U Minh

Chương 5: Xuôi Con Nước

Đăng: 10/07/2026 09:54 2,088 từ 4 lượt đọc

"Bìm... bịp...Bìm... bịp..." Âm thanh ấy vọng từ bãi tràm bên kia kinh sang, rồi lịm đi, để lại một khoảng lặng mỏng tang khiến người ta càng nghe rõ hơn tiếng mái chèo khua nhè nhẹ dưới lòng xuồng. Ở vùng này, dân khẩn hoang vẫn truyền nhau rằng bìm bịp cất tiếng lúc tảng sáng là báo rừng sắp đổi hơi, nước sắp chuyển dòng, trời có thể trở gió hoặc kéo mưa.

Lành mở mắt, toàn thân ê ẩm vì nằm co quắp suốt một đêm trên chiếc xuồng ba lá chật hẹp. Cậu chống tay ngồi dậy, theo thói quen đưa mắt nhìn quanh. Mặt sông yên lặng đến kỳ lạ, không còn dấu vết nào của những tiếng thì thầm quái dị hay những đợt sủi bọt dưới đáy thuyền đêm qua. Chỉ có vài vòng sóng nhỏ loang dần rồi tan biến giữa dòng nước lặng.

Ông nội đã thức từ lúc nào. Lão ngồi ở mũi lái, lặng lẽ mài lại lưỡi rựa bằng hòn đá nhám mang theo bên mình. Thấy Lành tỉnh giấc, ông chỉ khẽ gật đầu về phía mạn xuồng. Cậu cúi xuống nhìn, bất giác khựng lại. Lớp nhựa tràm pha tro bếp quét dọc thân ghe đã xuất hiện từng vệt đen nhòe như bị vô số bàn tay bùn đất nhớp nháp miết qua trong đêm. Riêng miếng bùa gỗ mít nơi cậu từng đặt tay trước lúc ngủ lại sạch bong một cách lạ lùng, những nét khắc cũ kỹ hiện lên rõ ràng hơn dưới ánh nắng sớm. Ông nội không giải thích, chỉ lặng lẽ lấy thêm nhựa tràm quét đè lên những dấu vết ấy rồi bình thản nói: "Nước lớn đang lên. Hôm nay chèo sẽ khỏe hơn, nhưng cũng phải coi chừng những khúc sông giao nhau." Chiếc xuồng lại nhẹ nhàng rời khỏi màn sương, xuôi dòng về phía Sông Cửa Lớn.

Lòng kinh hẹp lùi lại phía sau, nhường chỗ cho mặt sông rẽ nhánh thênh thang. Hai ông cháu nương theo con nước lớn, thỉnh thoảng tạt ghe vào những mảng rừng thưa ven bờ, với tay hái vội mớ trái giác, trái bần chua ăn dằn bụng.

Khi mặt trời đứng bóng trưa, từ khúc quanh rợp bóng dừa nước, một trấn nhỏ lưa thưa vài mươi nóc nhà lợp lá xé hiện ra trên bãi bồi. Cột mũi xuồng vào cọc bến, bằng chút sản vật rừng vặt vãnh, họ nhanh chóng đổi được một vò nước ngọt và ít bánh bột nướng. Ngồi nghỉ dưới gốc bàng râm mát, ông nhồi một điếu thuốc rê, đưa mắt nhìn những chiếc ghe buôn đủ kiểu dáng đang neo đậu, rồi trầm ngâm rỉ tai Lành.

"Con nhìn mấy chiếc ghe lườn xọc xệch đậu đằng kia, rồi nhìn sang dãy nhà sàn cọc tràm cao nghêu kia mà ngẫm," ông nội rít một hơi thuốc sâu, làn khói xám đục quện vào cái nóng hầm hập của buổi trưa, giọng ông hạ thấp đầy vẻ trải nghiệm. "Đất U Minh này rộng mênh mông, nhưng cái mạng người muốn cắm rễ được thì phải biết nhìn người mà chọn chỗ, lựa lối mà đi."

Ông chỉ tay về phía những người đàn ông da ngăm đen, tóc xoăn tự nhiên đang thản nhiên ngồi vá lưới dưới bóng râm bến sông: "Xứ này vốn là cõi thiêng lâu đời của người Khmer. Họ am tường từng mạch nước, hiểu tính nết từng con sấu ngầm, lại biết cách thờ cúng những vị thần đất, thần rừng bảo hộ. Người Khmer thường chọn những vùng giồng cát cao ráo, cận rạch lớn để lập sóc, lập chùa. Họ sống nương vào đại ngàn chứ không có tham vọng bạt rừng xẻ kinh. Bởi vậy, hễ đi sâu vào những vạt rừng già mà thấy những ngôi miếu cổ ẩn dưới bóng cây bồ đề, cây thốt nốt, con phải giữ lòng thanh tịnh, tuyệt đối không được phạm vào cái thiêng của họ."

