mờ mắt cả đêm, sáng nay mới nhờ em bới đống cành gãy lôi được nó ra. Lạy bác sĩ, bác sĩ cứu cháu nó trước đi, máu chảy hết rồi. Cứu xong bác sĩ muốn báo công an bắt em tội trông trẻ bất cẩn, em cũng xin chịu!"

Từng lời nói, từng cái chớp mắt của Lân đều được gã tính toán cực kỳ tinh vi. Lời giải thích "ngã đồi đá ong" và "va đập vào cành cây gãy" hoàn toàn khớp lấp được sự phi lý của những vết xước và những khớp xương bị vỡ nát. Cộng thêm thái độ nhún nhường, nhận lỗi về mình của gã, sự nghi ngờ trong mắt vị bác sĩ già dần xẹp xuống, nhường chỗ cho y đức của một người thầy thuốc.

Ông ta chép miệng, hất tay Lân ra, trút một tiếng thở dài thườn thượt.

"Đồ dân trí thấp! Con cái bệnh tật mà bỏ bê thế à!" Bác sĩ quát lớn, nhưng bước chân đã đổi hướng, lao về phía chiếc băng ca. "Cậu Phương! Mang cả huyết thanh ra đây! Đẩy ngay vào phòng tiểu phẫu. Người nhà ngồi ngoài chờ, không được vào làm vướng tay vướng chân!"

Chiếc băng ca kêu cộc cạch được đẩy nhanh qua cánh cửa gỗ sơn trắng. Ánh đèn đỏ phía trên khung cửa bật sáng.

Chỉ còn lại Lân và bà Mùi đứng ngoài dãy hành lang mờ tối, sặc sụa mùi thuốc sát trùng cồn i-ốt. Lân từ từ buông thõng vai, lớp mặt nạ khắc khổ của gã nông dân biến mất, trả lại vẻ mặt lờ đờ, sắc lạnh quen thuộc. Gã lững thững bước tới chiếc ghế băng dài bằng gỗ mục, ngồi phịch xuống, móc trong túi ra chiếc điếu cày ngắn tự chế. Cơn đau từ việc lạm dụng Mắt Âm Dương lúc này mới ập đến, khiến đầu gã ong lên như búa bổ.

Cái mạng của con Liên đã tạm thời giao cho y học phàm trần xử lý. Nhưng Lân biết rất rõ, oán khí chưa tan, thì căn nhà ngói ở xóm Vạn Đò và cả mảnh đất này vẫn chưa được yên ổn. Ác nghiệp dưới đáy sông vẫn đang gào thét đòi mạng.

Tiếng ếch nhái kêu ộp oạp ngoài bờ ruộng, lọt thỏm giữa sự tĩnh mịch đặc quánh của màn đêm. Lân rít một hơi thuốc lào dài, nhả khói trắng đục lên trần nhà trạm xá rồi gõ mạnh nõ điếu xuống cạnh ghế gỗ cộc cộc. Gã đứng dậy, xốc lại chiếc túi dết lấm lem bùn đất.

"Đứng lên đi theo tôi." Lân hất hàm về phía người đàn bà góa đang ngồi bó gối, khóc thút thít ở góc hành lang.

"Đi... đi đâu hả thầy? Con Liên đang mổ ở trong..." Bà Mùi ngẩng khuôn mặt tàn tạ lên, hai mắt sưng húp đỏ lựng.

"Bác sĩ đang khâu xác cho nó rồi, bà ngồi đây cũng chẳng mọc thêm được cái xương nào đâu. Đi theo tôi giải quyết cho dứt điểm cái đống nghiệp chướng rác rưởi của nhà bà." Lân lạnh giọng, quay lưng bước thẳng ra phía cổng sắt. Gã không bận tâm xem mụ ta có đi theo hay không, vì gã biết chắc chắn nỗi sợ hãi lúc này sẽ bắt mụ phải bám lấy gã như một chiếc phao cứu sinh cuối cùng.

Cả hai đi ngược lại con đường đất ngoằn ngoèo, hướng về phía bãi bồi ngoài mép sông. Gió đêm từ mặt sông thổi thốc vào mang theo thứ hơi sương lạnh buốt tủy. Nước sông sau bão dâng cao, đục ngầu phù sa, từng cuộn sóng vỗ oàm oạp vào bờ cất lên những âm thanh nghe thê lương như tiếng người đang sặc nước.

Đến đúng khúc sông lở, nơi mà bà Mùi từng chỉ tay ban sáng, Lân dừng lại. Gã chẳng cần dùng đến Mắt Âm Dương cũng có thể ngửi thấy mùi tử khí ứ đọng đặc quánh quanh đây. Con Ma mượn xác cái Liên đã bị gã tống cổ và đánh tan trên rừng phi lao, nhưng "hạt giống" của nó – hàng chục sinh linh bị dìm chết oan uổng, lột sạch vàng bạc năm xưa – thì vẫn đang nằm thối rữa dưới lớp bùn đen kia. Chúng chưa được siêu thoát.

