Tôi Không Biết Cô Ấy Là Thứ Gì

Chương 1: Mary Meriwether.

Đăng: 29/05/2026 22:45 3,062 từ 2 lượt đọc

Năm 1880, tôi trở về từ Afghanistan với một bên chân cụt, một con mắt bị rách võng và một mảnh bom găm trong đầu. Trở về ngôi nhà thân yêu ở Luân Đôn, tôi nhận được tin bố mình đã mất, để lại cho tôi căn nhà tương đối lớn ở vùng ngoại thành Luân Đôn và món gia tài 10 ngàn bảng Anh. Sau khi đóng thuế thừa kế và chi tiết vụn vặt, số tiền còn lại vẫn đủ để tôi sống đến cuối đời. Đó là nếu tôi có thể sống đến lúc đấy.

Trên chiến trường, tôi đã bị một quả bom nổ ở cự ly gần. Đó là lý do tôi mất một chân. Một mảnh đã hy hữu bay xuyên qua con mắt trái, đâm vào hộp sọ. Sau khi quay về Anh, ngài Stewart, vị bác sĩ quân y trong Trung đoàn đã giới thiệu cho tôi vài người bạn làm việc ở bệnh viện St Bartholomew, giúp tôi giải quyết những vết thương này.

Điều đáng buồn là, chẳng ai có thể làm được gì hơn cả. Con mắt trái của tôi đã bị vỡ và đã bị cắt bỏ. Cái chân phải đã mất hoàn toàn từ đầu gối trở xuống. Mảnh bom vẫn còn ở yên trong đầu, sâu bên trong hốc mắt, càng ngày càng đâm vào sâu hơn. Bọn họ, các bác sĩ, nói tôi có thể sống thêm khoảng mười lăm năm cho đến khi mảnh bom găm vào não. Đó là thời gian còn lại của tôi.

Dù sao thì, ở Anh tôi cũng chẳng có họ hàng gì cả nên tôi không phải lo nghĩ gì nhiều. Tôi tự do như những cơn gió trên biển Đại Tây Dương vậy. Nhưng tính cách của tôi khiến tôi không thể ở yên một chỗ. Tôi nhận làm thủ thư ở một thư viện cách nhà vài con phố với mức lương 4 shillings 2 pence một ngày, nhưng với số tiền thừa kế kia thì số lương này không có ý nghĩa gì mấy.

Thư viện này khá nhỏ, nằm ở góc phố ít người qua lại. Hầu như người đến thư viện là những người dân quanh đây, hoặc là những sinh viên không có đủ tiền đóng phí hội viên. Công việc của tôi ở đây tương đối nhẹ nhàng, chủ yếu là ngồi ở vị trí của mình trong ngày, rồi vào cuối ngày dọn dẹp sắp xếp lại những kệ sách là có thể ra về.

Ơn trời là việc chỉ có thế. Với một chân nguyên vẹn và một cái chân giả thì tôi chẳng thể làm việc nặng được, cộng thêm cái băng bịt mắt mà tôi luôn đeo ở mắt trái làm cho tôi không khác gì những tên hải tặc được miêu tả trong sách cả. Điều này khiến bọn trẻ trong khu phố cảm thấy sợ hãi khi nhìn thấy tôi.

May mắn thay, bà chủ thư viện là một người đáng kính. Khi bà lần đầu gặp tôi, bà đã phải thốt lên lời mà bà dùng cho người con trai quá cố của mình. Không cần nhiều thủ tục rườm rà, tôi đã được nhận vào ngay lập tức.

Ngồi giữa phòng ăn rộng lớn, ăn món ăn mà mình chế biến qua loa, tôi đã nghĩ cuộc sống của tôi sẽ mãi như thế cho đến khi mảnh bom giết chết tôi trước cả tuổi già. Nhưng vào hôm ấy, tôi gặp được một cô gái... kỳ lạ.

Một buổi chiều mùa hè, tôi như thường lệ ngồi ở vị trí của mình trong thư viện thì bóng dáng của một người tiến vào làm cho tôi phải mất hồn vài giây. Cô ấy có dáng người mảnh khảnh, tóc vàng bồng bềnh, mặc áo sơ mi cao cổ và váy dài bên dưới cái áo khoác mà khi nhìn vào là đã cảm thấy khó thở.

