Chương 3: Chí Đại Tông Sư
Ở Vũ Đại động thiên có một gã điên tên Chí Phèo.
Gã điên ấy rất nổi danh.
Nổi danh đến mức trẻ con trong trấn vừa nghe tiếng chửi từ đầu ngõ đã biết đường chạy về nhà; đàn bà đang phơi áo cũng vội vàng thu sào, đóng cửa; đàn ông có chút sức lực, nếu không thật sự cần giữ thể diện trước mặt vợ con, phần nhiều cũng chẳng muốn cùng hắn chạm mặt. Chó trong trấn ban đầu còn sủa, về sau bị đá què mất mấy con, dần dần cũng học được đạo lý tránh hung tìm cát, hễ ngửi thấy mùi rượu từ xa liền cụp đuôi chui vào gầm bếp.
Người Vũ Đại ghét hắn, sợ hắn, cũng khinh hắn.
Nhưng người già trong trấn thỉnh thoảng vẫn nhớ, rất nhiều năm trước, khi những vết sẹo chưa bò kín khuôn mặt kia, Chí Phèo từng là một người khác.
Năm ấy hắn là thiên tài võ đạo hiếm có của cả tòa động thiên, một vị thuần túy võ phu Cửu Cảnh Sơn Điên. Vũ Đại linh khí cằn cỗi, tu sĩ muốn cầu trường sinh đã khó, võ phu muốn đi đến đỉnh núi càng khó hơn. Kẻ tu đạo còn có thể tìm kiếm cơ duyên, luyện hóa linh khí, dựa vào pháp bảo đan dược; thuần túy võ phu thì khác, từng cảnh từng cửa đều phải dùng chính gân cốt của mình mà gõ, dùng từng quyền từng cước mà mở.
Chí Phèo lại cứ thế đi tới Cửu Cảnh.
Hắn luyện một môn quyền pháp chẳng biết học từ đâu, tự gọi là Túy Quyền. Lúc tỉnh, quyền thế của hắn đã nặng; lúc say, quyền lộ càng không thể đoán. Có người từng tận mắt thấy hắn đứng bên bờ sông, một tay cầm vò rượu, một tay ra quyền, mỗi bước xiêu vẹo tưởng như sắp ngã, nhưng quyền phong đi qua đâu, nước sông tách ra đến đó. Khi ấy trong Vũ Đại từng có lời đồn, chỉ cần cho Chí Phèo thêm mười năm, không, có lẽ chỉ cần thêm ba năm, tòa động thiên nhỏ bé này sẽ xuất hiện một vị Thập Cảnh Chỉ Cảnh võ phu.
Rồi đến một ngày, Chí Phèo thật sự bế quan phá cảnh.
Trước ngày ấy, Bá phủ có người mang tới một vò rượu.
Người đưa rượu là một vị quản sự già, theo Bá Kiến đã nhiều năm, nói năng rất khách khí. Lão bảo gia chủ nghe tin Vũ Đại sắp có đại tông sư, trong lòng vui mừng, đặc biệt lấy ra một vò tiên nhưỡng quý giá cất giữ đã lâu, coi như kết một phần thiện duyên.
Chí Phèo khi ấy đang đứng trước cửa sinh tử của võ đạo.
Hắn uống.
Sau đó, hắn điên.
Đêm phá cảnh ấy, nửa tòa Vũ Đại nghe thấy tiếng quyền cương nổ như sấm. Chí Phèo đánh suốt một đêm, đánh sập vách núi, đánh gãy rừng cây, cũng đánh nát con đường võ đạo vốn chỉ còn cách mình một bước. Đến sáng, người ta tìm thấy hắn nằm giữa một bãi đá, thất khiếu chảy máu, kinh mạch đảo loạn, thần trí lúc tỉnh lúc mê.
Từ đó, Vũ Đại thiếu đi một vị đại tông sư.
Lại có thêm một con quỷ say.