"Quỳ xuống." Lân gằn từng chữ, rút từ trong túi dết ra một bó nhang trầm màu đen sì loại rẻ tiền.

Bà Mùi run lẩy bẩy, hai đầu gối mềm nhũn quỳ ịch xuống mép bùn lầy lội sát bờ nước. Mụ dập đầu xuống đất, không dám ngẩng lên nhìn dòng nước cuộn xiết xám ngoét trước mặt.

Phạm Ngũ Lân lấy bao diêm Thống Nhất, bật quẹt lửa. Ngọn lửa vàng leo lét trong gió, khó nhọc lắm mới bắt cháy được đầu bó nhang đen. Giữa cái không gian nặng nề âm khí này, ngọn lửa cháy không tỏa ra sự ấm áp mà lại bốc lên một làn khói lam nhờ nhợt.

Gã cắm bó nhang xuống ngay trước mặt bà Mùi, rồi móc thêm một nắm gạo nếp sống trộn lẫn muối hột, vung tay rải mạnh ra mặt sông. Những hạt gạo nếp chạm mặt nước kêu lách tách, tạo thành những gợn sóng nhỏ li ti lan tỏa trong đêm.

Lân không bày biện đàn tràng hoa quả heo quay đồ sộ như những kẻ làm nghề cúng bái thông thường. Chính tông họ Phạm của gã đã dạy cách trở thành một kẻ làm nghề tâm linh thực dụng. Gã chắp hai tay lại trước ngực, miệng lầm rầm đọc một đoạn Chân ngôn Vãn sanh cổ của gia tộc. Đoạn chú không mang sát khí để tiêu diệt, cũng chẳng phải lời hoa mỹ cầu xin sự tha thứ, mà nó giống như một bản phán quyết lạnh lùng của kẻ đại diện cho trật tự kẻ sống.

"Oán có đầu, nợ có chủ." Lân đột ngột cất cao giọng, âm vực khàn đục át đi cả tiếng gió rít bên tai. Gã chỉ tay thẳng xuống mặt nước đen ngòm. "Các người chết oan chết uổng dưới tay lũ súc sinh bẩn thỉu, uất khí kết lại thành ma quỷ làm loạn nhân gian. Nay con ma đã bị đánh tan, vật chủ đã trả giá bằng nửa cái mạng sống gãy nát! Trần sao âm vậy, nghiệp ai người nấy gánh, vay máu phải trả bằng máu! Cầm lấy chút nhang khói còm cõi này mà trôi đi cho nhẹ thân. Kẻ nào cố tình vương vất bám víu làm hại dân lành, Phạm Ngũ Lân này sẽ trực tiếp hạ sát ấn, đánh cho hồn siêu phách tán, vĩnh viễn không được siêu sinh!"

Từng lời của Lân như mang theo uy lực vô hình của một Tiêu Tà Sứ thực thụ của nhánh chính tông gia tộc gã. Ngay khi tiếng gắt cuối cùng dứt đi, một trận gió lớn từ bờ sông thốc ngược lên, thổi bạt bó nhang đen cháy đỏ rực. Khói nhang bị hút cuồn cuộn về phía lòng sông, tan nhanh vào những cuộn sóng đục ngầu. Chớp mắt, không khí nghẹn ứ, tanh tưởi bủa vây khúc sông lở dường như loãng hẳn ra. Âm thanh oàm oạp của sóng nước không còn nghe thê lương như tiếng khóc than sặc sụa nữa, mà trở về với vẻ tự nhiên bình thường của một con sông phù sa.

Lân ra hiệu cho bà Mùi tháo cái vòng ngọc trên cổ tay xuống đưa cho gã. Gã gắn một lá bùa lên, buộc một sợi chỉ đỏ rồi thẳng tay ném xuống khúc sông.

"Dập đầu ba cái tạ tội đi, rồi đi về." Lân gạt tàn nhang dính trên vạt áo, quay gót bước lên bờ.

Bà Mùi lật đật cắm cúi lạy lấy lạy để xuống vũng bùn lầy, nước mắt giàn giụa, miệng lẩm bẩm khấn vái loạn xạ. Mụ vội vã lồm cồm bò dậy, thất thểu chạy theo cái bóng lưng gầy gò của gã thầy pháp đang khuất dần trong màn sương mù.

Khi cả hai trở lại dãy hành lang nồng nặc mùi cồn i-ốt của trạm xá, ánh đèn đỏ trước cửa phòng tiểu phẫu vẫn chưa tắt. Bà Mùi ngồi rúm ró trên chiếc ghế băng, cởi chiếc nón lá rách bươm quạt phành phạch để xua đi sự căng thẳng.

