Chương 7: Bến Bassac
Càng đến gần khu tập trung ở vàm sông Bassac, càng dễ bắt gặp những toán xuồng ghe xuôi ngược khác nhau — kẻ ôm mộng lao vào rừng sâu, người tháo chạy hòng giữ mạng. Sự tương phản hiện rõ mồn một giữa những chiếc ghe bầu bề thế của cánh thương lái — chất ngất gỗ quý, mật ong, da thú vơ vét từ rừng sâu — với những mảnh xuồng rách nát chở đầy những thân xác chỉ còn da bọc xương. Có người mất tay do cá sấu đớp, vết máu vẫn thấm đỏ lớp vải băng. Có kẻ mất chân vì vuốt hổ. Vô số thân xác khác ghẻ lở, xám ngoét vì cùi hủi và sốt rét triền miên. Tiếng than khóc, rên rỉ hòa quyện với mùi bùn đặc, mùi máu khô và hơi chướng bốc lên từ rừng ngập mặn, tạo nên một bầu không khí u uất. Trông họ chẳng khác nào những bóng ma vất vưởng chốn trần gian.
Trái ngược với vẻ u linh của rừng thẳm, bến chợ lâm thời hiện ra sầm uất đến bất ngờ, rợp bóng những dãy đèn lồng đỏ của các bang hội người Hoa – những kẻ thâu tóm mọi mạch máu giao thương. Tiếng ngã giá, tiếng khuân vác, tiếng gọi đò lấn át cả tiếng sóng vỗ. Giữa chốn phồn hoa tạp nham ấy, một trạm tiếp dẫn của nha lại triều đình được dựng lên, án ngữ ngay lối lên bờ.
Hai ông cháu vừa cột ráo sợi dây neo, một viên thư lại vận áo ngũ thân đã lững thững bước tới. Hắn phe phẩy chiếc quạt giấy che nửa miệng, hắng giọng, tiếng nói êm ru nhưng ánh mắt lại sắc như dao lướt một vòng quanh khoang thuyền trống hoác:
"Chào ông cụ, đi đường xa vất vả nhỉ? Dân lưu vong các người đổ về bến này đông như trấu. Quan trên có lệnh, ai có bằng khoán, địa đồ khai hoang phải trình ra đây xét duyệt trước, kẻo mang đồ giả mạo nộp lên trên lại mang tội khi quân."
Hắn nhếch mép, hạ giọng chỉ đủ cho ba người nghe, lộ rõ vẻ uy hiếp kín đáo: "Giao bản gốc ra đây, ta xem xét giúp cho. Biết điều thì sống, bướng bỉnh thì... bến nước này sâu lắm."
Ông nội vẫn giữ dáng vẻ lụ khụ, run rẩy móc từ trong chăn mền ra một bọc vải nhỏ, dúi khéo vào tay viên thư lại cùng dăm đồng bạc lẻ: "Bẩm quan lớn, ông cháu con đi chạy loạn, chỉ có mảnh giấy nháp vẽ lại dăm cái lạch nước đầm lầy, xin quan nương tay cho lối làm ăn."
Viên quan nắn nắn bọc giấy mỏng teo, nét mặt sầm xuống. Hắn định giơ chân đạp vào mạn xuồng làm càn, thì Lành bỗng bước lên phía trước. Cậu bé chắp tay, dõng dạc nói bằng một chất giọng đanh thép, rành rọt từng chữ:
"Pháp bất vị thân. Dẫu ngài đội mũ cánh chuồn cũng không thể đứng ngoài phép nước. Địa đồ đã do quan khâm sai chuẩn định, đâu phải vật để ngài tùy ý bẻ cong. Hôm nay ngài ỷ thế hiếp người giữa thanh thiên bạch nhật, chẳng sợ 'tường hữu nhĩ' sao? Chỉ cần lời này truyền đến phủ đài, tội nhũng lạm ấy, e khó bề chối cãi."