Cô ấy đi vào khu tự nhiên, vài phút sau trở lại với một chồng sách y khoa và dược liệu. Rồi cô ấy bắt đầu đọc chúng. Sau đó tôi không còn chú ý đến cô ấy nữa mà chăm chú vào quyển sách trên tay mình. Nhưng không hiểu sao, một cảm giác bất an kỳ lạ cứ thôi thúc tôi. Nó khiến tôi liên tục kiểm tra xung quanh, như thể có ai đó đang nhìn chằm chằm vào tôi vậy. Khi đó tôi đã thấy chúng, đôi mắt màu nâu mỏng như lưỡi lam cùng nụ cười mà tôi không biết là phải miêu tả như thế nào. Cô ấy đang nhìn tôi và cười.

Mọi người biết đấy, có một mảnh bom trong đầu vốn đã không mấy dễ chịu. Đặc biệt là vào mùa đông nó sẽ làm tôi đau đầu kinh khủng. Và đôi khi tôi còn gặp phải ảo giác.

Ngay lúc này, đầu tôi bắt đầu nhói đau. Việc này làm cho tôi không biết là ánh mắt và nụ cười kia là thật hay chỉ là do tôi tự huyễn hoặc bản thân. Sau khi dụi mắt thì mọi chuyện đã trở về bình thường. Cô ấy vẫn đang lật đọc sách mà chẳng chú ý gì đến phía này cả. Tôi lại tiếp tục công việc của mình.

Tôi nghĩ mọi chuyện đã qua rồi, thế nhưng tối đó tôi lại mơ một giấc mơ... Không phải, nó giống ác mộng hơn. Cũng chính là cô gái tôi gặp lúc chiều ở thư viện. Cũng là ánh mắt và nụ cười đó. Thế nhưng ở cô ấy toát ra vẻ ma mị mà tôi nghĩ chỉ có thể thấy ở những nữ quỷ dưới địa ngục.

Cô ấy lơ lửng trên không, đập đôi cánh dơi to lớn giữa chiến trường khói lửa. Mà tôi có thể nhận ra đây là chiến trường Maiwand. Lúc này tôi đang ở cùng những người đồng đội của mình và đang chuẩn bị tiến công.

Cô ấy, lượn lờ trên bầu trời dõi mắt nhìn theo từng bước tiến của tôi. Mà tôi thì chẳng thể rời mắt khỏi cô ấy được. Tức thì một tiếng nổ lớn vang lên từ bên cạnh khiến tôi bị hất văng, choáng váng đến ong cả đầu. Mọi thứ xung quanh bắt đầu trở nên mờ ảo. Bóng dáng của đồng đội tôi vẫn tiếp tục tiến lên phía trước phai nhạt đi, chỉ riêng cô ấy là vẫn còn rõ nét.

Cô ấy bay đến lượn vòng phía trên đầu tôi, như kền kền chờ con mồi của nó từ từ trút hơi thở cuối cùng. Bỗng cô ấy lao mình đáp xuống đất, nhẹ nhàng đỡ tôi ngã vào lòng. Lúc này tôi mới thấy rõ cơ thể nhợt nhạt, trần trụi và lạnh lẽo của cô ấy. Chẳng khác gì đang chạm vào một cái xác cả.

Rồi một tiếng như xương gãy vang lên. Khoang ngực của cô ấy từ từ mở ra, bên trong là khoảng không tối đen như mực. Cũng là ánh mắt đấy, nụ cười đấy nhưng vẻ mặt của cô ấy lại rất thỏa mãn. Cứ như cô ấy thật sự muốn nuốt chửng tôi vậy.

Cơ thể tôi không thể cử động được. Chỉ có thể trơ con mắt còn nguyên của mình nhìn bản thân từ từ bị nuốt chửng, hay đúng hơn là bị nhét vào bên trong cơ thể của cô ấy. Phần cơ thể đã bị đưa vào bên trong cảm thấy một cơn buốt lạnh, như thể vùi cánh tay bị ướt xuống tuyết vào giữa trời đông.

