Võ Hiệp Đại Quy Hoạch

Chương 19: Kẻ Tìm Đạo

Đăng: 12/06/2026 14:51 4,275 từ 3 lượt đọc

Trở lại với chân thân Ái Thành, hắn lúc này đang ngồi sau bàn tính tiền ở tầng trệt của Vạn Quyển Lâu. Trên tay hắn là một cuốn sách có tựa đề "Đại Tần Truyện Gió Trăng", nội dung ghi chép lại những giai thoại tình ái nổi tiếng tại đất Tần.

Thực chất, phần lớn các chương hồi trong sách đều xoay quanh Triệu thái hậu cùng những người tình của bà ta. Ái Thành lật qua vài trang, chân mày khẽ nhíu lại. Những tình tiết được biên soạn trong đây vô cùng quá quắt và phi lý, khiến hắn không khỏi hoài nghi về tính xác thực của cuốn sách này.

Hắn vừa lười biếng lật sách, vừa lên tiếng hỏi vào khoảng không:

– Hôm nay là ngày khai mở Cường Giả Kỳ Truyện. Lão tính chọn ai để bắt đầu?

Từ trong hư không, không gian khẽ dao động rồi vang lên tiếng trả lời của lão Bát:

– Ta chọn Tiêu Dao Tử.

Ái Thành khựng ngón tay lại trên mặt giấy, thắc mắc:

– Tại sao lại là hắn? Ta nghĩ Trương Tam Phong hay Phu Tử sẽ là lựa chọn tốt hơn, ông ấy có nhiều người biết đến và sức ảnh hưởng trong thiên hạ rõ ràng lớn hơn hẳn.

Giọng điệu lười biếng của lão Bát lại truyền ra:

– Tiêu Dao Tử là một kẻ thiếu trách nhiệm, nhưng năng lực dạy người của lão lại rất tốt. Các đệ tử do chính tay lão dạy dỗ, hay ngay cả những người từng được lão tùy ý chỉ điểm qua, sau này đều có thành tựu không hề tệ. Thậm chí nếu chỉ xét về mặt tu vi thôi thì khả năng dạy dỗ của ông ta còn hơn cả Phu Tử. Ta tính chiếu lại cảnh lão chỉ điểm cho những nhân vật đó, mượn cơ hội này để bắt đầu phổ biến tu hành cho chúng sinh. Đồng thời, cuộc đời lão cũng có vài phần huyễn ảo để những người dân bình thường bắt đầu hiểu được những thần tiên kia thật ra cũng từng là người thường, và họ chỉ đơn giản là có được cơ duyên và vận dụng tốt cơ duyên đó mà thôi.

Nghe lời giải thích, Ái Thành trầm ngâm một lát rồi thấy cũng có lý. Mục đích của Cường Giả Kỳ Truyện lần này chính là nâng cao chiến lực nền tảng cho toàn thế giới. Việc dùng một người có kỹ năng chỉ dạy cao như Tiêu Dao Tử để làm bài học vỡ lòng cho thiên hạ là bước đi chuẩn xác.

Hắn không quản lão Bát nữa, cúi đầu định tiếp tục đọc cuốn dã sử Đại Tần trên bàn.

Hự.

Ngay khoảnh khắc đó, một cơn đau dữ dội đột ngột ập tới từ sâu trong khoang bụng. Ái Thành nhăn nhúm mặt mày, hai tay ôm chặt lấy bụng, suýt chút nữa đã ngã quỵ xuống cạnh bàn tính tiền.

– Thứ thiếu lễ nghĩa.

Tiếng cười nhạt của lão Bát vang lên bên tai trước khi thần thức của lão hoàn toàn im lặng.

Cùng một khắc đó, khi mặt trời vừa khuất sau rặng núi phía tây.

Cơn đau cuộn lên trong bụng dần dịu đi, Ái Thành hít một hơi sâu rồi gượng người đứng thẳng dậy bên bàn tính tiền. Hắn lau vệt mồ hôi mỏng trên trán, ánh mắt nhìn qua ô cửa sổ của Vạn Quyển Lâu.

