Chương 1: Thứ Tiên Sinh
Vũ Đại động thiên nằm ở cực Bắc Đại Nguyễn vương triều. Nơi ấy bốn bề núi khép, phía đông có một dòng sông lớn men theo chân núi chảy qua trấn, đến cuối địa giới lại chìm vào khe sâu, nghe nói bên dưới còn nối với một nhánh thủy mạch cổ đã khô cạn quá nửa. Thuở xa xưa, Vũ Đại từng có những năm tháng rất tốt. Linh khí đầy núi, thủy vận đầy sông, trong rừng có tinh quái, dưới đất có linh mạch; thỉnh thoảng còn có người vô tình nhặt được vài món đồ cũ, mang về phủi bụi khéo hay lại là di vật của tiên nhân.
Chỉ là chuyện ấy đã rất lâu rồi. Lâu đến mức người trong trấn không còn ai nhớ.
Bây giờ Vũ Đại vẫn có núi, vẫn có sông, vẫn có những cơ duyên chưa từng xuất thế vẫn chôn vùi ở nơi nào đó. Cơ duyên trên đời vốn không phải cứ linh khí suy kiệt liền đồng loạt mọc chân bỏ chạy. Có thứ chờ một năm, có thứ chờ nghìn năm. Người không nhận ra thì đi ngang qua cũng chỉ là đi ngang qua.
Cho nên thi thoảng vẫn có ngoại nhân mò tới động thiên. Có kẻ chỉ nghe một câu chuyện không đầu không cuối từ mấy trăm năm trước, liền mang theo la bàn vào núi đào bới suốt ba, năm năm.
Nhưng làm gì thì cũng đều thấp điệu mà làm, không một ai dám đi quá lằn ranh mang tên “Quy củ”. Bởi Vũ Đại có người đặt ra nó và giữ cho người ngoài đến đây phải thuận vào nó mà hành sự. Người ấy họ Thứ. Người trong trấn đều gọi ông một tiếng Thứ tiên sinh.
Sáng hôm đó, Thứ tiên sinh đang dạy trẻ con viết chữ.
Tư thục nằm ở phía đông trấn, không lớn. Ba gian nhà đất, mái lợp ngói cũ, trước sân có một cây hòe già. Mùa hè còn tốt, đến mùa mưa thì khá phiền phức. Mái phía tây dột hai chỗ, trong lớp lúc nào cũng đặt sẵn một chiếc chậu sành; bức tường sau nứt từ năm ngoái, phụ huynh của lũ trẻ nói qua vụ mùa bán chút thóc gạo rồi sẽ góp tiền sửa, nhưng vụ mùa năm ấy không tốt, thế là cái khe nứt tiếp tục nằm đó.
Trong lớp có mười ba đứa trẻ. Thứ tiên sinh không quy định thu học phí theo chuẩn nào cả, có cái gì mang tới đóng học cũng đều được hết. Có nhà đưa chút tiền, có nhà đưa gạo, có nhà đến cuối năm mang sang một con gà. Cũng có nhà chẳng đưa gì.
Người vợ của ông vì chuyện ấy đã cằn nhằn không ít lần. Thứ tiên sinh mỗi lần đều nói:
“Biết rồi, lần sau sẽ nhắc”
Sau đó vẫn vậy.
Hôm ấy ông viết lên bảng hai chữ.
Quy củ.
Một đứa trẻ hỏi:
"Tiên sinh, quy củ là gì?"
Thứ tiên sinh không đáp.
Ông hỏi ngược.
"Nhà ai có ruộng?"
Một nửa lớp giơ tay.
"Có ai từng đắp bờ ruộng chưa?"
Đứa lớn nhất đáp:
"Con có."
"Bờ ruộng để làm gì?"
"Để giữ nước."
"Còn gì nữa?"
"Để biết ruộng nhà mình với ruộng nhà người ta."
Thứ tiên sinh gật đầu.
"Nếu một ngày mọi người đều phá hết bờ đi thì sao?"
Một đứa bé cười:
"Thì nước chảy lung tung."
Đứa khác nói:
"Cha con với lão Trương sẽ cãi nhau."
Thứ tiên sinh cười.
"Đúng."
Ông nhìn ra ngoài cửa.