Phạm Ngũ Lân ngồi khoanh tay ở phía đối diện, mắt nhắm nghiền nhẩm tính lại chuỗi sự kiện. Mọi thứ liên quan đến cõi âm đã được dọn sạch sẽ. Nhưng có một điều gã vẫn còn cấn cá trong đầu. Một tội ác động trời như vậy, quả báo nhãn tiền thường không bỏ sót một ai.

Gã từ từ mở mắt, ánh nhìn đục ngầu ghim thẳng vào khuôn mặt tiều tụy của người đàn bà góa.

"Oán khí dưới đáy sông đã được trấn an, con Liên bị thu một nửa sinh mạng coi như đã trả cái giá phải trả cho việc dung dưỡng ác quỷ." Lân lạnh lùng lên tiếng, phá tan sự im lặng mệt mỏi. Gã hơi chồm người tới phía trước. "Nhưng còn kẻ đầu têu thì sao? Bà kể con ma bị diệt, nguồn cơn cũng đã rõ. Thế còn gã anh chồng và lão Vượng chồng bà... cái lũ ác thú tự tay đục thuyền dìm chết người đó... rốt cuộc hai gã đó đền mạng thế nào?"

Ánh đèn nê-ông trên trần hành lang chớp nháy liên hồi theo từng đợt sụt áp của máy phát điện. Cứ mỗi lần ánh sáng giật tắt rồi sáng lại, khuôn mặt bà Mùi trông lại càng thêm rúm ró, như thể đang bị bóng tối từng mảng ăn mòn.

Nghe Phạm Ngũ Lân nhắc đến hai kẻ thủ ác năm xưa, mụ rùng mình một cái rõ bạo. Bàn tay khô đét của mụ bấu chặt lấy mép chiếc ghế gỗ mục.

"Bọn họ... chết thảm lắm thầy ơi..." Giọng bà Mùi lầm rầm, rỉn ra từng chữ như người cõi âm đang thuật chuyện. "Tiền bạc cướp được từ người chết ngâm nước sông vốn lạnh, có đắp lên thành cái nhà ngói cũng chẳng làm ấm nổi chỗ nằm."

Mụ khẽ chép miệng, hốc mắt thâm quầng nhìn đăm đăm vào ngọn đèn đỏ đang sáng rực trước cửa phòng phẫu thuật.

"Người bị vật chết đầu tiên là lão Hai, anh ruột của chồng tôi, chỉ đâu chưa đầy một năm sau cái đêm chúng nó bắt đầu trò đục thuyền." Bà Mùi kể, hơi thở ngắt quãng. "Lão Hai vốn là tay bơi lội cự phách nhất xóm vạn đò, lặn một hơi bằng người ta hút tàn điếu thuốc. Vậy mà năm đó, lão bắt đầu đổ bệnh lạ. Lão kêu trong nhà lúc nào cũng sực mùi tanh của bùn lầy trộn với rêu phong."

Lân nhếch mép, khẽ day day hai huyệt thái dương. Gã thừa biết, đó là mùi của tử khí bắt đầu rỉ ra từ cõi âm, xâm nhập thẳng vào ngũ quan của kẻ mang đại nghiệp.

"Đêm nào lão cũng la hét, nói rằng dưới gầm giường có tiếng móng tay cào vào ván gỗ, sột soạt, sột soạt... giống hệt như cái tiếng mấy người thành phố tuyệt vọng cào vào mạn thuyền lúc nước tràn vào." Mắt bà Mùi trố ngược lên, tái hiện lại sự kinh hoàng ngày đó. "Đỉnh điểm là một đêm tháng Bảy. Trời tịnh không một hột mưa. Sáng hôm sau, vợ lão Hai phát hiện lão nằm chết còng queo ngoài sân giếng..."

"Chết đuối trong giếng à?" Lân hờ hững buông một câu.

"Không thưa thầy." Bà Mùi lắc đầu quầy quậy, môi vặn vẹo đi. "Cái giếng bị đậy nắp kín bưng. Lão nằm ngửa giữa sân gạch khô khốc. Nhưng cái bụng lão... trương phềnh lên, căng mọng như con lợn chết trôi bị ngâm nước mười ngày. Da lão bợt bạt, nhợt nhạt. Khi người ta lật xác lão lên, nước từ mồm, từ mũi ồng ộc trào ra, tanh tưởi đến mức cả xóm phải bịt mũi buồn nôn. Bác sĩ bảo lão bị phù phổi cấp, sặc bọt trào ngược. Nhưng cả làng vạn đò đều xì xầm... lão Hai bị 'chết đuối trên cạn'."

Một cái chết đầy mỉa mai của luật nhân quả. Dìm người xuống đáy sông, cuối cùng lại phải chịu cảm giác ngạt thở, phổi sũng nước ngay giữa khoảng sân khô ráo nhất. Lân cười nhạt.