Ban đầu Chí Phèo vẫn còn đánh người vì tiền. Về sau hắn đánh người vì rượu. Sau nữa, đôi khi chẳng vì gì cả. Những chuyện đòi nợ, ép ruộng, dọa người mà kẻ có mặt mũi không tiện tự mình làm, Bá phủ thường ném cho hắn vài đồng tiền, mấy vò rượu, để hắn làm thay.
Hắn làm thật.
Thế là người trong trấn càng sợ hắn, càng ghét hắn.
Mà Chí Phèo cũng càng giống thứ người ta vẫn mắng.
Chuyện trên đời đôi khi chính là như vậy. Một người bị gọi là ác nhân một ngày chưa chắc đã thành ác nhân, bị gọi mười năm thì chưa chắc nữa. Nhưng nếu mỗi khi hắn muốn quay đầu, người đời đều chỉ vào những chuyện cũ mà bảo rằng loại người như ngươi cũng xứng, lâu dần chính hắn cũng sẽ cảm thấy, thôi thì làm ác nhân quả thật đỡ mệt hơn.
Huống hồ Chí Phèo còn có rượu.
Say rồi thì chẳng cần biết mình là người hay quỷ.
Cho đến khi hắn gặp Thị Nở.
Đó là một đêm trăng khuyết bên bờ sông.
Chí Phèo uống đến bất tỉnh dưới một lều chuối bỏ hoang. Hắn nằm co quắp trong bùn, hai tay siết chặt lấy ngực, móng tay cào đến da thịt bật máu. Cơn đau ấy đã theo hắn rất nhiều năm, thường ngày có rượu còn đè xuống được đôi chút, đêm đó chẳng hiểu vì sao lại phát tác dữ dội. Khí huyết Cửu Cảnh trong cơ thể như đàn ngựa điên mất cương, hết lần này đến lần khác va vào kinh mạch, khiến một vị Sơn Điên cảnh võ phu đau đến mức phải cắn đất.
Thị Nở tìm thấy hắn ở đó.
Nàng đứng từ xa nhìn rất lâu.
Người đàn bà ấy cũng nổi danh ở Vũ Đại, chỉ có điều nổi danh theo một cách khác. Dung mạo nàng xấu xí, thô kệch, đến tuổi lấy chồng vẫn chẳng ai hỏi. Người trong trấn gặp Chí Phèo thì sợ, gặp Thị Nở thì cười. Một kẻ bị người đời xem như quỷ, một người bị người đời đem ra làm trò tiêu khiển, nói cho cùng đều là những người chẳng mấy ai muốn ngồi chung một bàn.
Thị Nở cuối cùng vẫn bước tới. Nàng không biết cứu người, chỉ biết nấu ăn. Thế là nàng về nhà lấy chút gạo cũ còn lại trong chum, hái mấy cọng hành ngoài vườn, nấu một bát cháo. Bát cháo ấy quả thật rất bình thường. Vũ Đại nghèo, nhà Thị Nở càng chẳng giàu có gì, gạo đã cũ, hành cũng chẳng phải linh căn tiên thảo. Chỉ là lúc nàng cúi người nêm muối, nơi sâu nhất trong thần hồn bỗng có một điểm linh quang mà chính nàng cũng không nhận ra khẽ rung động. Một tia thần lực mỏng đến mức ngay cả tu sĩ bình thường cũng khó phát giác theo đầu ngón tay rơi vào trong bát.
Chí Phèo ăn hết. Đêm đó, lần đầu tiên sau nhiều năm, hắn ngủ mà không cần rượu. Sáng hôm sau tỉnh dậy, việc đầu tiên hắn làm là nhìn quanh tìm vò rượu. Không thấy rượu, chỉ thấy Thị Nở ngồi ngoài cửa nhặt rau. Hắn hỏi:
“Cháo đâu?”
Thị Nở quay đầu mắng:
“Hết rồi.”
Chí Phèo ngẩn ra, dường như chưa từng nghĩ trên đời có người dám nói với mình như vậy. Hắn trừng mắt hồi lâu, cuối cùng lại hỏi:
“Ngày mai có nấu không?”
Thị Nở cúi đầu nhặt tiếp mớ rau, đáp:
“Xem ngươi có còn phát điên không đã.”