Ngoài kia, bầu trời Thất Hiệp Trấn bỗng nhiên biến đổi. Không chỉ có bầu không khí tại cổ trấn này cô đặc lại, mà trên vòm trời của toàn bộ thiên hạ, từ kinh thành Trường An của Đại Đường, những tòa thành đá của Đại Tần, cho đến vùng sông nước Đại Tống... một luồng áp lực vô hình từ trên cao đột ngột phủ xuống.

Một tiếng chuông trầm đục vang vọng thẳng vào tâm trí của từng người, bất kể là bậc quân chủ đang ngồi trên ngai vàng hay kẻ phu phen lam lũ. Khe sáng khổng lồ giữa thiên khung từng xuất hiện cách đây bảy ngày lại một lần nữa mở rộng. Vô số hàng chữ bằng đạo ngữ cổ xưa bắt đầu hiện lên, lơ lửng giữa trời và tự động chuyển hóa thành ý niệm truyền vào đầu người xem.

【 Nguyện làm cánh chim bằng vượt gió, tiêu dao tự tại giữa đất trời. Sinh ở phú quý mà không tham, sinh trong quyền lực mà không ngạo. 】

Đó chính là câu nói lột tả hết được nửa đời trước của Tiêu Dao Tử.

Hình ảnh trên trời dịch chuyển vào trong một cung điện nguy nga. Cột xà bằng gỗ quý ngát hương, nền lót bạch ngọc thanh khiết, hoa văn chạm bong tinh xảo, rèm lụa rủ nghìn tầng khảm xà cừ. Có tiếng khóc của một đứa trẻ vừa mới chào đời. Hắn là vị nhị hoàng tử vừa mới sinh của Tống quốc thời Triệu Khuông Dận còn sống, và Tống quốc lúc đó còn là một trong bảy đại cường quốc.

Người đỡ đẻ ôm hắn đưa đến trước mặt người phụ nữ suy yếu có khuôn mặt tái nhợt sau sinh: – Nương nương, là con trai ạ.

Nghe vậy thì bà nở nụ cười rồi ngất lịm đi. Một người đàn ông lực lưỡng, uy nghiêm và sát phạt bước đến, tất cả thị nữ và người hầu đều đồng loạt quỳ bái kiến. Ông nở một nụ cười rồi ôm lấy đứa trẻ. Sau này, nó sẽ gọi là Triệu Nhã.

Qua một thời gian sau, đứa trẻ năm ấy giờ đã mười tuổi. Sinh ra là vị nhị hoàng tử của cường quốc, hắn chịu rất nhiều áp lực phải xuất sắc để gánh vác trọng trách sau này, và may mắn thay hắn làm được điều đó. Lên năm tuổi hắn đọc thuộc tất cả sách trong thư các, lên bảy tuổi luận văn thắng tiên sinh dạy mình, mười tuổi đã bước vào Nhất phẩm.

Hôm nay cũng như bao ngày, hắn đang cùng tiên sinh của mình học tập. Thật ra từ một năm trước ông ta đã không còn gì để dạy hắn, nói là học hành không bằng nói là cuộc trò chuyện của hai người.

– Thưa Hoàng tiên sinh, theo ngài thế nào là hạnh phúc?

Lão thư sinh già suy nghĩ một lúc mới đáp:

– Được ở bên gia đình của mình và cống hiến cho đất nước này là ta cảm thấy vui rồi.

– Vậy bây giờ ngài hạnh phúc sao?

Lão nhẹ gật đầu:

– Ta hạnh phúc chứ. Ta sinh ra trong một làng chài, chỉ là một tên thư sinh nghèo nhưng nhờ có sự đề bạt của bệ hạ mà ta có thể ở đây sống một cuộc đời trong mơ của mình. Hoàng tử, ngài sau này nếu kế vị ngai vàng phải nhân đức thánh minh như bệ hạ. Nếu làm vương giả phải trợ giúp bá tánh ổn định xã tắc, ngài hiểu sao?

Triệu Nhã khẽ gật đầu nhưng trong lòng thì lại nghĩ: "Đấy là hạnh phúc của ông, vậy hạnh phúc của ta là gì?"