"Thế còn lão Vượng nhà bà? Tận mắt chứng kiến anh trai bị vật chết thê thảm như thế mà không biết đường sám hối à?"

"Nó có sợ. Nó sợ đến mất ăn mất ngủ." Bà Mùi ôm mặt nức nở. "Từ hôm đám ma lão Hai, chồng tôi đi lạy lục khắp các đền to phủ lớn, rước đủ loại bùa chú, bùa Thái, bùa Miên về dán kín từ cửa rào đến xó bếp. Lão mua cả chuỗi nanh hổ đeo đầy cổ để trừ tà."

"Đúng là hạng phàm nhân ngu xuẩn." Lân tặc lưỡi khinh miệt. "Ác nghiệp do chính tay mình tạo ra, oan hồn do chính mình dìm chết, máu đã nợ thì có rước cả mười đạo bùa chú cũng chỉ là rác rưởi. Luật của Lục Đạo không có khái niệm dùng bùa để chặn quả báo."

"Đúng vậy thầy ạ... Tròn bốn mươi chín ngày sau cái chết của lão Hai, ác báo gõ cửa nhà tôi." Giọng bà Mùi thu nhỏ lại chỉ bằng tiếng muỗi kêu, sợ hãi như thể chính lão Vượng đang đứng sau lưng mụ. "Hôm đó trời chuyển dông lớn y như đêm qua. Lão Vượng như kẻ mất hồn, gom hết sạch vàng bạc giấu trong ruột tượng, định bụng vác xuồng nan trốn biệt đi nơi khác sinh sống. Lão bảo... lão thấy có người đàn bà cụt ngón tay đứng ở mép sông vẫy lão."

Lân hơi nheo mắt. Việc Oán linh mạnh đến mức tạo được ảo ảnh giữa ban ngày ban mặt chứng tỏ nó đã hấp thụ đủ uất hận để tiến hóa thành Ma. Lão Vượng bước ra khỏi cánh cửa dán bùa, đồng nghĩa với việc ký vào án tử.

"Tôi chạy theo khuyên can lão chờ tạnh bão hãy đi, nhưng lão hất tôi ngã dúi dụi rồi chèo thuyền lao ra giữa dòng nước xiết." Nước mắt bà Mùi lăn dài qua những nếp nhăn nhàu nhĩ. "Đó là lần cuối cùng tôi thấy lão còn thở. Ba ngày sau, khi nước rút, dân quân xã mới vớt được xác lão bị vướng vào một lùm cây đước chìm dưới hạ lưu."

Bà Mùi ngừng lại, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Bàn tay mụ chỉ lên chính cái cổ của mình, rồi xòe mười ngón tay ra trước mặt Lân.

"Xác lão Vượng bị cuốn chặt vào chính cái tấm lưới mà lão hay dùng để đi hớt váng quanh khúc sông lở... Nhưng điều khiến người ta rợn gáy là... cái cổ lão bị sợi dây thừng lưới thít chặt đến mức gãy gập làm đôi, tím bầm lại. Đáng sợ nhất là mười ngón tay... mười ngón tay của lão Vượng..." Mụ Mùi nấc nghẹn, không thốt nên lời.

"Mười ngón tay bị chặt đứt lìa, đúng không?" Lân lạnh lùng tiếp lời, ánh mắt không gợn một tia đồng cảm. Gã đã quá quen với cái quy luật "vay trả" tàn khốc này.

Bà Mùi nhắm nghiền mắt gật đầu lụm cụm. "Chẳng còn ngón nào... Người ta bảo chắc bị cá rỉa. Nhưng tôi thừa biết, lão đã tự tay dùng dao băm nát ngón tay của cái xác chết trôi mặc áo gấm năm xưa để lột vàng... Nên bây giờ, mụ ta về đòi lại."

Tiếng kể của bà góa kết thúc. Hành lang trạm xá lại chìm vào sự im lặng nghẹt thở, chỉ còn tiếng tít tít đều đặn vọng ra từ máy đo nhịp tim bên trong phòng tiểu phẫu.

Phạm Ngũ Lân khoanh tay trước ngực, dựa lưng vào tường đá hoa cương lạnh lẽo. Gã đã hiểu vì sao con Ma đêm qua lại vặn vẹo dị dạng, gãy gập các khớp và tàn độc đến thế. Nó chính là sự kết tinh oán hận của ngần ấy con người bị chết chìm, mượn sự thù hận của cái xác người đàn bà bị chặt tay làm lõi để tiến hóa. Hai gã đàn ông tàn ác nhất đã phải trả mạng. Bùn lầy đã đòi lại cái giá của bùn lầy.