Ngày hôm sau, Chí Phèo lại đến. Ban đầu hắn chỉ đến ăn. Sau này ăn nhiều thành quen, có lẽ ngay cả Chí Phèo cũng thấy không ổn, bèn chặt một bó củi ném trước cửa. Thị Nở không cảm ơn, hôm sau chỉ lặng lẽ cho thêm vào bát hắn một quả trứng.
Chí Phèo nhìn quả trứng rất lâu.
“Nhìn gì?”
“Cho ta?”
“Không cho ngươi thì cho chó à?”
Chí Phèo bật cười. Thị Nở cũng cười. Hai người đều chẳng đẹp đẽ gì. Một kẻ mặt đầy sẹo, một người dung mạo thô kệch, vậy mà dưới mái lều xiêu vẹo ấy, không ai cười nhạo ai.
Sau đó Chí Phèo đến càng nhiều. Hắn vẫn uống rượu, vẫn có lúc phát điên, nhưng mỗi lần khí huyết đảo loạn, Thị Nở lại nấu cháo hành. Kỳ lạ là cháo càng ăn, những cơn điên càng thưa. Có hôm hắn tỉnh táo được nửa ngày, sau thành một ngày, rồi ba ngày.
Thị Nở bắt đầu sai hắn làm việc. Ban đầu là gánh nước. Sau là chẻ củi. Rồi sửa mái nhà. Chí Phèo đường đường một vị Sơn Điên cảnh võ phu, lúc trẻ từng muốn dùng hai nắm đấm gõ mở cửa Thập Cảnh, cuối cùng lại bị một người đàn bà sai tới sai lui. Có lần hắn bực mình, ném mạnh cái búa xuống đất, mắng rằng ông đây không làm nữa.
Thị Nở cũng chẳng khuyên. Nàng chỉ tự mình trèo lên mái. Chí Phèo ngồi dưới đất nhìn một lúc, thấy nàng suýt trượt chân, lại chửi một câu, sau đó nhặt búa lên. Mái nhà được sửa xong trước khi trời tối.
Từ đó, căn lều có thêm vài thứ. Một cái bàn cũ. Hai cái ghế. Một chum gạo. Góc sân có mấy luống rau. Sau nữa là hai con gà mái chẳng biết Chí Phèo mua ở đâu về. Thị Nở hỏi:
“Mua gà làm gì?”
Hắn đáp:
“Nuôi.”
“Ta biết là nuôi. Nuôi để làm gì?”
“Đẻ trứng.”
“Đẻ trứng rồi sao?”
Chí Phèo ngồi xổm trước chuồng gà, suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng đáp:
“Ăn.”
Thị Nở cười đến đau bụng. Chí Phèo cũng cười theo. Thật ra hắn còn một câu chưa nói. Hai con gà năm nay đẻ trứng, sang năm có thể ấp thành gà con. Gà con lớn lên lại đẻ trứng. Nếu nhiều quá thì đem ra chợ bán, dành tiền sửa lại căn lều.
Hắn đã bắt đầu nghĩ đến sang năm. Đối với người khác, sang năm chỉ là sang năm. Đối với Chí Phèo, đó là chuyện rất lớn. Bởi một kẻ đã sống nhiều năm không cần ngày mai, bỗng nhiên bắt đầu tính xem mùa đông tới mái nhà có dột hay không, sang xuân nên trồng thêm rau gì, vậy thì ít nhất trong lòng kẻ ấy đã có ý định sống thêm một quãng.
Sự thay đổi của Chí Phèo rất chậm. Chậm đến mức chính hắn không nhận ra. Một buổi sáng, Thị Nở giấu vò rượu. Hắn tìm không thấy, nổi trận lôi đình, đạp vỡ cái ghế vừa sửa hôm trước. Thị Nở đứng trong bếp, lạnh lùng nhìn hắn. Chí Phèo giơ tay. Thị Nở không tránh. Bàn tay ấy từng đánh chết người, từng một quyền phá đá, cuối cùng dừng giữa không trung rất lâu rồi chậm rãi hạ xuống. Hắn ngồi xổm ngoài cửa đến tận chiều. Hôm sau tự mình sửa lại ghế.