Nghe một thằng nhóc áo quần rách rưới lại rành rẽ viện dẫn phép nước, còn buông cả thành ngữ Hán học, viên thư lại bất giác khựng người. Ánh mắt hắn đảo một vòng quanh đám người đang dừng chân hóng chuyện. Thấy không ít cặp mắt đổ dồn về phía mình, hắn tặc lưỡi, nhét nén bạc trở lại tay áo rồi hậm hực phe phẩy chiếc quạt giấy.
"Giỏi! Mồm mép khá lắm! Hôm nay bổn quan rộng lượng bỏ qua. Sau này xuống âm phủ gặp Diêm Vương mà trổ tài biện bạch!"
Thoát nạn, hai định búng bán xuồng cho một lái buôn người Hoa, mong bán đổi được lộ phí. Lành đứng chờ trên bờ nhìn theo ông rời đi. Trong lúc ngẩn ngơ, bỗng... một cái giật rất nhẹ sượt qua hông. Nếu là người khác, có lẽ đồ đã mất. Nhưng với kẻ mang bản năng sinh tồn ở U Minh, chỉ một tiếng lá khô xào xạc cũng đủ định đoạt sinh tử. Lành xoay người cực nhanh, vung tay khóa chặt cổ tay đối phương. Kẻ giấu mặt mất đà, ngã sõng soài xuống nền đất. Chỉ là một đứa trẻ trạc mười tuổi. Mặt lem luốc bụi đất, hai má hóp sâu, mớ giẻ rách trên người chẳng còn nhìn ra màu gì. Nó vùng vẫy dữ dội. Không phải để đánh trả, mà để tháo thân. Đôi mắt hoang dại hằn lên nỗi khiếp sợ của một kẻ đã quá quen với những trận đòn thập tử nhất sinh. Nhìn nó, Lành chợt thấy lại chính mình những ngày đầu lạc lõng giữa rừng sâu. Cậu nới lỏng tay. Thằng bé sững lại, co rúm người phòng thủ. Lành lẳng lặng tháo mẩu cá trê nướng buộc bên hông, đưa sang.
"Cầm đi."
Thằng bé trân trân nhìn miếng cá. Rồi vồ vội vàng như một con chuột đói, nó không nói một lời, cắm đầu chạy biến vào đám đông.
Chợt, một giọng nói khàn đục cất lên ngay bên cạnh khiến Lành giật mình ngoái lại. Dưới mái hiên lợp lá dừa nước lụp xụp, một vị sư già người Khmer khoác áo cà sa màu hoại sắc đang ngồi bất động. Đôi mắt ngài thấu thị, nhìn xuyên qua cậu, khẽ gật đầu: "Biết dừng tay... còn khó hơn biết ra tay."
Tại xưởng mộc ngày xác mép sông, mộc Lão thương nhân để chòm râu kẽm bạc phếch, ngồi chồm hổm trên cầu ván. Lão thong thả gõ gõ cán tẩu thuốc xuống mạn xuồng, cúi ngắm từng thớ gỗ rồi nhíu mày, lắc đầu quầy quậy.
"Lão bá, chiếc xuồng này cũ quá rồi. Gỗ tràm ăn nước ăn sình, mục tới ruột. Mua về còn phải vá, phải đóng lại nhiều. Ngộ trả hai nén bạc là hết giá. Nhiều hơn... thiệt không có lời"
Ông lão đưa bàn tay chai sần vuốt dọc theo mạn xuồng còn lấm bùn. Đầu ngón tay chậm rãi lần trên từng thớ gỗ như vuốt ve một người bạn đã cùng mình vượt bao mùa nước nổi. Đôi mắt ông ánh lên vẻ lưu luyến.
"Chú coi kỹ đi. Ván này toàn tràm lõi, mới hạ cây mùa nước năm ngoái. Tôi còn phết nhựa độc để trừ tà, xua ma mị. Chiếc xuồng theo ông cháu tôi bao dặm đường, chưa hề phụ chủ. Chú bớt cho thêm một nén bạc nữa, để ông cháu tôi đủ lộ phí lên tàu. Coi như chú tích chút âm đức."