"Hai cái mạng đổi lấy vài nén vàng dính máu." Lân thở hắt ra, giọng điệu châm biếm sâu cay. Gã nghiêng đầu nhìn bà Mùi. "Thế nhưng, vòng xoáy của Nghiệp chướng làm gì dừng lại ở đó. Cha ăn mặn thì con khát nước. Bọn chúng chết rồi, nên cái hố oán hận khổng lồ kia tự nhiên phải tìm một chỗ trú ngụ mới. Một cái 'thùng rác' mang chung dòng máu với chúng, ăn hạt gạo mua bằng tiền từ đáy sông mà lớn lên."

Câu nói lạnh tanh mà sắc như dao của gã thầy pháp đâm toạc phòng tuyến tâm lý cuối cùng của bà Mùi. Người đàn bà góa đưa hai tay ôm lấy khuôn mặt nhàu nhĩ, khóc nấc lên. Tiếng khóc không còn the thé kinh hoàng như lúc chạy bão, mà là tiếng rền rĩ uất nghẹn của một người mẹ đang tận mắt chứng kiến quả báo giáng xuống đầu đứa con vô tội.

"Con Liên... tội nghiệp con Liên nhà tôi..." Mụ nghẹn ngào, đôi mắt sưng húp nhìn trân trân vào ánh đèn đỏ lạnh lẽo trên khung cửa phòng phẫu thuật. "Nó có biết gì đâu... Chuyện người lớn làm tội lỗi, nó đâu có biết. Vàng lão Vượng đem về, tôi giấu đi cất nhà cất cửa, mua củ khoai manh áo cho nó. Có ngờ đâu... bát cơm nó ăn lại chan đầy máu người..."

Sự ân hận và tội lỗi cắn xé tâm can. Trong cơn xúc động tột độ, mụ lẩy bẩy vò nát vạt áo ướt sũng. Những mảnh ghép chắp vá từ quá khứ bỗng nhiên hiện lên rõ mồn một trong đầu mụ. Mụ tự lẩm bẩm, giọng nói run rẩy như đang thú tội với chính khoảng không vô hình:

"Báo ứng... đúng là báo ứng rồi. Chẳng trách... chẳng trách từ đợt giỗ đầu lão Vượng năm kia, con bé bắt đầu đổ bệnh lạ... Ban đầu, tôi chỉ tưởng nó tuổi ăn tuổi lớn, thần kinh yếu nên hay nói mớ..."

Phạm Ngũ Lân khoanh tay đứng lặng yên trong góc khuất. Gã không bồi thêm một câu hỏi nào nữa. Đôi mắt lờ đờ của gã chỉ im lặng quan sát người đàn bà góa đang tự mình lần mò lại từng ký ức tăm tối, khi cái mầm mống ma quỷ bắt đầu đâm rễ vào thể xác đứa trẻ ngây thơ.

Trong màn hồi tưởng đứt quãng pha lẫn tiếng khóc nghẹn của bà Mùi, quá trình "ấp ủ" một con ác linh rùng rợn dần được bóc trần. Mọi thứ không diễn ra bùng nổ chỉ trong một đêm, mà là một sự ăn mòn chậm rãi, nhầy nhụa và tăm tối như chính thứ bùn lầy nơi đáy sông.

"Hồi đó, cứ tầm chạng vạng tối là cái Liên lại thơ thẩn ra ngồi ngoài bờ sông." Bà Mùi lẩm bẩm, hai hàm răng rập vào nhau. "Nó cứ cúi gầm mặt, dán mắt vào mặt nước đen ngòm dưới đáy sông hàng giờ đồng hồ. Tôi ra gọi nó vào ăn cơm, nó quay lại nhìn tôi... ánh mắt nó dại đi, trắng dã. Nó bảo: 'Mẹ ơi, dưới này chật lắm, đông người lắm...' Lúc đó tôi chỉ tát nó một cái, mắng nó nói gở, rồi lôi xệch vào nhà."

Những hiện tượng dị thường bắt đầu leo thang theo từng mùa trăng. Căn nhà ngói ba gian khang trang mà lão Vượng cất lên bằng số vàng nhuốm máu, dù ngày nắng hay ngày mưa, luôn sực nức một mùi tanh tưởi của rong rêu và cá chết. Quần áo phơi trong sân nhà lúc nào cũng có cảm giác ẩm ướt, nhớp nháp.

Khủng khiếp nhất là những đêm tháng Bảy mưa dầm dề.

"Có đêm tôi giật mình tỉnh giấc vì lạnh..." Giọng bà Mùi mỏng tang, run rẩy như sợi chỉ rách. "Sờ sang bên cạnh thì không thấy cái Liên đâu. Tôi hốt quá cầm ngọn đèn dầu đi tìm. Vừa bước ra mái hiên sau, tôi thấy nó đang đứng quay lưng lại, chôn chân bên cạnh cái chum sành hứng nước mưa."