Năm mười bảy tuổi, mẫu thân hắn thất sủng do tranh đoạt ngôi vị hoàng hậu thất bại, rồi hai năm sau bị độc chết nơi lãnh cung. Hắn quỳ ba ngày ba đêm trước cửa điện của phụ hoàng mình, đáng tiếc ông không đáp lại hắn. Hắn mang một cơ thể rệu rã trở về nằm co rọi trên chiếc giường. Hắn không hận cha mình, hắn hiểu cho mẫu thân mình, hắn cũng không trách ai cả, chỉ là hắn cảm thấy trống rỗng, mệt mỏi và kiệt sức.

Hắn chán cảnh phải bị ám sát khi ra ngoài, chán cảnh lúc nào cũng phải tươi cười giả tạo, chán bộ y phục rườm rà, chán những lễ nghi phiền phức. Thế là hắn đứng người dậy, cởi bỏ bộ quần áo quý giá trên người mình, bận lên mình một bộ quần áo thái giám và trốn ra khỏi hoàng cung để đi tìm hạnh phúc cho bản thân mình ở phương xa.

Trên bờ tường thành cao khuất, có hai bóng người đứng nhìn theo. Một người chính là Hoàng tiên sinh, người còn lại là một lão thái giám.

– Cứ để ngài ấy đi vậy sao? – Hoàng tiên sinh hỏi.

Lão thái giám đáp: – Là ý của bệ hạ. Ngài bảo có lẽ đứa bé này là một tia sinh cơ cho Đại Tống mai sau.

Hoàng tiên sinh thở dài một tiếng rồi thôi.

Sau khi trốn khỏi hoàng cung Đại Tống, Triệu Nhã bắt đầu hành trình lưu lạc vạn dặm của mình. Hắn không còn là vị nhị hoàng tử cao quý được người người hầu hạ, mà chỉ là một kẻ lữ hành vô danh mang theo nỗi trống rỗng trong lòng. Hắn đi qua những vùng thôn trấn nghèo khổ của Đại Tống, chứng kiến nạn tham nhũng hoành hành và cuộc sống lầm than của bá tánh. Hắn băng qua biên cảnh, đặt chân đến hoang mạc trù phú của Đại Nguyên, rồi lại ngược lên vùng sông nước hữu tình của Đại Đường.

Càng đi nhiều, thiên phú võ học bẩm sinh của hắn càng được kích phát mãnh liệt. Hắn nhìn ngắm vạn vật, nhìn ngắm chúng sinh, từ thế đánh của một gã tiều phu đốn củi cho đến dòng chảy tự nhiên của một con suối nhỏ, tất cả đều biến thành chất liệu cho võ đạo của hắn. Tu vi của hắn cứ thế mà hát vang tiếng mạnh, đột phá từ Tiên Thiên lên Tông Sư, rồi vững vàng đặt chân vào Đại Tông Sư, làm cho hắn nhận ra hạnh phúc của mình chính là được ngắm nhìn thế gian muôn màu.

Trên con đường này, hắn gặp được hai vị bằng hữu. Một người là Đoàn Tư Bình, con của một tiểu lại ở vùng biên thùy hoang dã. Người còn lại là Mộ Dung Long Thành, hậu duệ của một Đại Yên từng hùng mạnh năm xưa.

Cả ba gặp nhau tại một quán rượu xập xệ bên rìa sa mạc Đại Nguyên, khi một toán cướp vùng biên đang vây hãm chủ quán.

Màn trời chiếu cảnh Đoàn Tư Bình lúc đó tóc tai bù xù, tay không giật lấy một thanh trường thương của tên cướp, chỉ một cái thúc bả vai đã bẻ gãy xương ngực đối phương. Cách ra đòn của hắn thô lạp, nồng nặc mùi máu và cát bụi biên thùy. Hắn không biết một chữ bẻ đôi về kinh thư, nhưng nhãn quan chiến đấu lại nhạy bén như thú dữ.

