Tranh Bá

Chương 1: Mở Đầu

Đăng: 31/05/2026 16:31 2,024 từ 5 lượt đọc
Mặt trời dần mọc phía Đông, tiếng gà gáy inh ỏi điểm canh năm báo hiệu bình minh dần đến. Từng giọt sương lóng lánh còn khẽ đọng lại trên mép lá, mùi hơi ẩm trong không khí tan dần đi. Thỉnh thoảng lại có tiếng chó sủa canh nhà và tiếng người dậy sớm ra đồng áng.


Làng Láng Hạ nằm ở giữa cánh đồng trên thảo nguyên Đông Sơn, giữa làng có con sông Thương chảy qua, phía chân trời là biển núi bao la mịt mù. Mùa này đến làng đang là độ đẹp nhất khi vựa lúa vừa hay vào mùa gặt hái, nhìn từ xa quả là một nơi thanh bình, thơ mộng và yên tĩnh.

Tiếng chuông gió treo đầu làng vang lẻng kẻng.


Cổng làng Láng Hạ đã rất cũ, nói đúng hơn là xa xưa, cổ xưa. Thiết kế cổng làng vẫn duy trì y nguyên từ xưa của người phương nam, mái lợp ngói nung óng vàng, nền cột chống. Những lớp rêu xanh bám đá, phủ kín khe ngói, lại hòa lẫn đốm địa y xanh vàng. Trên cột gỗ hiện rõ những vết lõm nông của mối mọt, của mục nát, những vết cứa, chém bởi đao kiếm nhưng sâu bên trong vẫn vô cùng bền chắc. Nó được xây bằng gỗ Lim trăm năm, lại được dựng bởi nhưng thợ mộc giỏi ngày xưa trong làng nên thách thức thời gian, thách thức mối mọt làm mục nát, bền bỉ trường tồn.


Lão già họ Lý tên Tư rất chăm nằm ở cổng làng rít điều cày, mồm nhả khói. Lão có bầu rượu treo trên hông là vật bất ly thân cùng với cây gậy trúc già to bằng cổ tay trẻ nhỏ để chống đi. Trong làng truyền miệng nhau câu nói vui rằng: “Bầu rượu trên lưng treo lủng lẳng, đêm ngày suốt tối cứ việc.”, thậm chí đến cả mấy đứa trẻ con trong làng cũng có bài vè dành cho lão, cái gì mà…


“Nghe vẻ nghe ve… Cái ông họ Lý… Gật gà gật gù… Chống gậy trên tay… Hông đeo bầu rượu… Tối ngày say khướt… Xấu quá xấu quá…”


Lão Tư mỗi khi nghe mấy đứa nhỏ hát vè như vậy cười khà khà.


Có thể bắt gặp được lão Tư mà không say rượu cũng phải gọi là chuyện hiếm có, trăm năm có một. Còn ngày thường thì lão ta say khươn khướt, mặt lúc nào cũng đỏ bừng bừng, da nhăn nhúm, đen vàng cháy xạm, râu ria bạc lơ tơ phơ, cái nhận dạng lão chính là số lông mũi mọc ngược ra ngoài mà lão cũng lười cắt đi. Lão có mảnh đất nhỏ ở cuối làng, lợp qua loa bằng rơm dạ lấy chỗ ngủ. Mà từ lâu rồi lão cũng chẳng về nhà nữa, sống luôn ở đầu làng, tắm dưới sông, chẳng ai biết là lão muốn làm gì.


Nguồn tiền duy nhất của lão chính là cặp gà mái mỗi ngày đẻ hai quả, hai quả ấy đổi được 6 hào. Tiền rượu hai hào, tiền mồi nhắm rượu hai hào, hai hào còn lại lão hay nói đùa rằng đó là tiền lo ma cho dân làng. Còn cơm gạo thì cứ ra giữa miếu thờ của làng mà ăn xin nhà sư canh miếu, lão không ngại, và cũng chẳng biết ngại là gì. Cuộc sống như vậy với lão chính là tự do, là niềm vui khó có, là cuộc sống tiêu dao tự tại, và chính lão cũng từng dõng dạc ưỡn ngực hô lớn với dân làng:


“Ta sống thế nào thì kệ mẹ ta, không cần các ngươi quản! Đó mới là tự do, đầu đất thì hiểu cái gì?”


Dân làng nghe xong mặc kệ lão, coi lão như thằng điên của làng, chẳng buồn quan tâm.