"Bờ đất không cao."
"Một bước là qua."
"Nhưng có nó."
"Người ta mới biết."
"Đến đâu thì nên dừng."
Đúng lúc ấy, từ gian nhà phía sau truyền tới một tràng ho.
Ban đầu chỉ vài tiếng.
Sau đó dồn dập.
Tiếng cười trong lớp nhỏ dần.
Thứ tiên sinh đang cầm thước, bàn tay khẽ dừng.
Ông đặt thước xuống.
“Hôm nay nghỉ sớm.”
Lần này không đứa nào reo. Lũ trẻ thu dọn giấy bút. Thứ tiên sinh không để ý. Ông đã đi vào nhà sau.
Người vợ đang ngồi tựa đầu giường. Nàng ho đến đỏ mặt, một tay ôm ngực, tay kia vịn thành giường. Đứa con nhỏ nằm bên cạnh bị đánh thức, khóc ré lên.
Thứ tiên sinh bước nhanh tới. Ông ngồi xuống, đỡ lấy vai vợ.
“Chậm thôi.”
Bàn tay vỗ sau lưng nàng.
Từng cái.
Không nhanh.
Cũng không mạnh.
Đợi cơn ho dịu xuống, ông mới kéo lại tấm chăn đã trượt khỏi vai nàng. Người đàn bà thở một lúc.
“Lại cho học trò nghỉ?”
“Ừ.”
“Tháng này lần thứ hai rồi.”
“Ừ.”
Nàng nhìn ông.
Thứ tiên sinh đáp:
“Hôm nay dạy đủ rồi.”
“Ông lúc nào cũng đủ.”
Giọng nàng không lớn. Cũng chẳng thật sự giận. Có lẽ người sống với nhau quá lâu đều như vậy. Những lời đáng cãi đã cãi hết từ nhiều năm trước, về sau gặp lại chuyện cũ cũng chỉ còn sức nói thêm vài câu.
Thứ tiên sinh không tranh. Ông đứng dậy đi tới bếp. Trên bếp còn một chén thuốc đã sắc ba lần, nước rất nhạt màu rồi.
Ông mở nắp nồi, nhìn một lát, rồi cúi xuống khơi lại mấy cục than gần tắt.
Người vợ từ trong phòng nói vọng ra:
“Đừng hâm nữa.”
Thứ tiên sinh không đáp.
“Thuốc hết vị rồi.”
Ông vẫn quạt than.
“Để than nấu cơm.”
Lửa cuối cùng cũng bén.
Thứ tiên sinh đặt chén thuốc lên.
“Đã hâm rồi.”
Người đàn bà im lặng.
Một lúc sau, ông bưng thuốc vào.
Nàng nhận lấy.
Uống một ngụm.
Nhăn mặt.
“Nhạt.”
Thứ tiên sinh nói:
“Nhạt thì dễ uống.”
Nàng bật cười.
Cười xong lại ho.
Ông lập tức ngồi xuống, tiếp tục vỗ lưng. Đứa con nhỏ vẫn khóc. Thứ tiên sinh đành bế lên. Một tay ôm con. Một tay vỗ lưng cho vợ. Người đàn bà nhìn bộ dạng luống cuống của ông, cuối cùng không nhịn được, nói:
“Ông dạy người ta quanh năm suốt tháng, sao bế con lại vẫn mãi không học vào vậy?”
Thứ tiên sinh cúi đầu nhìn đứa trẻ.
“Ta thấy nó nằm rất ngay ngắn.”
“Đầu nó sắp rơi xuống rồi.”
Ông vội vàng đổi tay. Người vợ cười. Lần này cười thật. Thứ tiên sinh cũng cười. Căn nhà nhỏ vẫn nghèo. Chén thuốc vẫn nhạt. Nhưng ít nhất lúc ấy, tiếng cười còn ở đó.
Không ai trong Vũ Đại biết Thứ tiên sinh là một vị Thánh nhân. Nói chính xác hơn, có vài người biết. Nhưng người bình thường không biết. Bởi một vị Thánh nhân trong tưởng tượng của họ hẳn phải ngồi trên núi cao, một lời gọi mây, một tay dời sông; dù không mặc pháp bào cũng nên có vài phần tiên khí quấn thân. Không ai nghĩ người đàn ông vừa bế con vừa chăm vợ ốm kia có thể là người giữ quy củ cho cả một tòa động thiên.