Lần khác, một đứa trẻ trong trấn ngã xuống sông. Chí Phèo đi ngang, thuận tay kéo nó lên. Mẹ đứa trẻ chạy tới, nhìn thấy hắn thì sắc mặt trắng bệch, vội ôm con lùi lại. Chí Phèo đứng đó, nước sông còn nhỏ từ tóc xuống mặt. Hắn không nói gì. Quay người đi. Mấy ngày sau, hắn đi ngang chợ. Một ông lão bán đậu vốn đang cúi đầu dọn hàng, không để ý người tới là ai, thuận miệng hỏi:
“Anh Chí mua gì?”
Chí Phèo dừng chân. Ông lão ngẩng lên, vừa nhìn rõ mặt hắn liền tái sắc. Nhưng Chí Phèo không nổi giận. Hắn đứng rất lâu rồi chỉ vào miếng thịt trên sạp bên cạnh.
“Cho nửa cân.”
Tối hôm ấy, Thị Nở hỏi có chuyện gì vui mà mua thịt. Hắn bảo không có. Nhưng ăn thêm hai bát cơm.
Người ta sống ở đời, có những món nợ dùng vàng bạc trả được, có những món nợ dùng mạng cũng chưa chắc trả xong. Lại có một vài thứ vốn chẳng phải ân huệ gì lớn, chỉ là một tiếng gọi thuận miệng, một bát cơm nóng, một người chịu ngồi cùng bàn. Người có quá nhiều sẽ chẳng thấy đáng giá, kẻ cả đời chưa từng có lại nhớ rất lâu.
Cho đến một ngày, Chí Phèo không sang Bá phủ nữa. Ngày đầu tiên, chẳng ai để ý. Ngày thứ mười, vị quản sự già từng mang rượu đến cho hắn năm xưa sai người sang hỏi, nói trong phủ có chút việc. Chí Phèo đang đóng lại hàng rào. Hắn bảo:
“Không đi.”
Người kia ngạc nhiên:
“Bá lão gia trả công không ít.”
Chí Phèo cúi đầu đóng tiếp cây đinh.
“Không đi.”
Tối đó, Thị Nở nấu cơm. Chí Phèo ngồi bên bàn, bỗng nói:
“Thị này.”
“Gì?”
“Sau này ta không sang Bá phủ nữa.”
Thị Nở đang xới cơm, nghe vậy thì dừng tay.
“Không sang đó, lấy gì sống?”
Chí Phèo im lặng.
Đó là một câu hỏi rất thật. Vũ Đại nghèo. Một kẻ như hắn lại chẳng có ruộng, chẳng có nghề. Bao nhiêu năm qua, người tử tế không muốn thuê hắn, người không tử tế mới cần đến nắm đấm của hắn. Chí Phèo nghĩ rất lâu.
“Làm gì cũng được.”
Thị Nở nhìn hắn. Hắn cúi đầu, hai bàn tay to lớn đặt trên đầu gối, bỗng có vẻ lúng túng như một đứa trẻ.
“Ta có sức. Gánh thuê cũng được. Chẻ củi cũng được. Không thì… nung gạch.”
Ngoài cửa, gió cuối mùa thổi qua hàng rào mới sửa. Chí Phèo nói rất khẽ:
“Thị… cho ta làm người lương thiện nhé?”
Thị Nở không đáp ngay. Nàng chỉ quay lưng xới thêm cho hắn một bát cơm. Nhưng đêm ấy, Chí Phèo ăn hết một nồi.
Cũng từ ngày đó, Thị Nở bắt đầu có chút khác thường. Ban đầu chỉ là những chuyện không ai để tâm. Có hôm đang nấu cháo, nàng bỗng dừng tay, nhìn nồi nước sôi rồi thuận miệng nói ra một cái tên rất dài. Chí Phèo nghe không hiểu, hỏi lại, chính nàng cũng không nhớ mình vừa nói gì. Một đêm khác, nàng mơ thấy một tòa cung điện nguy nga nhưng chớp mắt lại đổ nát chìm trong khói lửa. Nàng phế tích ấy, nghe thấy vô số người gọi một cái tên không phải Thị Nở. Tỉnh dậy, nàng khóc. Chí Phèo hỏi vì sao. Nàng lắc đầu.