Lão thương nhân cúi nhìn chiếc xuồng thêm một lượt, rồi lại ngước sang ông già, quần áo tả tơi, mặt mũi còn hằn vẻ mệt mỏi sau những ngày vượt rừng. Lão im lặng một hồi, khẽ tặc lưỡi, thò tay vào túi vải lấy thêm một nén bạc, đặt cạnh hai nén đã đếm sẵn.
"Thôi... cầm ba nén đi. Ngộ coi như giúp người một chuyến. Sống mà ra khỏi rừng U Minh, không phải ai cũng có cái phước đó."
Vừa rời khỏi bến mộc xô bồ, hai ông cháu hội hợp rồi tấp vào một quán nước lợp lá tranh lụp xụp ven bờ để dọ hỏi chuyến tàu lên Kinh.
Dưới bóng râm ẩm mốc của mái hiên, một lão già trạc lục tuần đang ngồi nheo mắt vá mảnh lưới rách chỉ bằng một tay. Cánh tay trái của lão cụt ngủn từ dưới khuỷu, mỏm thịt kết lại thành một vết sẹo lớn, co rúm và nhăn nheo như rễ cây bị sét đánh. Ngay dưới chân lão, một thanh mã tấu đã mẻ lưỡi, hoen rỉ nằm chỏng chơ như một thứ đồ bỏ đi.
Ông nội dừng bước, ánh mắt lướt nhanh qua mỏm cụt rồi khẽ nheo lại. Một tia nhìn sắc lạnh nhưng chất chứa sự đồng cảm thoảng qua. "Ông ba mươi?" – Ông nội cất giọng trầm trầm, buông một câu hỏi cộc lốc.
Lão già ngừng tay vá, ngước lên. Ánh mắt đục ngầu vẩn lên một tia u uất. Lão khẽ lắc đầu, nhếch mép đáp gọn lỏn: "Người."
Lão già dời ánh mắt, hất chiếc cằm lởm chởm râu về phía bến tàu san sát cột buồm: "Đừng đi chiếc buồm đen sờn góc kia. Chủ tàu tham như mõ. Hễ ra khơi gặp gió chướng, để giữ tàu, nó sẵn sàng ném cả hàng hóa xuống biển... có khi, nó quăng luôn cả người."
Ông nội chậm rãi gật đầu.
Lão già dùng ngón tay cái và ngón trỏ của bàn tay còn lại kéo căng sợi chỉ lưới, nói tiếp:
"Cứ nhắm chiếc ba cột buồm có treo cờ đỏ đằng góc bến mà đi. Tàu của lái buôn Phúc Kiến. Lão chủ tính tiền vé gắt gao từng cắc, nhưng được cái trọng chữ tín. Cầm tiền là giữ mạng cho khách."
Lành đứng cạnh, trân trân nhìn cuộc đối thoại kỳ lạ. Cậu không hiểu vì sao chỉ bằng vài câu nói cụt lủn, không đầu không đuôi, hai người đàn ông xa lạ lại có thể tin tưởng và thấu hiểu nhau đến thế.
Con thuyền buồm ba cột sừng sững neo ngoài cầu gỗ. Trên boong, thủy thủ tất bật cuộn dây, kéo buồm, chuẩn bị nhổ neo theo con nước đang lên. Dưới chân cầu ván, một gã cai thuyền mặt mũi lạnh tanh ngồi sau chiếc bàn gỗ thấp, vừa ghi tên khách vừa thu lộ phí. Mỗi người muốn lên tàu đều phải nộp bạc, rồi nhận một thẻ tre khắc ký hiệu để trình lúc lên boong.
Ngay trước bàn ghi danh lúc này là một gia đình bốn người đang quỳ rạp dưới đất. Người đàn ông đen đúa chìa ra một nắm tiền lẻ, giọng nghẹn lại van nài: "Quan gia... Thiếu đúng nửa nén. Xin cho tôi khất, ra tới Gia Định tôi trói thân làm trâu ngựa để trả..."
Chỉ bằng một cái gạt tay cộc lốc của gã cai, nắm tiền lẻ rơi tung tóe, lăn lóc. "Không đủ thì xuống."