Mà Thứ tiên sinh cũng chưa từng giải thích. Ông tới Vũ Đại từ rất lâu trước đây. Ban đầu, ông chỉ định ở sáu mươi năm, vừa đủ một nhiệm kỳ. Đối với phàm nhân, sáu mươi năm gần như cả đời. Đối với người tu hành như ông, không tính quá dài.
Khi mới tới, Thứ tiên sinh không thích Vũ Đại.
Quá nhỏ, quá xa, quá ít người nhưng lại có rất nhiều chuyện. Tu sĩ trong động thiên không mạnh, nhưng vì không mạnh nên tranh nhau mấy thứ rất nhỏ. Một gốc linh dược cũng đánh. Một mảnh đất có linh khí dày hơn nơi khác một chút cũng tranh. Người ngoài thỉnh thoảng lại lẻn vào tìm cơ duyên, có kẻ biết quy củ, có kẻ không. Thứ tiên sinh lại phải ra tay xử lý.
Đáng đuổi thì đuổi. Đáng đánh thì đánh. Có người vượt quá giới hạn, ông giết. Không ai dám nói ông sai, có lẽ là do đánh không lại ông. Quy củ đặt ở đó. Người giữ quy củ chỉ cần làm đúng việc.
Thuở ấy, Thứ tiên sinh rất ít đi vào trấn. Ông ở trên núi. Người trong trấn đối với ông chỉ là
“chúng sinh.”
Hai chữ rất lớn. Cũng rất xa.
Sau đó có một năm đại hạn. Vũ Đại không mưa suốt bốn tháng. Một đêm, Thứ tiên sinh đi qua phía nam trấn, nhìn thấy một người đàn ông ngồi sau bếp uống nước, uống từng gáo, rất chậm. Trong nhà, vợ con người ấy đang húp mấy bát cháo loãng loẹt. Thứ tiên sinh đứng ngoài nhìn một lúc. Người đàn ông phát hiện con nhỏ đang gọi mình vào ăn, ông cười nói:
“Ta ăn rồi.”
Thứ tiên sinh vẫn đứng nhìn từ xa hồi lâu. Ông biết người kia chưa ăn. Nồi cháo chỉ đủ cho ba người mà nhà thì có tới bốn miệng ăn. Lần đầu tiên, Thứ tiên sinh cảm thấy hai chữ “chúng sinh” hơi lớn hơn. Cũng không hẳn là lớn. Nó là vĩ đại, với mấy người con, cha chúng vậy đã đủ vĩ đại rồi
Về sau ông xuống núi nhiều hơn. Nhìn nhiều hơn.
Có một bà lão giấu bệnh của mình, dành tiền thuốc để mua gạo cho cháu. Có một đứa trẻ nhặt được nửa cái bánh, đói đến mức vừa đi vừa nuốt nước bọt, cuối cùng vẫn mang về cho em. Cũng có người vì một đấu gạo bán đứng hàng xóm. Có kẻ lấy trộm tiền chữa bệnh của mẹ đi đánh bạc. Có người cả đời keo kiệt, đến lúc gặp xác chết vô danh bên đường lại bỏ tiền mua quan tài.
Thứ tiên sinh nhìn. Càng nhìn càng thấy sách mình từng đọc không đủ. Không phải sách sai. Đạo lý cũng không sai. Chỉ là đời người nhiều khi không đứng yên để chờ người ta phân xong đúng sai. Một người đói ba ngày, phía sau còn đứa con đang sốt, trước mặt có túi gạo không ai trông. Nếu hắn không lấy, hai chữ “chính trực” quả thật rất nặng. Nếu hắn lấy, trộm vẫn là trộm. Nhưng người muốn mắng hắn, ít nhất cũng nên biết ba ngày kia dài bao lâu.
Thứ tiên sinh dần hiểu một chuyện. Hiểu người khác không phải nói điều sai thành đúng. Chỉ là trước khi phán xét một người, nên chịu khó đi thêm vài bước trên con đường hắn đã đi. Có khi đi xong. Vẫn phán định đó. Nhưng ít nhất lời nói sẽ không quá nặng.