“Không nhớ.”
Ở một nơi khác trong động thiên, đêm ấy hậu viện Bá phủ có bảy ngọn đèn xanh đồng thời sáng lên. Không ai trong trấn nhìn thấy. Chỉ có Thứ tiên sinh đang ngồi chấm bài dưới ngọn đèn dầu trong căn tư thục dột nát bỗng dừng bút. Ông ngẩng đầu. Nhìn về phía Bá phủ. Lại nhìn về căn lều chuối ven sông. Rất lâu sau, vị Thánh nhân hợp đạo với cả tòa động thiên chỉ khẽ thở dài, tiếp tục cúi đầu sửa một chữ viết sai cho học trò. Ngoài kia, Vũ Đại vẫn đang mòn đi từng ngày.
Chí Phèo càng tỉnh táo, Thị Nở lại càng hay quên. Ban đầu nàng quên bỏ muối. Sau đó quên cho gà ăn. Có lần Chí Phèo đi từ sáng đến tối mới về, nàng ngồi trước cửa nhìn hắn rất lâu, ánh mắt hoàn toàn xa lạ. Chí Phèo hỏi:
“Sao thế?”
Nàng giật mình. Sắc vàng rất nhạt nơi đáy mắt lập tức biến mất.
“Không sao.”
Rồi nàng mắng hắn về muộn. Chí Phèo cười. Hắn không biết, chỉ trong một khoảnh khắc vừa rồi, người đàn bà ấy thật sự không nhận ra hắn. Thị Nở bắt đầu sợ. Nàng không biết mình sợ gì.
Có một hôm Chí Phèo bị thương. Chỉ là vết thương nhỏ, trong lúc gánh đá thuê bị cạnh sắc cứa vào cánh tay. Máu chảy không ít. Thị Nở nhìn thấy. Nàng đứng yên. Không đau lòng. Không hoảng. Không có bất kỳ cảm giác gì. Trong mắt nàng khi ấy, máu chỉ là máu, vết thương chỉ là một chỗ da thịt phàm tục bị rách. Mãi đến khi Chí Phèo gọi một tiếng, nàng mới bừng tỉnh. Thị Nở vội chạy tới. Nàng băng bó cho hắn, bàn tay run rất nhiều. Chí Phèo cười hỏi:
“Sợ máu à?”
Nàng cúi đầu.
“Ừ.”
Đêm đó, Chí Phèo ngủ rất ngon. Thị Nở ngồi bên giường đến sáng. Nàng nhìn khuôn mặt đầy sẹo ấy, muốn đưa tay chạm vào, nhưng giữa chừng lại dừng lại. Bởi trong đầu nàng vừa xuất hiện hai chữ. Phàm nhân. Hai chữ ấy lạnh lẽo vô cùng. Nàng lập tức tát mạnh vào mặt mình.
Ngày cuối cùng đến rất bình thường. Buổi sáng, Chí Phèo còn ngồi trước sân sửa chuồng gà. Thị Nở hỏi:
“Trưa ăn gì?”
“Cháo hành.”
“Không phải ngươi chê nhạt sao?”
“Thì cho thêm muối.”
“Cút.”
Chí Phèo cười ha hả. Hắn xách đồ ra ngoài, trước khi đi còn quay đầu bảo chiều sẽ mua ít tranh về lợp lại mái phía đông. Mùa mưa sắp tới, chỗ ấy vẫn dột. Thị Nở đứng trong cửa nhìn theo. Không hiểu vì sao, nàng bỗng muốn gọi hắn lại. Nhưng cuối cùng không gọi.
Đến giữa trưa, bảy ngọn đèn xanh trong hậu viện Bá phủ đồng loạt tắt. Cùng lúc ấy, trên bầu trời Vũ Đại xuất hiện một dải kim quang rọi thẳng xuống như thang trời.