Cảm giác ấy khiến tôi thức giấc, trán thì nóng bừng. Chẳng nói cũng biết, tôi đã ngã bệnh rồi.

Ơn Chúa là bà chủ thư viện đã tìm đến nhà khi không thấy tôi đến làm. Bà chủ thư viện đứng tuổi nhân hậu đã mắng tôi một trận vì không biết chăm sóc bản thân. Sau đó bà ấy đã mời bác sĩ đến nhà để khám cho tôi. Ông ấy nói tôi bị cảm cúm, cần phải nghỉ ngơi nhiều. Nhất là khi thể chất của tôi không được tốt cho lắm từ sau chiến tranh.

Trước khi ra về, bà chủ thư viện có nói với tôi rằng sẽ tìm cho tôi một người chăm sóc, rằng việc ở thư viện không cần phải bận tâm, cứ nghỉ ngơi đi.

Ngày hôm sau, cửa nhà tôi vang lên tiếng chuông. Tôi biết ngay đó là người mà bà chủ thư viện nhắc đến. Tôi lê cái thân không còn sức lực và cái đầu đau như búa bổ ra mở cửa. Đập vào mắt tôi là gương mặt ấy. Cô ấy đã đến trước cửa tìm tôi.

“Xin chào, ngài là Frederick Ainsworth phải không?” Cô ấy hỏi.

Tôi cũng tự hỏi bản thân rằng đây có phải là một cơn ảo giác đang ập tới hay không. Miệng tôi khô khốc, đầu tôi choáng váng quay cuồng, lưng tôi thì ướt đẫm mồ hôi kèm theo vài cơn ớn lạnh khiến tôi không khỏi rùng mình. Trong đầu tôi lúc này chỉ có ý nghĩ trở lại giường, nhưng trước khi tôi kịp làm điều gì thì tôi đã ngã khuỵu xuống sàn, đôi mắt nặng trĩu dần khép lại. Điều cuối cùng tôi thấy trước khi ngất đi là nụ cười kỳ dị mơ hồ hiện trên gương mặt của cô ấy.

Tôi không rõ mình đã bất tỉnh trong bao lâu. Khi tôi tỉnh lại, căn phòng bình thường luôn tối tăm của tôi lần đầu tiên được thắp sáng kể từ khi tôi trở thành chủ của ngôi nhà. Ngay cả đống lộn xộn trong phòng cũng đã được dọn sạch sẽ. Mấy cuốn sách trên bàn đã được đặt ngăn nắp lên giá. Và tôi, dường như đã được thay một bộ quần áo khác.

Ngồi dậy bước xuống giường, tôi phát hiện ra cái chân gỗ của mình đã biến mất. Nó không có ở trong phòng. Việc này buộc tôi phải nhảy lò cò ra khỏi phòng ngủ. Tôi nghĩ, cô gái chăm sóc đỡ tôi đến giường, cái chân giả đã rơi ra, và cô ấy đã đặt nó đâu đó trong nhà.

Hành lang tối đen, lạnh lẽo hệt như nó vốn như vậy. Ở cuối hành lang dẫn đến phòng khách thì có ánh sáng. Tôi không nghĩ cô gái ấy vẫn còn ở đây. Giờ đã là tám giờ tối rồi.

Tôi men theo tường tiến vào phòng khách. Vì đang đi chân trần nên tôi cảm thấy hơi lạnh. Trong phòng khách, cô gái ấy đang ngồi trên chiếc ghế bành cạnh cửa sổ mà tôi thường ngồi, mắt chăm chú đọc quyển sách trong tay. Đó là cuốn Carmilla của Sheridan Le Fanu bấy lâu nay luôn nằm trên kệ sách.

Đôi mắt màu nâu của cô ánh lên vẻ trầm tĩnh, bàn tay trắng nõn nhẹ nhàng lật trang sách. Cô vẫn chăm chú đọc cho đến khi đưa tay lên vén mái tóc vàng, rồi khẽ ngước mặt lên. Cuối cùng cô cũng thấy tôi đứng ở hành lang, cô nàng lập tức đứng bật dậy, ôm quyển sách trước ngực lúng túng nói với tôi.