Lão Tư với bà Tự có một người con trai tên Quang. Vì bà không chịu được ông lão bẩn thỉu này nên đã từ lâu đã rời khỏi làng, đến thành Thăng Long dưới xuôi làm buôn bán nhỏ.


Lão Tư rít điếu thuốc cày, vẻ mặt phê pha, nâng nâng khó tả. Lão hà hơi phả hết khói ra khỏi phổi kết khà lên một tiếng, khói chưa tan bay lững thững xung quanh như mây lan dưới đất. Chợt, lão nhìn thấy bóng người từ xa xa bèn cố nheo mắt lại nhìn cho rõ. Nhìn rõ rồi lại thôi, lão dựa người đầy vẻ ung dung, tay trái đựng bốc lạc rang, tay còn lại nhặt từng hạt, tiếng lạc giòn, thơm nức miệng, cái ngọt khiến lão rất thích thú.


“Tên nhóc này lại dậy từ sớm đi lên núi đốn củi, bó này to, xem ra rất nặng. Số nghèo khổ đúng là một cái tội.”


Lão thở dài chốt lại một câu an ủi:


“Hài… Tội nghiệp thằng nhỏ thật.”


Từ phía xa kia, người gánh bó củi to gấp tư mình là Dương. Thiếu niên nay ngoài mười năm một tẹo, dáng người nhỏ nhắn có chút gầy gò, làn da rám, sạm, tóc buộc gọn ở sau gáy, trên trán quấn một mảnh vải ngăn không cho tóc vướng vào mắt. Tuy gầy gò nhưng lại rất khỏe, nhiều người nói Dương chính là con trâu đầm trong làng. Dương là số nghèo khổ, cha mất sớm từ năm 5 tuổi, mẹ quần quật làm việc đến mức đổ bệnh, ba năm sau mất trên giường bệnh. Cha mẹ Dương kiếp người số cũng khổ, làm không đủ ăn, tích góp được tý tẹo là lại mang trả nợ cho lão Nghĩa - phú ông trong làng. Đến bây giờ cậu vẫn nợ ông ta 60 đồng nữa. Dù nghèo khổ nhưng cha mẹ thiếu niên vẫn có mái nhà xây bằng tre gỗ, đắp đất làm tường, một tổ ấm khốn khó nuôi nấng Dương.


Ngày thường thiếu niên ăn mặc vô cùng giản dị, bộ áo vải nâu mỏng mặc đã ba năm nay, nó cũng chẳng lành lặn hay nguyên vẹn gì khi lỗ chỗ vết lõm vá, khâu rách đi rách lại mà mặc tiếp. Nhà không khả giả nên cũng chẳng có giày vải đeo, đi lên núi đốn củi thì sẽ đeo giày cỏ, còn thường thường cậu rất hay đi chân đất. Cha mẹ cậu để lại cho cậu mảnh đất cùng với một sợi dây chuyền bằng bạc treo hình rùa vàng, trên đó khảm mấy chữ mà cậu đọc không hiểu.


Số nợ kia thiếu niên coi đó là nghĩa vụ của bản thân, không có một lời oán thán


Dù sống trong bóng tối nhưng gương mặt thiếu niên vẫn luôn sáng, sáng bởi niềm tin và hy vọng vào cuộc sống, sáng bởi tinh thần nghèo khổ cũng sẽ không khuất phục. Để nói Dương không đẹp mã thì cũng đúng, bởi vì nước da thì ngăm đen, rám sạn, thô ráp, chân tay gầy gò lại có vẻ ốm yếu. Cộng với gia cảnh nghèo khổ này thì thật sự rất khó lấy vợ, ý này là đích thân lão tú tài trong làng phán cho thiếu niên.


Nhưng suy cho cùng thì thiếu niên không phải cũng không có điểm sáng, người có thể gầy gò nhưng sức lực thì không ốm yếu chút nào. Cặp mắt sáng, tròng mắt đen nhánh long lanh, đường nét khuôn mặt nếu không phải vì sẹo che khuất thì cũng vào hàng thiếu niên anh tuấn, đẹp. Nhưng dù là gì thì nhìn thiếu niên cũng rất phúc hậu, không có đường nét gì của tướng mặt kẻ ác, thiếu niên có thể bị người đời khinh thường nhưng phải nể phục trước lòng tự trọng và sự lạc quan ấy.


Thiêu niên họ Trần, lại là con nhà nông nghèo khó nhưng không hiểu vì sao cha mẹ hắn lại đặt cho hắn cái tên rất nặng là Trần Hạo Dương, ý muốn nói hắn chính là bầu trời chứa đựng thái dương, thái dương dù to lớn nhưng vẫn nhỏ bé trong bầu trời. Có một phần sức nặng đã chuyển thành cái nghèo khó của cuộc sống.