Sau này, Thứ tiên sinh xuất hiện trong trấn với thân phận nho sinh nghèo thi trượt công danh, nản lòng thoái chí không dám về quê nhà nên tìm đến trốn hẻo lánh viết chữ thuê kiếm sống qua ngày, người trong trấn quý con chữ và tấm lòng ông nên đề nghị ông mở học thục dãy chữ cho lũ trẻ trong trấn. Về Sau lại gặp nàng, người đàn bà về sau trở thành vợ ông. Lần đầu hai người gặp nhau, nàng đứng trước sạp viết chữ thuê của ông, nhìn rất lâu. Thứ tiên sinh hỏi:
“Muốn viết gì?”
Nàng đáp:
“Không viết.”
“Vậy nhìn gì?”
“Nhìn ngươi.”
Thứ tiên sinh khi ấy còn chưa quen bị một người phàm nói chuyện như vậy.
“Nhìn ta làm gì?”
Nàng nói:
“Xem một người đàn ông tay chân lành lặn, ngày ngày ngồi viết chữ đổi tiền, rốt cuộc mặt mũi phải dày đến mức nào.”
Thứ tiên sinh im lặng. Nàng cười khúc khích rời đi. Hôm sau lại tới. Cũng không hiểu thế nào cứ ngày ngày tới lui mà về sau nàng lại thành vợ ông. Chuyện trên đời đôi khi không giảng đạo lý như vậy.
Vậy là, Ông không đi nữa. Không phải do có ai giữ, chính ông muốn ở lại thôi. Cũng có lẽ bởi lúc ấy ông đã có vợ, có con, có học trò. Trong trấn có người gặp ông sẽ chào một tiếng “Thứ tiên sinh”. Có người nợ học phí thấy ông từ xa liền quay đầu chạy. Ông biết hàng thịt đầu phố cân thiếu. Biết lão thợ mộc phía tây miệng rất độc nhưng gặp nhà nghèo thường không lấy tiền công. Biết mùa đông đứa học trò nào không có áo. Biết vợ mình mỗi lần giận sẽ nấu cơm cứng hơn bình thường. Một nơi có người chờ mình về ăn cơm, lâu ngày rất khó để rời xa.
Rồi trong một lần khi thấy động thiên cứ ngày sau lại tệ hơn ngày trước ông đã dùng thần thông suy diễn một phen, để rồi ông phát hiện Vũ Đại đang đến gần bờ vực sụp đổ. Một tòa động thiên chết rất chậm. Ban đầu chỉ là linh khí mỏng đi, sau đó thủy vận suy, sơn căn yếu, những nơi từng sinh ra tinh quái không còn tinh quái.
Phàm nhân thì không thể biết. Họ chỉ biết ruộng năm nay kém hơn năm trước, giếng phải đào sâu hơn, trẻ con sinh ra yếu hơn, mùa đông dài hơn, cây trái thường mất mùa. Một người già đi mỗi ngày thường không biết mình già từ hôm nào, một tòa động thiên cũng vậy.
Thứ tiên sinh suy diễn rất lâu. Cuối cùng xác nhận Vũ Đại rất nhanh, rất nhanh thôi, chỉ ba đến năm năm nữa nó sẽ tan vỡ. Lúc này vốn cũng vừa lúc ông tới thời điểm kết thúc nhiệm kỳ. Ông đã có thể rời đi, không ai có thể trách, sự suy vong của Vũ Đại cũng không phải lỗi của ông.
Nhưng ông không đi. Thứ tiên sinh chọn hợp đạo cùng Vũ Đại.
Lấy tu vi đại đạo của mình củng cố sơn căn, bù đắp thủy vận, tạo ra một lớp bảo hộ bọc lấy toàn bộ động thiên giữ cho những vết nứt không tiếp tục mở rộng hoặc ít nhất là khiến nó chậm lại nhiều nhất có thể.
Từ ngày ấy, ông vẫn là người giữ quy củ. Kẻ ngoài động thiên vượt giới phạm quy củ, ông vẫn đánh. Tu sĩ trong động thiên lấy thần thông tàn sát phàm nhân vô cớ, ông vẫn trừng phạt.