“Ồ, ngài Ainsworth…” Cô cúi người dùng tay phủi chiếc ghế bành, tiếp tục nói. “Tôi xin lỗi vì đã tự tiện động vào đồ của ngài.”

Tôi xua tay không đáp. Lúc này cô nàng mới vội vàng chạy đến dìu tôi bước đến ngồi xuống ghế bành. Tôi cảm thấy rất kỳ lạ, trước đó vết lõm trên đệm ghế cho thấy cô ấy đã ngồi đó được một thời gian. Thế mà lúc này tôi không cảm nhận được hơi ấm trên ghế. Tôi lập tức hướng con mắt còn lại nhìn đôi bàn tay nhỏ nhắn đang nắm lấy cánh tay phải của mình, nó hoàn toàn không có chút ấm áp nào, vô cùng lạnh lẽo. Tôi cũng có thể nhìn kỹ hơn, làn da của cô ấy không hẳn là trắng, mà là nhợt nhạt.

Tôi cẩn thận nhìn cô ấy, nói.

“Cảm ơn, cô…”

“Mary. Mary Meriwether thưa ngài.”

“Cảm ơn, cô Mary. Vì đã giúp tôi về giường, và dọn phòng giúp tôi.”

Tôi nhìn ra cửa sổ, trời tối om, chỉ có vài cột đèn đường.

“Xin lỗi vì đã giữ cô lại đến giờ này. Tôi không nghĩ cô ra về vào giờ này là ý hay đâu. Trong nhà vẫn còn phòng trống, nhưng sẽ có chút bụi bặm. Cô có thể tùy ý chọn một phòng để nghỉ lại. Và không cần phải gọi tôi là ‘ngài’ đâu.”

“Không không, tôi nghĩ mình nên ra về. Tôi không thể làm phiền ngài nghỉ ngơi được. Tôi sẽ hâm nóng thức ăn nếu ngài thấy đói trước khi tôi ra về.”

Đúng thật là tôi cảm thấy khá đói, từ hôm qua đến giờ tôi chỉ ăn được một bát cháo yến mạch của bà chủ thư viện. Tôi vui vẻ gật đầu.

Sau khi tôi dùng bữa xong, Meriwether bắt đầu dọn dẹp trong bếp trong khi tôi lại ngồi trên chiếc ghế bành, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, trông chờ một người mà tôi biết là sẽ đi ngang qua con đường trước nhà. Cô Meriwether khi này đã khoác áo khoác đi đường và cầm trên tay chiếc mũ dạ nỉ màu đen, dè dặt bước đến gần như muốn chào tạm biệt. Tôi liền giơ tay ra hiệu cô ấy chờ.

Cho đến vài phút sau, một người đàn ông cao lớn dẫn theo một con chó Terrier bốn tuổi đi ra từ con hẻm gần đó. Tôi lập tức ngồi dậy đẩy mở cửa sổ, huýt sáo gọi ông ta đến. Con Terrier tên Ginn nghe thấy tiếng huýt sáo của tôi, nhanh chóng kéo chủ nhân của nó đến trước nhà, sợi dây buộc liền căng ra. Nó dừng lại bên ngoài hàng rào, chồm người muốn nhảy vào trong sân nhưng đã bị chủ nhân của mình giữ lại. Ông ta đẩy cổng rào gỗ bước vào sân đến bên cửa sổ, giọng cộc cằn nói.

“Ainsworth, tôi tưởng mình đã nói với anh là đừng bao giờ gọi Ginn như thế rồi cơ mà. Nếu là con gái của tôi thì con bé sẽ không giữ nổi dây buộc đâu.”

“Xin lỗi anh, Richards, nhưng tôi không muốn làm phiền hàng xóm xung quanh vào giờ này. Anh có phiền không nếu phải hộ tống cô điều dưỡng của tôi về đến nhà?”

Tôi quay sang Meriwether, và như hiểu ý tôi, cô liền nói.

“Tôi thuê một phòng trên đường Seymour, cách nơi này khoảng hai mươi phút đi bộ.”

Richards cười nói.

“Tuyệt, vừa hay tôi sẽ phải đi qua con đường đó để đến xưởng gỗ. Ainsworth, anh nợ tôi lần này.”

