Bóng Đò Sông Vị

Chương 2: Gốc Đa Bến Vọng

Đăng: 08/06/2026 15:54 1,779 từ 1 lượt đọc

Sáng hôm sau, mưa tạnh từ lúc gà gáy. Mặt trời chưa kịp ló khỏi rặng tre đầu làng, Phạm Công Nhẫn đã ngồi ở thềm nhà để vàng, tay sờ lên chiếc khăn điều đã phơi qua đêm. Vải vẫn ẩm, mùi nhục đậu khấu còn vương.

Bích tỉnh dậy, ăn ít cơm nguội họ mua được từ một nhà hàng xóm thương tình. Nàng vừa ăn vừa nhìn ra đường phố Hàng Lược buổi sớm. Phố này chuyên bán vàng mã, hương nến, đồ cúng. Những xấp giấy tiền vàng bạc xếp thành từng chồng trước cửa, mùi nhang trầm thoang thoảng. Có ông lão chống gậy lững thững đi qua, mắt liếc nhìn hai người lạ rồi lầm bầm bỏ đi.

“Bích, ra chợ Chiều hỏi dùm ta.” Nhẫn cất khăn vào lòng. “Hỏi xem có người đàn bà nào mất tích trong ba bốn hôm nay không. Trẻ. Khoảng hai bảy, hai tám. Mặc áo dài thâm. Nếu có hỏi được cả tên thì càng tốt.”

“Thưa thầy, sao thầy biết tuổi?” Bích tò mò.

“Móng tay. Tối qua bàn tay bò lên bờ, ta sờ qua. Ngón tay dài và móng còn chắc, chưa phải tay người già. Lại thêm mùi dầu trộm cắm trên tóc, thứ dầu chỉ gái tơ dùng. Gái có chồng thường dùng dầu dừa, mùi khác.”

Bích gật gù. Nàng thay manh áo khác, cũng chẳng mới hơn manh cũ là bao, rồi lóc cóc đi ra chợ.

Chợ Chiều nằm ở cuối phố Hàng Lược, thực ra là một cái chợ quê nhóm từ chiều đến tối. Ban sáng chỉ lèo tèo vài quán nước. Bích hỏi bà bán hàng bún riêu:

“Thưa bà, làng mình có nhà ai mất đàn bà trẻ mấy hôm nay không ạ?”

Bà bún riêu trố mắt: “Mất à? Chẳng có đám ma nào trong ba hôm nay cả. Nhưng mà… con bé hỏi làm gì?”

Bích kể: Tối qua thấy bóng đò lạ trên sông, có một người đàn bà áo thâm cầm khăn điều đứng ở bến, khóc.

Bà bún riêu tái mặt, đánh rơi đôi đũa. Bà vội lẩm bẩm: “Xin các cụ các vãi, con chẳng biết gì”, rồi đuổi Bích đi.

Bích đi thêm vài quán, ai cũng lắc đầu hoặc không nói. Chỉ có một cụ già bán nước chè xanh ở góc chợ kéo Bích lại, khe khẽ:

“Con à, ba hôm trước có một phụ nữ lạ đến phố này. Người đẹp, áo dài thâm, đi đôi guốc mộc. Hỏi mua một cây đèn cầy đỏ và mấy tờ giấy bạc. Ta có hỏi mua về cúng ai, thì chỉ cười. Tối hôm ấy, chẳng ai thấy bà ta ra về. Sáng ra có người kêu dưới sông vớt được một chiếc khăn điều. Nhưng xác chẳng thấy.”

“Có ai báo quan không ạ?”

“Có chứ. Người phố báo lên phủ. Quan án Phạm Cẩn có sai lính đến dò. Lội cả đoạn sông ấy, chẳng thấy gì.”

Bích hỏi tên người đàn bà. Cụ già lắc đầu: chẳng ai biết. Người lạ. Có thể đi qua đường, hoặc từ làng trên xuống.

Nàng về kể lại với Nhẫn. Ông thầy mù ngồi nghe, tay vê vê vài hạt bụi đất trên nền gạch. Một lúc lâu, ông nói:

“Người đàn bà ấy chết dưới sông, nhưng không phải chết đuối. Mà chết trước rồi mới bị ném xuống.”

“Sao thầy biết?”