Thứ tiên sinh đang giảng bài bỗng ngừng lại. Một đứa trẻ ngẩng đầu hỏi:
“Tiên sinh?”
Ông nhìn lên trời rất lâu, sau đó chỉ nói:
“Không có gì.”
Vệt sáng kia rơi xuống lều chuối. Thị Nở đang thái hành. Con dao rơi khỏi tay. Trong khoảnh khắc ấy, một cánh cửa đã đóng kín qua vô số kiếp luân hồi bị ai đó từ bên ngoài gõ mạnh.
Một lần...
Hai lần…
Ba lần…
Rồi vỡ !!!
Ký ức tràn về. Thiên đình viễn cổ. Vạn thần triều bái. Những bếp lửa cháy suốt ngàn năm. Nhân tộc quỳ dưới chân thần linh. Một nữ thần lặng lẽ mở kho lương.
Chiến tranh.
Phản loạn.
Thần huyết.
Hình đài.
Lời nguyền.
Muôn kiếp luân hồi.
Thị Nở quỳ xuống đất, hai tay ôm đầu. Nàng nhớ ra rất nhiều. Mỗi khi nhớ thêm một chuyện, căn lều trước mắt lại nhỏ đi một chút. Mỗi khi nhớ thêm một chuyện, Chí Phèo trong lòng nàng lại xa thêm một chút. Nàng cố giữ lấy một cái tên.
“Chí…”
Nhưng ký ức của một đời phàm nhân quá ngắn. So với tuế nguyệt của thần linh, mấy tháng bên nhau chẳng qua chỉ là một hạt bụi trong trường hà vạn cổ. Đến khi Chí Phèo trở về, hắn thấy nàng đứng giữa sân. Trên tay hắn ôm một bó tranh.
“Thị?”
Người đàn bà quay lại. Vẫn khuôn mặt ấy. Vẫn thân thể ấy. Chỉ có đôi mắt đã biến thành màu vàng kim. Bó tranh trong tay Chí Phèo rơi xuống. Hắn không hiểu chuyện gì xảy ra.
Nhưng hắn sợ.
Một vị Sơn Điên cảnh võ phu từng đứng trước cửa Thập Cảnh không sợ, lúc khí huyết nghịch hành gần chết không sợ, bị cả trấn gọi là quỷ cũng không sợ.
Lúc ấy lại sợ.
“Thị?”
Hắn gọi lần nữa.
Người trước mặt nhìn hắn.
Ánh mắt rất bình tĩnh.
Bình tĩnh đến mức không có yêu, không có ghét, cũng không có thương hại.
“Ngươi là ai?”
Chí Phèo đứng yên.
Rất lâu sau, hắn cười.
Nụ cười hơi gượng.
“Đừng đùa.”
Hắn cúi xuống nhặt bó tranh.
“Ta mua được rồi. Chiều nay sửa mái. Sang mùa mưa sẽ không dột nữa.”
Người kia không đáp. Chí Phèo lại nói:
“Hai con gà hôm nay đẻ trứng.”
Vẫn không đáp.
“Thị.”
Hắn bước tới. Người kia lùi lại một bước. Chí Phèo dừng chân. Chỉ một bước mà thôi. Một vị Cửu Cảnh võ phu bước một bước có thể vượt qua mấy trượng, nếu thật sự dốc sức chạy, núi sông cũng chưa chắc giữ nổi hắn. Nhưng bước chân ấy của Thị Nở, hắn không vượt qua được. Bởi hắn bỗng hiểu. Nàng đang tránh hắn. Chí Phèo khẽ hỏi:
“Thị không nhận ra ta thật à?”
Trong đôi mắt vàng kim kia bỗng xuất hiện một tia dao động. Rất nhỏ. Nhỏ đến mức gần như không tồn tại. Ở nơi sâu nhất của thần hồn, dường như có một người đàn bà xấu xí đang liều mạng gõ cửa. Nàng nhớ một gã say nằm dưới lều chuối. Nhớ một bát cháo hành. Nhớ cái ghế bị đá vỡ rồi được lặng lẽ sửa lại. Nhớ hai con gà. Nhớ một người từng nói không sang Bá phủ nữa. Nhưng ký ức thần linh quá lớn. Cánh cửa lại khép. Người trước mặt Chí Phèo cuối cùng chỉ nói:
“Tránh đường.”