Nhưng có một số chuyện thì đã khác trước, ông đứng ra hợp đạo với tòa động thiên này đồng nghĩa ông chính là sợi nhân quả lớn nhất tại đây và mọi sinh linh cùng sơn căn thủy vận trong động thiên đều hướng tới quấn lấy sợi nhân quả này của ông. Chính bởi vậy ông cũng đã không còn tự do như trước đây.
Tỷ dụ như chuyện con ông. Năm đứa trẻ lên năm, có một đêm sốt rất nặng. Ngoài trời mưa lớn, đường vào trấn lầy lội sình bùn. Người vợ thì ôm con khóc, ông tất bật đun nước, giặt khăn, thay khăn đắp trán cho đứa nhỏ.
Lúc này ông chỉ cần một ý niệm, thật sự chỉ một ý niệm cơn sốt sẽ lui. Không cần đan dược. Không cần tiên gia thần thông. Đối với một vị Thánh nhân, chuyện ấy thật quá đỗi dễ dàng.
Ông đưa tay, đầu ngón tay gần chạm vào trán con. Ngay lúc ấy, phía tây Vũ Đại có một ngọn núi rung lên. Dòng sông ngoài trấn nổi sóng. Trong cảm ứng của người hợp đạo, vô số sợi nhân quả đồng thời lệch khỏi vị trí, điên cuồng đi đến chiều hướng xoắn vặn rối tung lại với nhau.
Cuối cùng ông vẫn là ngoảnh mặt đi mà thu tay về. Đứa trẻ vẫn khóc. Người vợ nhìn ông quát:
“Ông còn ngồi đó làm gì?”
Thứ tiên sinh đứng dậy.
“Ta đi mời thầy thuốc.”
Ông đội mưa đi, cuối cùng khó khăn nhưng vẫn đón được thầy thuốc về. Đêm ấy, con ông may mắn không chết. Nhưng người vợ nói với ông một câu.
“Ông đọc nhiều sách như vậy để làm gì?”
Thứ tiên sinh không đáp. Không phải vì không có đáp án mà vì đáp án quá dài. Một người mẹ ôm đứa con đang sốt thì nào quan tâm gì đến máy cái nhân với quả, động với thiên. Nàng chỉ biết sinh mạng con mình đang trôi tuột dần khỏi hai tay nàng và chồng mình ở đó lại chẳng thể giúp gì. Vậy thôi.
Ông không trách nàng, cũng không thể trách ai. Có lẽ chuyện khó nhất trên đời không phải phân biệt đúng sai. Nếu một người sai hẳn, một người đúng hẳn, mọi chuyện dễ hơn nhiều. Chỉ sợ ai cũng có lý. Mà vẫn có người phải chịu đau.
Ngày tháng tiếp tục trôi, vợ ông ngày một yếu, con ông lớn thêm chút, lớp học vẫn mở. Thứ tiên sinh bắt đầu biết giá gạo. Biết một thang thuốc ở đâu rẻ hơn ba đồng. Biết tiếc rẻ thang thuốc đã sắc lần thứ ba, rất nhạt. Biết hôm nào cơm ít nên nói mình ăn rồi. Ban đầu ông còn nhớ mình từ bên ngoài tới, về sau thì triệt để quên hẳn.
Ban đầu người trong trấn còn thấy ông có chút khác. Về sau không chào ông lại thấy có chút không quen. Một vị Thánh nhân từng đi dạo trên biển mây, từng thấy đại tu sĩ một kiếm cắt sông bổ núi, chẳng biết từ lúc nào đã biết thổi cơm đun thuốc. Không ai nói với ông chuyện ấy, chính ông cũng không nhận ra.
Buổi chiều hôm đó, trời mưa, Thứ tiên sinh ngồi một mình trong lớp. Vợ đã ngủ yên nhờ chén thuốc hồi trưa làm dịu cơn ho, con ông cũng nhờ vậy mà ngủ yên. Chiếc chậu sành dưới mái dột thỉnh thoảng vang lên một tiếng.
Tõm.
Ông lấy giấy định soạn bài ngày mai. Viết xuống một chữ.
Sống.
Thứ tiên sinh nhìn rồi lâm vào trầm tư.