“Tối qua, bàn tay bò lên bờ. Ngửi thấy mùi nhục đậu khấu, đó là thứ rắc quan tài trước khi khâm liệm. Kẻ trộm xác hoặc kẻ đã giết nàng ta đã tẩm liệm sơ qua rồi vứt. Nhưng liệm chưa xong, vì thân thể chưa kịp cứng.”

Bích rùng mình. Nàng chưa bao giờ thấy một cái chết lại kỳ lạ đến thế.

“Vậy bà ấy bảo tìm xác chôn dưới gốc đa bến Vọng, thầy định làm không?”

“Làm chứ. Nhưng trước hết phải biết oan từ đâu.” Nhẫn đứng dậy. “Dẫn ta ra bến Vọng.”

Bến Vọng nằm về phía thượng nguồn sông Vị, cách phố Hàng Lược chừng ba dặm. Ở đấy có một cây đa cổ thụ, cành lá xum xuê. Người làng đồn rằng cây đa có hồn, không ai dám đến gần sau hoàng hôn. Sáng nay trời quang, Bích dắt Nhẫn men theo bờ cỏ. Bến Vọng vắng hoe, chỉ có mấy cây mọc hoang và một ngôi miếu nhỏ xây từ gạch mốc.

Nhẫn khom xuống sờ đất. Đất dưới gốc đa tơi xốp, dấu hiệu mới bị đào lên gần đây. Ông lần tay quanh gốc, bỗng ngừng lại.

“Có người đã đào cái hố ở đây. Rồi lại lấp đi. Không phải để trồng cây. Hố rộng, dài độ một người nằm.”

Bích nhìn quanh. Bỗng nàng thấy dưới bụi cỏ một mảnh vải dài thâm, rách nham nhở. Nàng kêu lên. Nhẫn bảo nàng cầm lên. Mảnh vải ấy có dính vài sợi tóc dài, mùi nhục đậu khấu thơm nồng.

“Họ đã định chôn nàng ở đây.” Nhẫn nói giọng chắc nịch. “Nhưng vì lý do gì đó, họ đổi ý, đào lên mang đi nơi khác. Khiêng qua một đoạn rồi quẳng xuống sông. Bích, con thấy gì thêm không?”

Bích nhắm mắt. Nàng gõ nhẹ phách tre ba tiếng. Không khí bỗng như đặc lại. Nàng lắc đầu: “Con chẳng thấy hồn ai quanh đây. Chỉ có mùi, và tiếng khóc thật xa… ở dưới nước.”

Họ quay về phố Hàng Lược lúc mặt trời đã đứng bóng. Đến đầu phố, thấy mấy người tụ tập trước cửa nhà một người dân. Họ xì xào: tối qua có thêm một người chết nữa. Lần này là anh bán cá ở chợ Chiều, tên là Sửu. Sáng ra vợ thấy chồng nằm trên giường, mặt tái mét, trong miệng ngậm một chiếc lá phong đỏ. Trên lá có chữ, nhưng chẳng ai đọc được.

“Lá phong?” Nhẫn hỏi. “Cũng giống lá trên chiếc đò không?”

“Anh Sửu hồi chiều qua có ra bến Vọng quăng chài. Nửa đêm về, kêu lạnh, uống rượu rồi đi ngủ. Sáng ra thì thấy thế.” Một người phụ nữ vừa kêu vừa khóc.

Nhẫn xin phép vào nhà anh Sửu xem. Quan án Phạm Cẩn, một người trạc ba mươi, mặc áo thụng xanh, đầu đội mũ cánh chuồn, đang ngồi bên thi thể. Thấy Nhẫn mù, quan án nhướn mày:

“Ông là ai?”

“Kẻ hành nghề địa lý. Xin quan hãy cho xem chiếc lá.”

Quan án Cẩn vốn nổi tiếng là người cẩn trọng, lại mê tín. Ông ta sai lính đưa chiếc lá cho Nhẫn. Nhẫn sờ: lá phong khô, trên mặt có chữ, nhưng không phải chữ nho thường, nét chữ cong quẹo, như viết bằng tay trái hoặc viết trong lúc hoảng loạn.

“Quan có thể sai người đọc chữ này?”

“Ta đã sai ba ông đồ. Chẳng ai đọc được. Một ông bảo đây là chữ chiêu hồn, không phải người trần nên đọc.”

Nhẫn gật đầu. Ông gọi Bích vào.

