Chương 103: Tâm Sự
Màn đêm buông xuống bến đò Thiên Độ Hà.
Cơn mưa dông đã dịu lại thành những hạt mưa bay lất phất, trôi lơ lửng nhờ vào Đạo Ý của chữ "Đợi" ban chiều. Trái ngược với bầu không khí ngột ngạt và căng thẳng lúc trước, đêm nay, cả khách điếm và hàng vạn đại quân bên ngoài mười dặm đều chìm trong một sự tĩnh lặng đến rợn người.
Bên trong sảnh khách điếm, chiếc lò sưởi cũ kỹ lách tách cháy, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, hắt những cái bóng dài ngoằng lên bức vách bằng gỗ lim đen đúa. Bầu không khí bình yên đến kỳ lạ này khiến tâm trí của những kẻ quen sống trên mũi dao liếm máu bỗng nhiên chùng xuống. Bức màn phòng bị vô hình giữa Chính và Tà dường như bị dòng nước mưa rửa trôi đi phân nửa.
Gã tiểu nhị mười sáu tuổi pha một ấm trà nóng, rụt rè mang ra mời mọi người rồi lui vào góc bếp rúc.
Nữ kiếm tu Huyền Kiếm Môn ngồi bó gối bên lò sưởi, bàn tay vuốt ve chuôi kiếm lạnh toát. Ánh mắt sắc lẹm thường ngày của nàng nay lại đọng một tầng sương mờ.
"Mười lăm năm trước..."
Giọng nàng cất lên khe khẽ, phá vỡ sự im lặng. Nàng không nhìn ai, chỉ nhìn chằm chằm vào ngọn lửa.
"Ta là một đứa trẻ mồ côi bị vứt bỏ ở bãi tha ma. Một vị sư tỷ của Huyền Kiếm Môn đã nhặt ta về, truyền dạy kiếm quyết. Tỷ ấy bảo kiếm là để bảo vệ kẻ yếu, là để hành hiệp trượng nghĩa."
Khóe môi nàng nhếch lên một nụ cười đắng chát.
"Nhưng ba năm trước, chỉ vì tranh giành một cây Linh Sâm ngàn năm, Tông môn đã phái ta đi đồ sát cả một gia tộc nhỏ bách tính vô tội. Lúc chém xuống nhát kiếm cuối cùng vào một đứa trẻ trạc tuổi ta ngày xưa... ta mới hiểu. Chẳng có Chính Đạo nào cả. Chỉ có kẻ mạnh và kẻ yếu."
Câu chuyện bi thương của nữ kiếm tu vừa dứt, một tiếng thở dài khàn khàn vang lên từ góc tối đối diện.
Gã Ma tu Huyết Hà Tông nốc ực một ngụm rượu đục, ném cái bát sứt xuống sàn. Khuôn mặt chằng chịt sẹo rết của gã hằn lên những nét u uất.
"Chính đạo các ngươi chí ít còn có vỏ bọc."
Gã cười gằn, giọng điệu khản đặc.
"Ma tu chúng ta thì bị đuổi giết như chó hoang. Các người có biết vì sao ta lại gia nhập Huyết Hà Tông không? Năm đó nạn đói hoành hành, quan phủ phàm nhân ép lương thực, gom hết gạo trong thành để dâng lên tiên nhân. Ta bế đứa em gái sáu tuổi đi ăn xin, bị đám lính gác đánh gãy hai chân."
Gã Ma tu ôm lấy đầu gối, gân xanh nổi lên bần bật:
"Em gái ta chết đói trên tay ta. Ta bò vào bãi xác chết, cắn nuốt thịt thối để sống sót, rồi vô tình nhặt được một viên Huyết Đan tàn tạ của ma tu. Từ đó ta hóa ma. Ta giết người, ta hút máu. Nhưng ta thề với trời đất, ta chưa từng động đến một đứa trẻ con nào. Kẻ đê tiện nhất, tàn ác nhất trên đời này... không phải là ma tu, mà là lòng tham."
Cả sảnh lặng phắc. Nữ kiếm tu và gã Ma tu - hai thái cực đại diện cho sự đối lập gay gắt nhất của Tu chân giới - giờ phút này lại ngồi chung một mái nhà, cùng chia sẻ những vết thương rỉ máu mà bọn họ che giấu suốt nửa đời người. Ranh giới giữa Chính và Tà, giữa Thiện và Ác bỗng chốc trở nên mờ nhạt đến nực cười.