Ngồi ở góc bàn đối diện, Mộ Dung Long Thành lạnh lùng nhìn ra cửa sổ. Khi một tên cướp lao tới, hắn không rút kiếm, chỉ dùng hai ngón tay kẹp lấy lưỡi đao, khẽ vặn cổ tay. Thân đao bằng thép tốt liền gãy làm đôi, mảnh vỡ găm thẳng vào yết hầu kẻ địch. Ánh mắt hắn khi giết người không có nửa điểm gợn sóng, chỉ có một nỗi u uẩn thâm sâu.

Triệu Nhã ngồi giữa hai người họ, đặt một đồng tiền đồng xuống bàn tính tiền, rồi thản nhiên dùng một chiếc đũa gạt nhẹ, hóa giải một luồng kình khí đang bay thẳng về phía hũ rượu.

Đoàn Tư Bình ngoảnh lại nhìn, nhổ một bạt nước bọt lẫn máu ra đất, cười khàn khàn: – Huynh đệ, lực tay tốt đấy. Đi đâu đây?

Triệu Nhã đón gió cát ngoài cửa, điềm nhiên đáp:

– Đi xem thiên hạ này có gì thú vị.

Mộ Dung Long Thành lúc này mới quay đầu lại, nhìn chiếc đũa gỗ găm sâu nửa tấc vào mặt bàn đá mà không hề nứt vỡ, nhàn nhạt lên tiếng:

– Đi chung không?

– Được.

Ba kẻ trẻ tuổi, ba xuất thân hoàn toàn khác biệt, cứ thế đi bên nhau qua những năm tháng giang hồ dài rộng. Người xem khắp thiên hạ nhìn thấy họ cùng nhau uống loại rượu rẻ tiền nhất bên bờ sông Biện Kinh, cùng che chung một tấm áo tơi rách dưới cơn mưa tầm tã đất Đường. Không có những bộ công pháp thần bí nào được nhắc đến, chỉ có những đêm ba người ngồi quanh đống lửa, Đoàn Tư Bình dùng cành củi vạch xuống đất những đường chỉ lực hoang dại, Mộ Dung Long Thành thì múa kiếm giữa đống lửa bập bùng, còn Triệu Nhã thì lặng lẽ lắng nghe tiếng gió thổi qua tán lá để điều hòa hơi thở.

Tu vi Đại Tông Sư của họ không phải do ngồi một chỗ bế quan mà thành, đó là kết quả của vạn dặm lội bộ, của những vết sẹo chồng chất sau những lần ngửa người né đao kiếm ngoài biên viễn. Họ trở thành tri kỷ, thứ tình cảm thuần túy được rèn đúc từ những ngày tháng đói rách nhưng tự tại. Triệu Nhã tưởng rằng mình đã tìm thấy câu trả lời cho hai chữ hạnh phúc.

Năm ba miêu tuổi, khi tu vi của cả ba đều đã chạm đến ngưỡng cửa của Đại Tông Sư đỉnh phong, họ vô tình có được một manh mối cổ xưa về một vùng thung lũng ẩn thế nằm giữa vùng núi cao quanh năm tuyết phủ của Thổ Phồn. Nơi đó được gọi là Bất Lão Trường Xuân Cốc, tương truyền cất giấu suối nguồn trường sinh và một phiến đá chứa đựng thiên thư của đất trời.

Ba người họ, mỗi người mang một tâm tư riêng, quyết định cùng nhau lên đường tìm kiếm. Đoàn Tư Bình muốn tìm một thứ sức mạnh để có thể bảo hộ tộc nhân vùng biên thùy trước cảnh lầm than của binh đao. Mộ Dung Long Thành khao khát có được tuổi thọ vô biên để mưu cầu đại nghiệp phục quốc kéo dài trăm năm của gia tộc. Còn Triệu Nhã, hắn đi chỉ vì muốn nhìn xem cái gọi là "bất lão trường xuân" có thực sự là bến đỗ cuối cùng của hai chữ hạnh phúc hay không.

Hành trình lội qua những dải sương mù dày đặc và vách đá dựng đứng của đất Thổ Phồn hiện lên rõ nét trên màn trời. Không ai nói với ai câu nào, bước chân của họ lún sâu vào tuyết lạnh, cô độc và kiên định.