Bà Mùi co rúm người lại trên ghế, vòng tay ôm chặt lấy vai như thể cái lạnh của đêm hôm đó vẫn còn đọng trên da thịt.

"Nó... nó nhúng ngập cả cái đầu của nó vào trong chum nước đầy ắp. Không một tiếng bọt khí, không một cái giãy giụa. Nó cứ đứng gập người cắm đầu xuống nước im lìm như một cái xác chết. Tôi hoảng loạn vứt cả đèn dầu, lao tới túm tóc lôi giật nó ra. Tóc tai nó sũng nước, mặt mày tái mét nhợt nhạt... Nhưng thầy ơi, nó không hề sặc nước! Nó nhìn tôi cười... một nụ cười nhếch đến tận mang tai, rồi nó nói bằng hai ba thứ giọng đàn ông, đàn bà the thé lẫn lộn: 'Trả vàng đây... trả vàng cho tao...'."

Lân nghe đến đó, chỉ lẳng lặng gõ gõ móng tay lên thành ghế bằng gỗ mục. Gã giải thích bằng chất giọng đều đều, khô khốc của một kẻ đã quá rành rọt các quy luật cõi âm:

"Ấy là 'Cộng Hồn'. Một đám oán linh chết chìm dưới sông, nuốt chửng sự uất hận của nhau để dung hợp thành một khối. Chúng chưa đủ Tà lực để nhập thẳng vào phá nát cơ thể một người sống có dương khí bình thường. Nên chúng chọn cách phá hoại từ từ con bé."

Lân nhìn thẳng vào bà Mùi, nhẫn tâm bóc toạc sự thật: "Chúng mượn huyết mạch của kẻ thù là lão Vượng làm cầu nối. Cái Liên ăn cơm gạo mua bằng vàng ăn cướp của người chết, dương khí của nó tự nhiên bị vấy bẩn, tạo thành một mảnh đất màu mỡ cho Oán khí cắm rễ. Những lúc nó nhìn xuống sông, nhúng đầu vào chum nước, không phải nó bị điên, mà là lũ ma đang luyện cho cơ thể nó quen với cái chết đuối. Chúng gặm nhấm tâm trí nó từng ngày, chờ đến khi cơ thể vật lý hoàn toàn suy nhược để chiếm đoạt toàn diện. Chúng định mượn xác con bà để giết bà và giết cả nó…"

Mặt bà Mùi cắt không còn một giọt máu. Mụ hiểu ra rằng, chính sự dung túng, che giấu tội ác của bản thân đã gián tiếp bức tử đứa con đẻ của mình.

"Đỉnh điểm là nửa tháng trước." Mụ nấc lên, vò đầu bứt tai đau đớn. "Nó bắt đầu ăn thịt sống. Gà vịt trong chuồng nhà tôi sáng ra hay bị mất đầu, tiết vương vãi khắp nơi. Tôi cứ tưởng cáo chồn vào bắt... cho đến khi tận mắt thấy nó xé xác con gà trống tơ trong góc buồng tối... Lúc đó tôi mới hoảng quá đi tìm thầy Tứ xóm bên cứu giúp..."

"Nhưng lão Tín trình độ có hạn, chỉ dùng dăm ba cái bùa giấy vẽ bằng chu sa pha loãng thì làm sao trấn nổi một hố đen oán nghiệp hàng chục mạng đã ủ trong người con bé suốt mấy năm trời." Lân chép miệng kết luận. "Bùa dán lên cửa buồng vô tình lại thành cái rào chắn, nhốt con Ma lại với cái Liên ở bên trong, ép quá trình hóa Ma của nó đẩy nhanh hơn. Đêm qua nếu không phải mưa bão làm nứt kết giới bùa chú, rồi nó phá cửa thoát ra ngoài giết lão Tín... thì người bị nó xé xác nhai nuốt đầu tiên chính là bà rồi."

Sự thật tàn khốc đánh gục chút thể lực cuối cùng của người đàn bà góa. Bà Mùi gục đầu xuống hai gối, thân hình gầy nhom rung lên bần bật trong nỗi ân hận tột cùng, không còn thốt thêm được lời nào nữa. Ác nghiệp quả thực không buông tha bất kỳ ai.

Đúng lúc đó, âm thanh tạch vang lên rành rọt.

Ngọn đèn đỏ nhấp nháy trước cửa phòng tiểu phẫu đột ngột tắt ngấm. Tiếng bước chân rảo qua rảo lại bên trong cũng ngừng hẳn. Cánh cửa gỗ sơn trắng hé mở, tỏa ra thứ mùi tanh nồng của máu và thuốc sát trùng. Vị bác sĩ già tháo chiếc khẩu trang lấm tấm vết đỏ, bước ra ngoài với khuôn mặt mệt mỏi, mồ hôi đầm đìa trên trán.