Ông nội khẽ dừng tay quạt, ánh mắt hướng về những vạt rừng tràm ngút ngàn phía tây, nơi hai ông cháu vừa thoát ra: "Còn người Kinh mình, mang tiếng là theo lệnh triều đình vào khẩn hoang, thực chất toàn là dân nghèo xơ xác, dạt xứ lưu vong trốn lính, trốn thuế hay loạn binh đao. Người Kinh chiếm những vùng đầm lầy, ven các lòng kinh rạch hẹp. Mình là kẻ đến sau, muốn có tấc đất cắm dùi thì phải đổ máu và mồ hôi để phạt cỏ, dọn tràm, làm lúa trời. Cái xứ rừng thiêng nước độc này vốn không ưa kẻ bạo gan gượng ép nó, nên cái mạng người Kinh mình ở đây mong manh lắm, hễ sơ sẩy là làm mồi cho cọp, cho sấu, hoặc vùi thây dưới vũng sình sốt rét."

Ông im lặng một chút, đưa mắt nhìn về phía ngã ba vàm sông rộng lớn, nơi có vài hiệu buôn khang trang hơn, có treo đèn lồng đỏ cheo leo: "Riêng người Hoa, họ nhạy bén với thời cuộc và tiền bạc hơn cả. Họ là dân Minh Hương chạy loạn, hoặc thương nhân theo các thương thuyền từ biển vào. Người Hoa không vào sâu trong rừng gánh cuốc phá hoang, họ chọn trấn giữ các cửa biển, vàm sông lớn, những nơi giao thương sầm uất để lập phố buôn, mở bang hội. Họ thạo chữ nghĩa, giỏi tính toán, nắm giữ mạch máu kinh tế từ hạt gạo, khúc gỗ cho đến cân thuốc Bắc. Ông học được thuật nhìn trời đoán đất cũng là từ một lão thầy thuốc người Hoa năm xưa ngoài thành Gia Định."

Ông nội quay sang nhìn thẳng vào mắt Lành, ánh mắt già nua chợt trở nên sắc sảo như muốn găm bài học này vào đầu đứa cháu: "Ba nhóm người, ba lối sống tạo thành cái thế chân kiềng ở vùng đất này. Sắp tới, khi xuôi dòng qua ngả Năm Căn rồi ra đến dòng Bassac, con sẽ thấy ranh giới giữa các vùng chồng chéo lên nhau. Nơi nào có sự cân bằng thì có chợ búa, làng xóm yên ổn. Nơi nào ranh giới bị phá vỡ, hoặc có kẻ tham lam lấn chiếm vô lối, nơi đó sẽ sinh ra thổ phỉ, quỷ dữ và oán khí ngút trời. Đi đường sông lớn, con mắt con phải nhìn xa hơn, cái đầu phải phán đoán được con nước này đang chảy vào cõi của ai, để biết đường mà giữ mạng."

Nghỉ ngơi chốc lát, chiếc xuồng ba lá tiếp tục xuôi dòng. Đến chạng vạng, bóng tối sập xuống nhanh chóng, mặt sông lớn bắt đầu lộng gió và lạnh gáy. Khi chiếc xuồng vừa chèo ngang qua một nhánh sông nhỏ, không khí bỗng chùng xuống, lạnh buốt một cách dị thường. Lành đang ghì mái dầm bỗng khựng tay, trực giác nhạy bén bắt đầu cảnh giác. Phía bên trong khúc sông nhánh ấy, sương mù từ hai vạt tràm sập xuống rất nhanh, quánh đặc lại và dựng thành một bức vách trắng xóa chắn ngang dòng nước nhỏ. Kỳ lạ thay, dòng sông nhánh lờ lững đến đây liền đứng im phăng phắc, những bóng tràm bên bờ vặn vẹo như đang tự nối đuôi nhau xoay tròn dối lừa thị giác.

"Ma dựng tường, quỷ chặn sông," ông nội hừ lạnh một tiếng, mái sào tre trong tay ông lập tức thúc mạnh xuống đáy lòng kinh, ghì chặt mạn xuồng cố định giữa dòng nước chảy xiết. "Chúng nó muốn mượn con nước ngược để lôi mình vô đó. Lành,cứ nhắm thẳng bờ nam mà chèo!"

Lành cắn chặt răng, cảm nhận luồng khí lạnh lẽo như những ngón tay vô hình đang bò trườn trên vách lá, cố níu lấy đuôi xuồng. Tai cậu nghe văng vẳng tiếng cười cợt chói lót trộn lẫn trong tiếng rào rạt của lá tràm. Cậu dùng hết khí sức bình sinh khua mạnh mái dầm. Chiếc xuồng ba lá lướt sượt qua mép bức tường sương ma quái, thoát hiểm ra lòng sông lớn rực ánh hoàng hôn đỏ bầm.