Sau ba tháng ròng rã, họ cũng đến được nơi cần đến. Và may thay, cũng là tiếc thay, cả ba đều tìm lối vào nhưng chỉ có Triệu Nhã được Bất Lão Trường Xuân Cốc đón nhận. Two người kia vì mang quá nhiều tâm tư hỗn loạn, cốc không cho họ vào, nhưng lại cho họ một phần thưởng khác: một ngụm nước ngộ đạo và một phần truyền thừa của một người có xưng hào Võ Thánh.

Cả hai chia phần truyền thừa này. Đoàn Tư Bình lấy đi ngụm nước, về sau sáng tạo ra Khô Vinh Thiền Công. Còn Mộ Dung Long Thành lấy phần truyền thừa còn lại, tạo ra Đẩu Chuyển Tinh Di.

Màn hình siêu thực lơ lửng trên thiên khung khẽ lay động, sắc màu rực rỡ của thung lũng đột ngột thu hẹp lại, nhường chỗ cho một khoảng không u tịch và tĩnh lặng tuyệt đối. Lối vào Bất Lão Trường Xuân Cốc đã khép.

Bên ngoài thác nước đóng băng, Đoàn Tư Bình và Mộ Dung Long Thành đứng lặng trong gió tuyết, trên tay mỗi người là một phần cơ duyên mà thung lũng lưu lại. Một ngụm nước ngộ đạo trôi vào cổ họng, Đoàn Tư Bình nhắm nghiền hai mắt, ngồi xếp bằng ngay trên tuyết lạnh, quanh thân bỗng nhiên phát ra hai luồng khí tức đối lập: một bên tràn đầy sinh cơ như mùa xuân, một bên tàn lụi khô héo như mùa đông. Khô Vinh Thiền Công từ đó mà có phôi thai.

Cách đó không xa, Mộ Dung Long Thành ôm lấy phần truyền thừa của Võ Thánh, ánh mắt thâm u nhìn vào khoảng không, tay khẽ vạch ra một đường bán nguyệt, mượn chính lực lượng của bông tuyết đang đổ xuống để đánh trả lại hư không. Đẩu Chuyển Tinh Di cũng từ đây mà lập thế.

Nhìn thấy cảnh này, người xem khắp thiên hạ rốt cuộc cũng hiểu ra một điều: Những môn thần công trấn phái ngàn năm bấy lâu nay, hóa ra chỉ là một chút vụn vặt rớt ra từ cái khe cửa của Bất Lão Trường Xuân Cốc mà thôi.

Nhưng màn trời lúc này không còn lưu lại bên ngoài nữa, ánh sáng đã hoàn toàn khóa chặt vào bóng dáng của Triệu Nhã khi hắn bước qua ranh giới của cốc.

Bên trong Bất Lão Trường Xuân Cốc không có tiên cảnh rực rỡ, không có cung điện vàng ngọc như người đời vẫn tưởng tượng về nơi trường sinh. Nơi đây mang một phong vị tịch mịch, thanh nhã và đầy phong trần.

Một con đường nhỏ trải đầy lá rụng dẫn vào sâu trong thung lũng. Two bên đường là những gốc cây già cỗi, thân cây sần sùi nhưng cành lá lại xanh um, nở ra những bông hoa nhỏ màu trắng nhạt không tên. Hương hoa thoang thoảng, không nồng, nhưng ngửi vào liền khiến lòng người phẳng lặng như mặt hồ không chút gợn sóng.

Triệu Nhã bước đi chậm rãi. Bộ quần áo tiểu thái giám cũ kỹ trên người hắn đã sờn rách sau ba tháng lội tuyết, nhưng phong thái của hắn lúc này lại tự tại vô biên. Hắn không nhìn ngó xung quanh để tìm kiếm bí tịch, cũng không vội vã đi tìm suối thần.

Đi được một đoạn, bóng sương mù phía trước dần tản ra, lộ ra một ngôi làng nhỏ lẳng lặng nằm bên sườn núi. Khung cảnh trong làng hiện ra trên màn trời khiến vô số kẻ quyền quý ngoài thế gian phải ngỡ ngàng. Ở đây không có lăng tẩm, không có gấm vóc, chỉ có những nếp nhà tranh vách đất đơn sơ. Một vài bóng người đang đi lại trong sân. Người xem có thể thấy rõ, một gã tráng đinh đang vác củi bên bờ dậu, một người phụ nữ đang ngồi thêu thùa bên hiên cửa, và vài đứa trẻ đang đuổi bắt nhau dưới gốc cây.