Bà Mùi loạng choạng lao tới, bám riết lấy vạt áo blouse của ông, đầm đìa nước mắt: "Bác sĩ... con Liên... con Liên nhà tôi sao rồi?"

Phạm Ngũ Lân cũng từ từ đứng dậy, đôi mắt lờ đờ nhìn lướt qua khe cửa đang khép hờ. Gã biết, phận sự của tâm linh đã xong, giờ là lúc chuẩn bị kết thúc màn diễn ở cõi phàm trần này.

Vị bác sĩ già khẽ thở dài, vuốt những giọt mồ hôi đọng trên trán. Tiếng thở của ông nặng nề, mang theo sự bất lực của một người thầy thuốc vừa phải chứng kiến một ca chấn thương vượt quá sức chịu đựng của một đứa trẻ.

"Mạng thì giữ được rồi." Bác sĩ trầm giọng, tháo vội đôi găng tay cao su dính đầy máu vứt vào thùng rác y tế. "Chúng tôi đã tiêm huyết thanh, truyền máu và khâu lại những mảng da thịt bị rách. Huyết áp đã tạm thời ổn định."

Bà Mùi như người chết đuối vớ được cọc, quỵ gối xuống nền gạch, chắp tay lạy liên hồi: "Đội ơn bác sĩ... đội ơn trời Phật cứu mạng con tôi..."

Nhưng nụ cười chưa kịp nhen nhóm trên môi người mẹ thì gáo nước lạnh buốt đã dội thẳng xuống.

"Khoan vội mừng." Vị bác sĩ gắt lên, ánh mắt đầy xót xa xen lẫn nghiêm khắc. "Mạng thì còn, nhưng cơ thể nó tổn hại nặng nề lắm. Toàn bộ xương ống đồng chân phải dập nát bét, không có cách nào bó bột liền lại được ở cái điều kiện y tế thế này, chuyển lên tuyến trên chắc chắn phải phẫu thuật cưa bỏ mới giữ được mạng. Hai khớp vai trật hoàn toàn, dây chằng đứt rách tả tơi. Răng hàm cũng rụng mất mấy cái. Dù sau này có tốn bao nhiêu tiền của, công sức để chạy chữa phục hồi... thì con bé cũng xác định mang tật suốt đời, lê lết một chân mà sống."

Bà Mùi sững sờ. Đôi tai mụ ù đi, chỉ còn tiếng vo ve ong ong chạy dọc trong màng nhĩ. Cưa chân. Mang tật suốt đời. Mụ từ từ quay đầu nhìn qua ô kính nhỏ trên cánh cửa phòng mổ. Cái Liên nằm đó, xanh xao, nhợt nhạt, băng gạc quấn trắng toát khắp tứ chi và khuôn mặt. Cảnh tượng ấy giống hệt như một cái xác bị trói gô lại. Oán khí đã đi, nhưng thứ mà ma quỷ bỏ lại không phải là sự giải thoát, mà là một đống đổ nát của hình hài con người. Nó mượn miệng con bé nhai sống gà, mượn tay chân con bé bẻ gãy cổ người khác, thì giờ đây, chính con bé phải tự gánh chịu cái giá đắt đỏ trên thân xác mình.

Ác nghiệp không tự nhiên sinh ra, và cũng không tự nhiên biến mất. Lão Vượng và gã anh chồng trả nợ bằng mạng sống. Còn cái Liên, đứa con gái lớn lên từ những hạt gạo mua bằng vàng dính máu người chết đuối, đang phải gánh chịu sự trả thù nghiệt ngã: Mất đi một phần thân thể, gánh trên vai cái nghiệp chướng nặng nề để sống một đời chật vật, đớn đau.

Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

Phạm Ngũ Lân đứng cách đó vài bước chân, thu hết vào tầm mắt thảm kịch của gia đình bà Mùi. Gã chẳng mảy may động lòng thương xót. Thế giới của gã là thế giới của âm dương đổi chác, gieo nhân gặt quả. Hàng chục mạng người vô tội dưới đáy sông kia còn chẳng có một thân xác nguyên vẹn để mà than khóc.

Gã lững thững bước ngang qua bà Mùi. Gã thò tay vào trong chiếc túi dết bạc màu, rút ra một lá bùa giấy màu vàng nghệ đã được gấp gọn gàng, ném nhẹ xuống chiếc ghế băng mục nát.

"Gấp lá bùa này lại, nhét dưới gối của nó." Lân cất giọng đều đều, không quay đầu lại. "Oán khí đã tan, lá bùa này chỉ để an thần, giữ cho dương khí của nó không bị tà ma ngoại đạo khác cắn trộm lúc đang yếu. Công việc của tôi đến đây là hết. Lão Tín dưới suối vàng cũng coi như nhắm mắt được rồi."