“Được rồi, tôi sẽ ghi nợ giúp anh.”

Khi tiễn Meriwether ra đến cửa, tôi hạ thấp giọng nói với cô.

“Richards là thợ mộc, nhưng vẫn là một quý ông lịch thiệp. Không ai phù hợp hơn anh ấy trong hoàn cảnh này đâu.” Tôi đưa tay che miệng ho vài tiếng. “Xin lỗi vì không thể đích thân tiễn cô về.”

“Cảm ơn ngài Ainsworth.”

Tôi gật đầu. Ngay khi tôi mở cửa ra, con Ginn lập tức nhào đến, chồm lên người tôi làm tôi suýt ngã. Tôi xoa đầu Ginn, trong khi Richards ra sức kéo nó về. Sau đó nó thấy Meriwether đứng sau lưng tôi, ngồi yên sủa một tiếng như muốn chào hỏi. Cả hai nhanh chóng rời đi, tôi cũng đi vào nhà.

Sáng hôm sau, khi thức dậy thì tôi bị nhức đầu. Có lẽ đây là hậu quả của cơn bệnh vừa rồi. Thân nhiệt của tôi đã ổn định hơn, nhưng tôi vẫn cảm thấy hơi ớn lạnh, và thân thể của tôi có chút ê ẩm. Xem ra tôi vẫn chưa thể đến thư viện để làm việc được. Sau bữa sáng đơn giản, tôi ngồi trên chiếc ghế bành đọc sách.

Không lâu sau, một người thanh niên mặc đồng phục của nhân viên bưu cục tiến gần đến trước cổng rào nhà tôi, thấy tôi ngồi bên cửa sổ thì cậu chàng giơ tay vung vẫy mảnh giấy. Tôi gật đầu, anh ta liền đẩy cổng rào bước qua sân đến cửa nhà. Đó là một bức điện tín của một người bạn ở vùng Sussex.

Nhân viên bưu cục nói.

“Người gửi đã trả phí, thưa ngài.”

“Cảm ơn anh.”

“Chúc ngài có một ngày tốt lành.”

Tôi vừa định đóng cửa thì một chiếc xe ngựa lại dừng trước nhà, Meriwether từ trên xe bước xuống. Cô mặc váy liền thân màu lam cổ cao, tay xách theo chiếc túi da. Tôi có hơi bất ngờ khi cô lại ghé nhà tôi lần nữa.

“Xin chào ngài Ainsworth.”

“Chào cô Meriwether. Cô đến đây là có chuyện gì sao, bỏ quên đồ hay cần gì khác? Phải rồi, tôi quên mất tiền lương của cô…”

Tôi chưa kịp nói thêm thì Meriwether đã mỉm cười, nói.

“Bà Ford đã thanh toán toàn bộ bảy ngày làm việc của tôi rồi, thưa ngài. Mỗi ngày khoảng năm giờ.”

“Ồ.” Tôi khẽ hô, sau đó bước lùi lại nhường đường cho cô vào nhà.

“Xin lỗi thưa ngài, sáng hôm nay tôi phải đến trường. Tôi chỉ ghé sang đây để kiểm tra tình trạng của ngài, phòng khi ngài vẫn chưa hạ sốt.”

Tôi báo cáo ngắn gọn về tình trạng hiện tại của mình. Nghe được tôi đã khỏe hơn, nụ cười trên gương mặt của Meriwether liền trở nên tươi tắn hơn. Tôi lại có hơi tò mò, bèn hỏi.

“Cô hiện là sinh viên sao?”

“Vâng thưa ngài, trường Y khoa Luân Đôn dành cho phụ nữ.”

Tôi gật đầu, không hỏi gì thêm, nói.

“Tôi sẽ ổn thôi, chúc cô có một ngày tốt lành.”

Chiếc xe ngựa mà cô ngồi đến đây vẫn còn chờ bên ngoài hàng rào. Cô trở về khoang xe, chiếc xe nhanh chóng rời đi.

0
Ủng hộ Phế Đạo Nhân Nếu các bạn thích tác phẩm thì hãy ủng hộ cho mình một ly cà phê để có động lực viết tiếp nhé!