Người đàn bà rú lên khóc. Đứa trẻ còi cọc trong ngực chị chẳng buồn cựa quậy, nó đã lịm đi vì đói và kiệt sức. Người cha trào nước mắt định dập đầu van xin thêm, nhưng hai tên thủy thủ đã sấn tới, xốc nách lôi tuột cả nhà xuống khỏi cầu. Hàng người chờ lên thuyền vẫn nối dài, nhưng tịnh không một ai dám mở miệng. Sự câm lặng vây bọc lấy bến tàu ồn ã.
Lành đứng đó, đôi mắt trân trân nhìn theo. Bàn tay cậu siết chặt lấy túi bạc giấu bên hông đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Ba nén bạc... Đó là tiền bán đi cả chiếc xuồng, là máu thịt, là con đường sống duy nhất của hai ông cháu. Nếu đưa ra... cậu và ông nội sẽ là những kẻ tiếp theo bị tống cổ khỏi cây cầu này.
Bất giác, một bàn tay thô ráp đặt nhẹ lên vai cậu. Lành quay lại. Ông nội nhìn cậu, không nói một lời. Ánh mắt ông đủ để níu Lành đứng yên tại chỗ, chân không bước, tay không nhúc nhích. Gia đình kia lầm lũi ôm nhau cất bước. Tiếng khóc nấc chìm nghỉm, rồi nhỏ dần giữa biển người huyên náo. Lành cúi gằm mặt.
Tới lượt hai người, ông nội lặng lẽ đặt hai nén bạc xuống bàn. Gã cai nhấc lên cân thử, bĩu môi. "Chỉ đủ hai chỗ dưới khoang. Cơm nước tự lo. Hàng hóa mang theo thì..."
Ông lão khẽ gật đầu, không nói một lời. Đợi gã ghi xong thẻ tre, ông mới chậm rãi đưa tay vào thắt lưng, lấy ra một miếng ngọc bội đã ngả màu theo năm tháng. Miếng ngọc không lớn, nhưng được chạm nổi hình kỳ lân đang đạp mây, nét đục tinh xảo khác hẳn đồ của thường dân. Ông lão khép bàn tay gã cai lại, chỉ đủ để hắn nhìn thấy mặt ngọc. Sắc mặt gã lập tức đổi khác.
Hắn mở to mắt, ngẩng phắt lên nhìn ông lão, rồi cúi xuống nhìn lại miếng ngọc thêm một lần nữa như sợ mình nhận nhầm. Sự xấc xược ban nãy biến mất không còn dấu vết. Gã vội vàng đứng dậy, hai tay nâng trả ngọc bội, hạ giọng:
"Dạ... xin lão bá thứ lỗi. Mời hai vị theo tiểu nhân."
Không hỏi thêm một câu, gã tự tay dẫn hai ông cháu băng qua dòng người chen chúc, quát đám phu khuân vác tránh đường rồi đưa họ đến cây cầu ván dành cho khách. Đám thủy thủ thấy vậy cũng chỉ liếc nhìn miếng ngọc thấp thoáng trong tay gã cai rồi im lặng nhường lối, không ai dám ngăn cản.
Lành đặt chân lên tấm cầu ván bằng gỗ lim dày cộm. Dưới chân cậu, nước sông Bassac vỗ ì oạp vào mạn tàu, làm cả con thuyền khẽ chòng chành. Cậu vô thức ngoái đầu nhìn về phương nam.
Phía chân trời, rừng tràm U Minh chỉ còn là một dải đen mờ mịt, chìm dần sau màn hơi nước và những con sóng đục ngầu. Mảnh đất ấy đã nuốt biết bao sinh mạng, chôn vùi biết bao bí mật, để lại trong lòng cậu những tiếng gọi mơ hồ như vẫn còn vọng theo từ giữa rừng sâu.
Một hồi tù và dài xé ngang mặt sông. Dây neo được thu lên. Những cánh buồm no gió chậm rãi căng phồng, đưa con tàu rời bến, mang hai ông cháu xuôi theo dòng nước, hướng về Kinh thành. Cậu ngoái đầu nhìn lại. Rừng tràm U Minh giờ chỉ còn là một vệt đen mờ mịt khuất lấp sau những ngọn sóng đục ngầu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.