Chiếc xuồng lướt thêm một đoạn dài cho đến khi ánh hoàng hôn lịm hẳn, nhường chỗ cho bóng đêm tịch mịch bao trùm lấy mặt sông rộng. Ông nội khẽ ngoắc tay, hướng mũi sào vào một bãi bồi mọc đầy dừa nước đan xen vài gốc bần cổ thụ. Nơi đây dòng chảy khá êm, vách dừa nước dày cộm che chắn bớt ngọn gió chướng đang lồng lộn thổi từ ngoài biển vào, là chỗ lý tưởng để trú đêm.

Lành nhanh nhẹn nhảy xuống làn nước xăm xắp thắt lưng, bàn chân bấm chặt vào lớp bùn nhão để kéo xuồng nép sâu vào lùm dừa nước, rồi dùng dây mây buộc chặt cọc neo. Xong xuôi, hai ông cháu không ai bảo ai, lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị cho bữa ăn ngày mai. Lương thực đổi được ở trấn nhỏ vốn chẳng thấm vào đâu cho chặng đường dài dằng dặc phía trước.

Cậu lôi từ trong khoang ra cuộn dây câu cá lóc bện bằng sợi gai xơ xác và xấp lưới bén đã vá chằng vá đục. Lành lội lom khom dọc mé bãi bồi, chọn những khoảng nước đứng bên dưới các rễ bần chằng chịt để cắm câu. Cậu móc những con trùn hổ béo mập dính đầy đất sình vào lưỡi thép, cẩn thận gài cần câu tre dẻo dai sâu vào lòng đất. Cạnh đó, ông nội cũng lặng lẽ thả một tay lưới ngắn giăng ngang miệng lạch nhỏ. Những chiếc phao bằng thân cây móp dập dềnh trên mặt nước đặc quánh, chìm nổi tịch mịch trong sương.

Mọi việc hoàn tất khi sương đêm bắt đầu buông dày, lạnh buốt. Bước trở lại xuồng, Lành ngước nhìn vạt rừng đen thẫm dẫu trong lòng vẫn phập phồng chút lo âu về tà khí ban chiều, nhưng cái bụng chỉ mới được ăn cho qua bữa khiến cậu thầm mong mớ bẫy đơn giản này sẽ mang lại vài con cá lóc, cá trê cụ cho chuyến hành trình ngày mai. Ông nội vỗ vai cậu, ra hiệu nhóm chậu than tràm để xua muỗi. Đêm thứ hai trên sông lớn chính thức bắt đầu trong sự im lặng đầy cảnh giác.

Chậu than tràm đỏ hồng cháy âm ỉ, từng làn khói trắng quyện với mùi tinh dầu hăng hắc lan khắp khoang xuồng. Muỗi mòng vo ve một lúc rồi cũng tản dần vào màn đêm. Tiếng nước vỗ mạn xuồng đều đều, hòa cùng tiếng côn trùng rả rích và tiếng lá dừa nước cọ vào nhau tạo thành một nhịp điệu chậm rãi, bình yên hiếm có giữa vùng sông nước hoang vu.

Lành múc một ít nước sông vào chiếc gáo dừa, rồi nhặt một cành bần nhỏ đã hong khô làm bút. Dưới ánh trăng non mờ đục xuyên qua tán dừa nước, từng nét chữ Hán hiện lên rồi lại nhạt dần theo hơi nước bốc đi. Viết xong một hàng, cậu lại viết tiếp hàng khác, không để tay ngơi nghỉ. Lành khe khẽ đọc từng mặt chữ, cố giữ cho thanh âm không vượt khỏi khoang xuồng. Đọc đến đâu, ký ức về những năm tháng còn ở Gia Định lại hiện về đến đó.

Cậu nhớ về dáng vẻ hiền từ của mẹ, bóng lưng vững chải của cha, nhớ cảnh gia đình êm ấm. Cậu nhớ những người bạn cùng chơi thuở nhỏ. Cậu nhớ lão thầy đồ, cô bán bánh bao, bác trai ở xưởng đóng tàu,... Mỗi một cái tên hiện ra, Lành lại cảm thấy lòng mình thắt lại – một sự hoài niệm xen lẫn nỗi đau âm ỉ. Những ký ức ấy như những đóm lửa nhỏ nhoi, giúp cậu sưởi ấm tâm hồn giữa vùng rừng thiêng nước độc lạnh lẽo này.

Đêm ấy rốt cuộc không có tiếng gọi lạc từ màn sương, cũng chẳng có bóng người lững thững bước trên mặt nước như những đêm trước. Chỉ còn tiếng sóng lăn tăn vỗ vào mạn xuồng, tiếng lá dừa nước xào xạc mỗi khi gió chướng lùa qua, hòa cùng tiếng côn trùng rả rích kéo dài bất tận.

0