Điều kỳ lạ duy nhất chính là dung mạo của họ. Gã tráng đinh kia có gương mặt thanh xuân của một thanh niên mười tám tuổi, nhưng ánh mắt lại già nua, trầm tĩnh như một lão nhân đã sống qua trăm năm bão táp. Người phụ nữ thêu áo có làn da trắng mịn không một nếp nhăn, nhưng mái tóc dài xõa ngang vai lại bạc trắng như cước. Họ không có tu vi, không biết võ công, hơi thở hoàn toàn là của những người bình thường. Nhưng họ lại sống một cuộc đời kéo dài đến vô tận, không già đi, không bệnh tật, ngày qua ngày lặp lại những công việc giản dị nhất giữa thung lũng u tịch này.

Triệu Nhã đi ngang qua một bờ dậu, một ông lão có gương mặt của một đứa trẻ lên mười đang ngồi đục đẽo một thanh củi khô. Ông lão ngẩng đầu lên, nhìn bộ quần áo rách rưới và đôi giày vải nát của Triệu Nhã, không hỏi hắn từ đâu tới, cũng chẳng ngạc nhiên vì sao có người ngoại tộc bước vào. Ông lão chỉ nhìn hắn bằng ánh mắt trong veo, khẽ cười nhạt rồi nói: – Khách phương xa, mệt mỏi rồi chứ? Lại đây uống hớp nước thanh.

Triệu Nhã dừng bước. Hắn nhìn đứa trẻ có ánh mắt trăm tuổi ấy, rồi nhìn những nếp nhà tranh lững lờ khói bếp. Hắn chợt hiểu ra. Trường sinh ở nơi này không phải là một loại quyền lực, cũng chẳng phải thứ dùng để xưng hùng xưng bá. Đối với những thôn dân ở đây, trường sinh chỉ đơn giản là một cuộc sống bình lặng, vô cầu vô niệm, giống như cỏ cây trên vách đá, xuân đến thì xanh, đông về thì lặng, sống lâu đến mức chính họ cũng quên mất thời gian là gì.

Hắn mỉm cười, cúi đầu tạ ơn ông lão rồi tiếp tục đi bộ về phía cuối con đường, nơi có một cái hồ nhỏ nằm lặng lẽ. Nước hồ không động, trong vắt đến mức có thể nhìn thấy từng viên sỏi nhẵn nhụi nằm dưới đáy. Giữa lòng hồ, một phiến đá khổng lồ màu đen xám lẳng lặng dựng đứng. Trên mặt đá không có những hàng chữ công pháp rườm rà, mà chỉ khắc vỏn vẹn mười hai chữ cổ, nét chữ phóng khoáng như muốn bay khỏi mặt đá:

“Thiên địa bất lão, trường xuân hữu hạn. Dục cầu tiêu dao, tiên đoạn hồng trần.”

Triệu Nhã đứng bên bờ hồ, lặng lẽ nhìn mười hai chữ kia. Hắn không ngồi xuống tham ngộ như khi ở ngoài thế gian. Hắn chỉ đứng đó, nhìn bóng mình phản chiếu dưới mặt nước hồ phẳng lặng.

Hắn chợt hiểu ra tại sao hai người bằng hữu của mình không thể vào đây. Nơi này không từ chối họ vì họ yếu, mà vì lòng họ quá nặng. Đoàn Tư Bình mang theo vạn dân biên thùy, Mộ Dung Long Thành mang theo vương triều đã mất. Họ muốn trường sinh để làm những việc lớn lao hơn, cường đại hơn. Họ bước vào thung lũng này với tâm thế của một kẻ muốn chinh phục, muốn cướp đoạt cái nền móng bất tử.