Người tu hành cầu trường sinh là sống, phàm nhân cầu no bụng cũng là sống, cỏ gặp đá thì vòng rễ, thú gặp nguy thì chạy. Ai cũng muốn sống.
Thứ tiên sinh viết thêm một chữ.
Mòn.
Bút dừng.
“Sống Mòn.”
Ông nhìn hai chữ ấy.
Rất lâu.
Khổ chưa chắc đáng sợ, có cái khổ tới từ từ gặm nhấm chầm chậm từng chút, từng chút một mới thật sự đáng sợ. Chậm đến mức lâu quá hóa quen. Hôm nay nhịn một bữa, ngày mai nhịn thêm, lâu dần quên một bữa no là gì. Hôm nay cúi đầu một lần, ngày mai cúi thêm, mỗi lần đều có lý do, mỗi lần đều tự nhủ chỉ lần này, đến nhiều năm sau quay đầu, có khi không còn nhớ lưng mình từng thẳng.
Thứ tiên sinh nhìn hai chữ. Ông từng nghĩ mình hiểu chuyện ấy. Ông nhìn người Vũ Đại quá lâu, nhìn họ nghèo, nhìn họ nhịn, nhìn họ bị năm tháng mài từng chút cho nên ông nghĩ mình hiểu.
Ngoài trời mưa vẫn rơi, trong nhà sau, người vợ ho một tiếng, Thứ tiên sinh lập tức ngẩng đầu. Ông định đứng dậy, rồi dừng. Không hiểu vì sao, ông nhìn lại hai chữ trên giấy.
Sống Mòn.
Một ý nghĩ xuất hiện.
Rất nhỏ.
Năm xưa mình tới đây là người thế nào? Thứ tiên sinh không còn nhớ nữa. Ông ngồi đó, cố nhớ.
Năm ấy ông còn là Thánh nhân. Bây giờ vẫn là Thánh nhân, cảnh giới còn đó, Tu vi còn đó. Chỉ là…
Thứ tiên sinh nhìn bàn tay mình, bàn tay vừa sáng nay còn bế con đến luống cuống. Một lúc sau, ông cười.
Rất khẽ.
Ông ở lại Vũ Đại vì thấy người nơi này bị mài mòn.
Nhìn lâu.
Ở lâu.
Cuối cùng chẳng biết từ bao giờ, lại bị mài mòn thành một người Vũ Đại.
Thứ tiên sinh ngồi trong lớp học nhỏ nghe tiếng mưa, nghe tiếng vợ ho. Ông nhìn hai chữ trên giấy, ông bỗng nhớ thuở trẻ từng có người nói với mình, người tu hành càng lên cao càng phải nhìn đại thế. Tình riêng quá nhiều, mắt sẽ không đủ xa.
Khi ấy ông thấy đúng, bây giờ vẫn thấy đúng. Chỉ là hôm nay, ông nghĩ thêm một chuyện. Nếu một người đứng quá cao, cao đến mức không còn nghe thấy bất kỳ thanh âm nào của nhân gian, vậy nhân gian trong lòng hắn tường được mấy phân, mấy lượng.
Ngoài trời, mưa nặng hạt hơn, đúng lúc đó, dưới gầm bàn xuất hiện một điểm kim quang. Ánh sáng hóa thành một tiểu đồng áo xanh, vừa hiện thân đã cúi người thật thấp.
“Tiên sinh.”
Thứ tiên sinh nhìn nó.
Tiểu đồng nói:
“Người của Đại Nguyễn tới rồi.”
Ngoài trời có sấm.
Thứ tiên sinh không đáp chỉ nhìn về xa xăm nơi chân trời.
Tiểu đồng chờ một lát.
Lại nói:
“Không chỉ Đại Nguyễn.”
“Người của mấy tông môn cũng đã tới ngoài cửa động thiên.”
Thứ tiên sinh cúi đầu nhìn.
Trên giấy.
Hai chữ Sống Mòn còn chưa khô. Ông nhìn rất lâu, sau đó đặt bút xuống đứng dậy quay người đi vào nhà trong, bỏ lại một câu:
“Không phạm quy củ thì để chúng tùy ý đi, thuyền đến đầu cầu tự nhiên thẳng”
“Giờ đến giờ đi thổi cơm rồi, ăn no mới có sức nói lý với người”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.