Thiếu niên đi chầm chậm đến trước mặt lão Tư, tươi cười chào hỏi:


“Ông Tư, chúc ông buổi sáng tốt lành.”


Lão Tư mũi nhả khói mịt mờ, miệng nhai lạc rang giòn thơm khe khẽ mở mắt nhìn thiếu niên trước mặt rồi chầm chậm gật đầu:


“Ờ, ta nghe thấy rồi. Sáng nay nghe nói nhà Lý Ba trong làng mổ lợn, có lẽ cần củi để đun nước nóng đấy. Ngươi mang đến đó thử xem, tên họ Lý mà hỏi thì cứ nói là ta bảo ngươi đến. Được rồi, ngươi đi đi.”


Thiếu niên mặt mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại, miệng thở dốc nhưng vẫn cố cười đáp lại:


“Vâng, cháu biết rồi thưa ông. Bây giờ cháu sẽ mang đến nhà chú Lý Ba.”


Lão Tư gật đầu, nhắm nghiền mắt lại, ung dung thưởng thức rượu cùng mồi nhắm.


Thiếu niên lấy vạt áo lau đi mồ hôi trên trán, chỉnh lại bó củi trên lưng rồi tiếp tục đi vào làng. Nếu không phải lão Tư kêu hắn mang củi chặt được đến nhà Lý Ba thì ngày thường hắn sẽ mang đến nhà Nguyễn Trung - thợ gốm trong làng bán lấy tiền sinh hoạt cuộc sống.


Làng Láng Hạ này kể ra thì rất rộng lớn, hơn nghìn hộ dân sinh sống, số người trong làng có lẽ phải trên năm ngàn người. Con đường đi từ đầu làng đến giữa sông Thương là nơi đẹp nhất trong làng, đường lát đá, hai bên treo đèn lồng, nhà cửa mọc lên san sát, là nơi buôn bán tấp nập - người dân gọi đây là phố Tràng An. Đối diện con phố nhỏ là đình làng Láng Hạ, trên cổng chào có chuông lớn, dưới gốc đa là miếu thờ Thổ Địa, đây là nơi đi lễ chùa rằm, cầu phúc, cầu bình an.


Trụ trì đình là sư thầy Thích Thiện, nay đã xuất gia đã bốn mươi năm, lòng không tạp niệm, trên áo cà sa dệt ngàn văn tự.


Từ đình làng đi về bên phải hai trăm bước là trường học An Hà, nơi đây dạy Nho học cho trẻ nhỏ, người dạy là ông đồ họ Hoàng, tên đầy đủ là Hoàng Tiên Xuân - cũng là người được cả làng kính trọng và rè nể nhiều nhất làng. Đối diện trường học là nhà của tú tài họ Đỗ, tên Kim, Đỗ Kim thi khoa cử mấy năm trước ở kỳ thi Hương thiếu đúng năm điểm nữa là sẽ làm quan triều đình. Năm nay quyết tâm ôn thi lại, chí hướng làm quan rạng danh dòng họ.


Thầy lang Lãn Chư trong làng danh tiếng khá tốt, những bài thuốc nam hay không biết đã cứu sống bao nhiêu người. Ngay cả hoàng đế trong triều cũng phải cử đích thân thái tử đển xin thuốc trị căn bệnh xương khớp dai dẳng, chỉ mấy tuần sau căn bệnh đã biến mất, vua mời ông về làm Thái Y ngự trong triều nhưng lão lang không đi, vua cũng chẳng thể ép buộc.

Gốm sứ Láng Hạ nổi tiếng khắp đất nước, đồ sứ trong triều đình hầu hết đều bắt nguồn từ nơi đây. Chủ lò gốm là Nguyễn Trung, có người con gái là Nguyễn Diệp rất khéo tay lại hát hay, dung mạo mỹ nhiều xinh xắn, chỉ một ánh nhìn cũng làm hớp hồn không biết bao nhiêu chàng trai. Thiếu nữ cành ngọc lá vàng, đẹp người đẹp nết, Trần Hạo Dương gặp nàng ta không biết đã bao nhiêu lần trong bộ áo quần rách rưới, hơi hèn nhưng anh mắt người thiếu nữ chưa bao giờ nảy sinh một chút khinh thường hay nghi kỵ với thiếu niên nghèo khó.


Thiếu niên đi chầm chậm đến nhà Lý Ba.

1

Được yêu thích bởi: Ối Dồi Ôi