"Thầy... thầy Lân..." Bà Mùi run lẩy bẩy gọi với theo, nhưng cuống họng nghẹn đắng không thốt nên lời.

"Đống nghiệp âm thì tôi giải quyết xong rồi." Lân đẩy cánh cửa sắt của trạm xá, một chân bước ra ngoài màn sương lạnh ngắt, chân còn lại khựng lại nơi bậu cửa. Gã khẽ quay đầu lại, đôi mắt lờ đờ nhìn thấu tâm can người đàn bà góa. "Nhưng cái đống nghiệp dương của nhà bà... thì bà tự đi mà gánh."

Lân xốc chiếc túi dết lên vai, kéo sụp chiếc nón cối sờn rách xuống che khuất nửa khuôn mặt rồi lầm lũi bước ra ngoài lộ, biến mất vào màn đêm mù mịt của Xóm Vạn Đò. Gã chỉ giúp trừ ma, không phải quan tòa. Công việc của gã dừng lại ở cõi âm.

Bà Mùi còn chưa kịp hiểu hết ẩn ý trong câu nói cuối cùng của Lân, thì từ xa, một âm thanh xé gió chói tai bỗng vang lên.

Tè te... tè te...

Tiếng còi hụ rít lên từng hồi nhức nhối, xé toạc sự tĩnh mịch của vùng quê nghèo. Ánh chớp xanh đỏ xoay vòng chói lóa quét qua những tán cây phi lao, hắt cả vào những bức tường vôi lở loét của trạm xá.

Hai chiếc xe U-Át đít vuông màu rêu của công an huyện phanh cháy lốp ngay trước cổng sắt. Tiếng cửa xe đóng sầm sập. Năm sáu người đàn ông mặc cảnh phục xanh, khoác áo mưa bộ đội, tay lăm lăm đèn pin chạy rầm rập tiến thẳng vào sảnh trạm xá. Đi theo sau họ là tay trưởng xóm với khuôn mặt tái mét, vừa đi vừa chỉ trỏ.

"Bà Nguyễn Thị Mùi đúng không?" Một viên công an lớn tuổi, nét mặt uy nghiêm cất giọng rành rọt. Luồng sáng đèn pin chĩa thẳng vào khuôn mặt đẫm nước mắt của mụ.

Bà Mùi rúm người lại, hai đầu gối mềm nhũn, chỉ biết gật đầu trong vô thức.

"Chúng tôi vừa phong tỏa nhà bà ở Xóm Vạn Đò." Viên công an lạnh lùng tiếp lời, rút từ trong ngực áo ra một tờ giấy có đóng dấu đỏ. "Có một án mạng đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong nhà bà. Hiện trường có rất nhiều vết máu, và nạn nhân là ông Tín xóm miễu đã tử vong với dấu hiệu bị bạo hành thân thể cực kỳ dã man. Yêu cầu bà lập tức theo chúng tôi về trụ sở công an huyện để hợp tác điều tra."

Bà Mùi há hốc miệng. Thế giới xung quanh mụ sụp đổ hoàn toàn. Cảnh sát ở đây. Hiện trường ở đó. Xác chết trong nhà mụ. Mụ sẽ giải thích thế nào đây? Nói rằng một con ma đã mượn xác con gái mụ bẻ cổ ông Tín? Ai trên cái đời này tin vào câu chuyện ma quỷ đó để giải oan cho mụ?

Mà dù có lôi câu chuyện ma quỷ đó ra, thì công an nào có tin? Họ kiểu gì cũng sẽ lật lại hồ sơ. Họ sẽ lật lại cái chết trương phềnh sặc nước của lão Hai, cái chết tức tưởi kẹt trong lưới của lão Vượng, và cả cái nguồn gốc của mấy gian nhà ngói xây bằng tiền từ đâu rơi xuống. Ánh sáng của pháp luật sớm muộn gì cũng sẽ cào xới lớp bùn dưới đáy sông, lôi cái mồ chôn tập thể của hàng chục người vượt biên chết đuối năm xưa ra ngoài ánh sáng.

Nghiệp âm có thể bị thầy pháp đánh tan, nhưng tội ác giữa cõi người thì không một loại bùa chú nào che đậy nổi.

Bà Mùi trượt dài từ chiếc ghế băng xuống nền đất. Mụ không gào thét, không chống cự. Trong đôi mắt đục ngầu, tuyệt vọng của mụ, ánh đèn đỏ của phòng cấp cứu nơi đứa con gái mang tật đang nằm thoi thóp... hòa lẫn vào ánh đèn chớp xanh đỏ chói lóa của chiếc xe cảnh sát ngoài sân.

Oán nghiệp cõi âm đã khép lại, nhưng bản án cõi dương dành cho kẻ đồng loã với tội ác thì sẽ được tuyên ngay tại chốn trần gian

Thảo luận

Bình luận chương

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.