Chí Phèo tránh. Có lẽ bởi mấy tháng qua hắn đã quen nghe lời nàng. Đứng trước những nấc thang ánh sáng nàng khẽ ngẩng đầu nhìn về phía xa xăm. Thực Thần bước lên. Chí Phèo chỉ biết đứng đó nhìn theo.
Hắn không đuổi.
Cũng không ra quyền.
Hắn từng nghĩ chỉ cần quyền đủ cao, trên đời chẳng có cửa nào không mở được. Nhưng lúc này hắn bỗng không biết mình nên ra quyền với ai.
Đánh trời?
Đánh thần?
Hay đánh chính người có khuôn mặt của Thị?
Kim quang càng lúc càng xa. Chí Phèo bỗng nhớ ra điều gì, ngẩng đầu hét lớn:
“Thị!”
Bóng người trên trời không quay lại. Hắn đứng giữa sân.
Rất lâu.
Sau đó cúi xuống, nhặt từng bó tranh rơi dưới đất.
Đêm ấy trời mưa. Mái phía đông vẫn dột. Chí Phèo ngồi bên bàn, trước mặt là hai cái bát. Hắn chờ đến sáng.
Ngày hôm sau, Chí Phèo vẫn sửa mái nhà.
Ngày thứ ba, hắn vẫn cho gà ăn.
Ngày thứ bảy, có người hỏi Thị Nở đi đâu. Hắn bảo đi xa.
Nửa tháng sau, luống rau chết mất một nửa.
Một tháng sau, một con gà bị bệnh chết. Chí Phèo chôn nó sau nhà.
Hắn vẫn không uống rượu. Có lẽ hắn đang chờ. Chờ một người trở về. Hoặc chờ chính mình tin rằng người ấy sẽ không trở về nữa.
Rồi một đêm, cơn đau cũ phát tác. Khí huyết trong người hắn lại điên cuồng va vào kinh mạch. Chí Phèo ngã xuống nền đất, hai tay ôm ngực, mồ hôi lạnh chảy đầy mặt. Theo thói quen, hắn gọi:
“Thị…”
Không ai đáp. Hắn gọi lần nữa.
“Thị.”
Vẫn không ai đáp. Trong căn lều tối, Chí Phèo nằm co quắp rất lâu. Rồi hắn bỗng cười. Ban đầu chỉ là một tiếng rất nhỏ. Sau đó càng lúc càng lớn.
Hắn cười đến chảy nước mắt, cười đến khí huyết nghịch hành, cười đến quyền ý Cửu Cảnh làm vách nhà rung lên. Cái bát đặt trên bàn rơi xuống đất, vỡ làm đôi. Chí Phèo nhìn cái bát. Đêm ấy, hắn uống rượu trở lại.
Người chưa từng nhìn thấy ánh sáng, có lẽ thật sự có thể quen với bóng tối. Nhưng một người đã được ai đó dắt ra ngoài, đã biết một bữa cơm nóng là gì, biết có người chờ cửa là gì, biết sang năm là gì, rồi lại bị ném trở về nơi cũ, thường sẽ phát hiện bóng tối lần thứ hai còn đen hơn lần đầu.
Chí Phèo vốn đã quen làm quỷ. Thị Nở lại dạy hắn làm người. Đến khi hắn gần học được, nàng quên mất hắn. Vậy là kể từ ngày đó, người ta lại thấy gã Chí Phèo qua lại Bá phủ để vòi rượu. Không ai biết vì sao. Cũng chẳng ai buồn hỏi. Chỉ có vị quản sự già năm xưa từng mang vò rượu đến trước cửa nhà Chí Phèo, mỗi lần nhìn thấy bóng dáng xiêu vẹo ấy xuất hiện ngoài cổng Bá phủ, đều sai người lấy rượu ra rất nhanh.
Nhanh đến mức giống như đã chờ sẵn từ lâu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.