Còn hắn? Hắn vào đây chỉ vì muốn tìm kiếm câu trả lời cho hai chữ hạnh phúc. Mà hạnh phúc của Triệu Nhã, chính là buông bỏ tất cả những vướng bận, rũ sạch bụi trần để sống một cuộc đời như những thôn dân kia.

Triệu Nhã khẽ mỉm cười. Hắn cởi bỏ đôi giày vải rách rưới, bước chân trần xuống làn nước hồ mát lạnh. Khi nước ngập đến đầu gối, phiến đá giữa hồ bỗng nhiên phát ra một tiếng ngân thanh tao tựa như tiếng đàn cổ. Một luồng sương mù màu xanh nhạt từ lòng hồ từ từ bốc lên, bao bọc lấy thân hình hắn.

Vết sẹo do đao kiếm ngoài biên viễn trên vai hắn dần biến mất. Làn da của hắn trở nên mềm mại, khí tức Đại Tông Sư đỉnh phong trong người vốn đang cuộn trào như sông dài bỗng nhiên thu liễm lại, hóa thành một dòng suối nhỏ lững lờ trôi xuôi. Thần thái của hắn không còn nét mệt mỏi của một vị hoàng tử bị bỏ rơi, mà triệt để hóa thành một vị trích tiên bất nhiễm bụi trần.

Hắn ngồi xuống một tảng đá bên hồ, tùy ý đưa tay vục một ngụm nước hồ uống cạn.

Đạo ngữ trên trời vang lên, nhàn nhạt bộc lộ thiên cơ:

【 Đêm đó, Triệu Nhã đắc đạo. Hắn không dùng công pháp để cưỡng cầu trường sinh, mà dùng tâm cảnh để hòa vào thung lũng. Từ đó về sau, thế gian không còn nhị hoàng tử Triệu Nhã của Đại Tống, chỉ còn lại một vị Tiêu Dao Tử tự tại giữa đất trời. 】

Khắp các triều đại, bầu không khí cô đặc tột cùng khi màn trời dần tắt ánh sáng. Sự thật về quá khứ của các vị khai quốc công thần và tổ sư huyền thoại bị xé toạc, để lại một mạch ngầm cuồn cuộn.

Tại Đại Tần, Hàm Dương Cung.

Doanh Chính chậm rãi thu lại ánh mắt nhìn lên bầu trời, hắn ngồi trên ngai vàng, liếc mắt qua phía Triệu Cao đang quỳ sụp dưới thềm điện: – Theo ta nhớ thì bên Đạo môn của chúng ta cũng có một kẻ tên Tiêu Dao Tử.

Triệu Cao cúi đầu, vội vàng đáp: – Bẩm bệ hạ, quả thực có chuyện như vậy. Nhưng khả năng cao chỉ là trùng đạo hiệu thôi ạ. Tiêu Dao Tử ở Tần quốc chúng ta có lai lịch rõ ràng, phong thái và hành tung cũng không giống vị trên trời này.

Doanh Chính nhịp nhẹ ngón tay lên thành ghế, điềm nhiên ra lệnh:

– Phái người đi kiểm tra lại cho kỹ. Tiện thể cử người đến vùng Thổ Phồn này của Tống để dò xét luôn.

– Tuân chỉ bệ hạ!

Cùng lúc đó, trên đỉnh Võ Đang Sơn quanh năm mây phủ.

Một vị đạo sĩ già đứng chắp tay sau lưng, nhìn dải thiên khung đang khép lại. Trong mắt lão lộ ra vẻ tán thưởng hiếm hoi, thấp giọng lẩm bẩm:

– Là một thiên tài tu đạo. Hy vọng có một ngày được cùng ngươi luận đạo.

Ở một nơi khác, sâu trong chính điện của Thiên Sư Phủ.

Một tràng cười lớn đột ngột vang vọng ra ngoài, chấn động cả đại ngàn:

– Ha ha ha! Trên đời lại thêm một vị đạo hữu.

Yến Tử Ổ:

Mộ Dụng Phục đập vở chén trà không vui nói:

- Sao tổ phụ không giết luôn tên họ Đoàn đó đi Chứ.



0
Ủng hộ tác giả Anh Khói Viết Truyện Tổng Võ Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.