"Các vị tu tiên để mong trường sinh bất lão, còn ta chỉ cầu bình an."
Gã thương nhân béo phệ thở dài, ôm khư khư cái rương gỗ trong lòng.
"Ta buôn bán ngược xuôi, gom góp linh thạch cả đời chỉ mong mua được một viên Định Nhan Đan cho thê tử. Nhưng ngày ta mang thuốc về... nàng đã bị bạo bệnh qua đời vì không đợi được. Cái rương linh thạch này giờ chẳng khác gì đống đá cuội vô tri."
Sự bi ai như một căn bệnh truyền nhiễm, lây lan khắp không gian chật hẹp của khách điếm.
Lúc này, lão bá mặc áo tơi ngồi bên lò sưởi mới run rẩy đưa bàn tay gầy guộc lên lau khóe mắt đục ngầu.
"Mười năm trước... con trai lão hủ cũng ngồi đúng ở chỗ này."
Lão thều thào kể lại.
"Nó là một tán tu hiếu thảo. Chỉ vì lão mắc bệnh nan y, nó nhất quyết xông qua Thiên Độ Hà để tìm Thiên Địa Linh Quả kéo dài thọ mệnh cho lão. Nó bảo lão cứ ở đây đợi nó ba ngày, nó chắc chắn sẽ về."
Lão ôm mặt khóc nấc lên, bờ vai gầy rung lên bần bật.
"Nhưng Thiên Độ Hà này có bao giờ buông tha cho một sinh linh nào đâu... Lão biết nó đã chết. Lão biết chờ đợi là vô nghĩa. Nhưng lão không dám rời đi. Nếu lão về quê... lỡ đâu một ngày nó thực sự quay lại không thấy cha đâu, nó sẽ tuyệt vọng lắm. Lão đành ở lại, lấy hy vọng hão huyền đó làm cớ để tiếp tục thở qua ngày."
Câu chuyện của người cha mất con như một nhát dao đâm thẳng vào tâm trí của tất cả những kẻ đang ngồi đó. Dù là kiếm tu sắt đá hay ma tu khát máu, ai nấy đều không cầm được nước mắt. Bọn họ bất giác quay đầu, hướng ánh mắt tìm kiếm sự cứu rỗi về phía góc phòng tối.
Ở nơi đó, có một vị Vô Danh Tôn Giả. Ngài ấy thấu thị hồng trần, cảnh giới cao siêu. Liệu ngài ấy có ban phát một câu Ngôn Chú Đại Đạo nào để độ hóa những linh hồn lầm lạc và bi thương này không?
Trong ánh lửa bập bùng, Dạ Vô Biên đang nằm co quắp trên đống rơm rạ, trùm cái nón lá rách lên mặt.
"Khò... o o... Khò... o o..."
Tiếng ngáy của Dạ Vô Biên vang lên đều đặn, vang dội và... vô tri đến cùng cực. Thỉnh thoảng, hắn còn chép miệng một cái, đưa tay gãi gãi bụng, rồi xoay người nằm sấp, để lộ cái mông gầy dính đầy cỏ khô, hoàn toàn không màng sự đời.
Bên ngoài trời mưa, bên trong người khóc, còn bần đạo thì ngủ!
Đám tu sĩ nhìn nhau, rồi đồng loạt mỉm cười cay đắng.
Bọn họ hiểu rồi. Bậc Tiên Nhân Đại Đạo đâu rảnh mà đi dỗ dành từng mảnh đời trần tục? Ngài ấy nằm ngủ, chính là để nói với bọn họ rằng: 'Trần thế bi ai là chuyện tất yếu, thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu (trời đất bất nhân, coi vạn vật như rơm rác). Mọi oán hận, tình cừu đều là hư vô, chi bằng cứ ngủ một giấc, quên hết hồng trần.'
Lão bá vẫn ngồi thu lu bên đống lửa, ánh mắt buồn bã hướng ra bến đò đen ngòm. Lão nhặt thêm vài cành củi khô thả vào lò sưởi cho bùng lên hơi ấm.
"Mặc kệ thiên hạ ra sao... Lão hủ vẫn sẽ đợi."
Lão lầm bầm, kéo chặt vạt áo tơi, kiên cường giữ vững cái chấp niệm nhỏ nhoi của một kẻ phàm trần.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.