“Con hát đi. Hát bài ‘Hát dạo’ mà con hay hát. Hát cho người chết nghe.”

Quan án Cẩn ngăn: “Làm gì có chuyện ấy?”. Nhưng Nhẫn bảo: “Nếu quan muốn biết ai đã hại anh Sửu, hãy để con bé hát.” Quan án do dự rồi gật.

Bích cầm phách tre lên. Nàng không cất giọng ngay, mà nhìn xác anh Sửu một lúc. Mặt anh ta tái nhợt, hai mắt tuy nhắm nhưng khóe miệng bị kéo xuống như đang cười. Bích gõ nhịp đầu:

Tùng… cắc… tùng…

Tiếng phách vang lên chậm rãi. Nàng hát:

“Chiều chiều ra đứng bến sông Vị…

Nhìn về phương ấy thấy chiếc đò trôi…

Đò trôi có lá, lá có chữ…

Chữ viết rằng ai hãy xuống đây chơi…”

Giọng nàng chua xót, lên bổng xuống trầm. Không khí trong nhà bỗng lạnh toát. Ngọn đèn dầu trước bàn thờ chao đảo. Và từ xác anh Sửu, một luồng khí lạnh bốc lên, thổi bay tờ giấy vàng trên ngực.

Mọi người lùi cả ra. Chỉ có Nhẫn ngồi yên.

Bích hát tiếp, giọng run dần:

“Có chàng đi chài, quăng lưới xuống…

Kéo lên không thấy cá, chỉ thấy… một bàn tay…”

Đến câu ấy, miệng xác anh Sửu bỗng mấp máy. Không phải âm thanh, nhưng Bích nghe rõ bằng một cách kỳ lạ: “Người đàn bà… bảo tôi… chớ nói…”

Rồi xác im bặt. Bích ngừng hát, mặt tái mét.

Nàng quay sang Nhẫn: “Anh Sửu quăng chài tối qua, vớt được một bàn tay người phụ nữ. Anh sợ, định lên bờ thì bàn tay ấy tóm lấy cổ anh. Rồi… anh ấy thấy chiếc đò ma. Trên đò có lá phong. Bà ta bảo anh ấy đừng nói cho ai. Anh ấy hứa. Nhưng về nhà uống rượu, bà vợ hỏi, anh ấy kể. Thế là chết.”

Quan án Phạm Cẩn ngồi nghe xong, mặt cũng bạc đi. Ông ta lấy một nén nhang, thắp lên, bước đến bên xác, khấn nhỏ: “Người đàn bà kia, nếu có oan khuất, hãy hiện về. Bản quan sẽ minh oan cho.”

Đèn dầu lại chao đảo. Ngoài sân bỗng nổi cơn gió lốc, thốc tung mấy tờ tiền vàng mã bay tứ tung. Cánh cửa gỗ tự dưng mở toang.

Nhẫn đứng dậy, quay mặt về phía bến Vọng.

“Bích, tối nay ta sẽ ra bến Vọng lần nữa. Đem theo đàn bầu. Người đàn bà ấy đã giết một người, sẽ giết thêm nếu không tìm ra xác sớm. Con có dám đi không?”

Bích siết phách tre trong tay: “Con đi với thầy. Con hát để thầy nhìn thấy.”

Quan án Phạm Cẩn bỗng chen vào: “Ta cũng đi.” Ông ta chỉnh lại mũ cánh chuồn. “Đây là việc của phủ. Có ta, lính tráng sẽ giữ trật tự.”

Nhẫn cười khẩy: “Lính tráng chẳng giữ nổi hồn ma đâu, quan lớn ạ. Nhưng nếu quan muốn theo, xin cứ tự nhiên. Nhớ mang theo đèn lồng giấy đỏ, đừng đèn xanh, đèn xanh ma nó nhập.”

Quan án nghe xong, mặt tái xanh hơn nữa. Nhưng ông ta không rút lời.

Chiều hôm ấy, ba người chuẩn bị. Nhẫn lấy đàn bầu, lau lại dây đồng. Bích cột tóc, mặc lại áo the cũ. Quan án Cẩn đích thân chọn hai tên lính khỏe mạnh, dặn mỗi người một cây đèn lồng đỏ và một bọc gạo muối để tán tà.

Khi bóng tối buông xuống, họ ra đi trong tiếng gió thổi vi vu qua những rặng tre.

0