Chiếc Cúp Mất Tích

Chương 13: Bản Tường Trình Của Kẻ Giữ Đền

Đăng: 27/08/2026 14:30 5,258 từ 1 lượt đọc

Mười lăm giờ ba mươi phút chiều Thứ Hai.

Tầng hầm khu B của New Scotland Yard không bao giờ đón lấy một tia nắng mặt trời tử tế. Nơi đây ngập ngụa thứ ánh sáng trắng nhờ nhợ từ những dải đèn neon huỳnh quang rung rè rè theo chu kỳ điện áp, hòa cùng mùi cà phê phin cháy khét của căn tin và mùi thuốc xịt khử trùng sàn nhà nồng nặc clo. Đối với những kẻ có tật giật mình bước chân qua cánh cửa thép cách âm dày năm phân của Phòng Thẩm vấn Đặc biệt 4B, không khí ở đây đặc quánh và lạnh lẽo không khác gì phòng chờ của nghĩa trang Kensal Green.

Nigel Higgins ngồi thu lu trên chiếc ghế sắt dập nguyên khối gắn chặt bu-lông xuống nền bê tông mài.

Gã thợ tiện kim loại khét tiếng vùng Islington trông như vừa bị vớt lên từ đáy một thùng rác công nghiệp. Bộ quần áo nỉ màu xám tro của gã bết dính bọt tuyết chữa cháy CO2 đóng vảy trắng xóa, vai áo rách toạc một mảng lớn sau cú kéo giật thô bạo của tôi ở miệng cống xả bia, và toàn thân gã bốc ra mùi men chua nồng nặc của bia đen Guinness ủ lâu năm. Hai cổ tay ngắn cũn cỡn bị khóa chặt bằng chiếc còng số 8 bằng thép tôi kép, xích sắt ngắn tì đè lên mặt bàn kim loại không gỉ tạo thành những tiếng lách cách run rẩy theo từng nhịp thở ngắt quãng.

Tôi kéo chiếc ghế xoay đối diện, thong thả đặt cốc trà sữa giấy mua vội dưới sảnh xuống mặt bàn. Trà đã nguội ngắt, lớp màng sữa mỏng nổi váng trên bề mặt, nhưng trong một buổi chiều mà nhịp tim của cả trụ sở cảnh sát đang đập với tốc độ một trăm bốn mươi nhịp mỗi phút, thứ nước đường lạt lẽo này vẫn là thứ xa xỉ phẩm duy nhất giữ cho đầu óc tôi không nổ tung.

Ngồi cạnh tôi, Chloé Delacroix mở chiếc cặp táp bằng da thuộc đen tuyền. Động tác của cô gái người Pháp luôn đạt đến độ chuẩn xác lạnh lùng của một bác sĩ giải phẫu: cô rút ra một chiếc máy ghi âm kỹ thuật số vỏ titan, đặt ngay ngắn chính giữa bàn, ngón tay bọc da cừu ấn nhẹ nút ghi âm. Đèn LED đỏ bật sáng.

"Biên bản thẩm vấn nghi phạm Nigel Higgins, ghi nhận vào hồi mười lăm giờ ba mươi lăm phút chiều Thứ Hai tại Phòng 4B, Ban Trọng án New Scotland Yard," Chloé cất giọng, âm điệu tiếng Anh mang ngữ điệu Paris chuẩn mực và sắc bén như lưỡi dao mổ. "Điều tra viên thụ lý: Thanh tra Archie Sterling và Thanh tra Cao cấp Chloé Delacroix. Nghi phạm đã được đọc quyền Miranda và từ chối chỉ định luật sư công."

Chloé ngước đôi mắt màu lam biếc lên, nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt trũng sâu thâm quầng của gã thợ tiện.

Nigel giật thót, hai bàn tay còng co rúm lại, giọng lắp bắp nghẹn ứ nơi cuống họng:

"Tôi... tôi đã bảo với các người ngay trên xe bọc thép rồi! Tôi chỉ là thợ gia công cơ khí! Tôi không hề biết chiếc cúp đó là tài sản của Hoàng gia hay cúp của Nữ hoàng! Tôi thề trên danh dự của các Pháo thủ Bắc London, tôi thề trước linh hồn của mẹ tôi, tôi chỉ nhận tiền công tiện kim loại thông thường thôi mà!"

Tôi bật cười khẩy, với tay mở tập hồ sơ bìa cứng màu đen sẫm, lần lượt rút từng bức ảnh hiện trường khổ lớn trải rộng thành một hàng ngang trước mặt gã:

"Danh dự của một Pháo thủ có giá bao nhiêu trên thị trường chợ đen hả Nigel? Hai mươi nghìn Bảng tiền mặt trả trước, tám mươi nghìn Bảng chuyển khoản sau khi đào tẩu sang vùng bờ biển Costa del Sol, hay là một nửa số tiền lừa bán các linh kiện tản nhiệt máy tính mạ bạc dỏm cho Ousmane Demba?"

Tôi gõ đầu ngón tay trỏ xuống bức ảnh chụp khuôn đúc composite hai mảnh tại xưởng Blackstock Mews (EV-CUP-05):

"Bức ảnh thứ nhất: Khuôn đúc sợi thủy tinh chịu nhiệt khớp nối từng milimét với hoa văn chiếc Cúp Vương Miện Lục Địa. Bức ảnh thứ hai: Nắp đế mạ PVD bạc nguyên chất chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần trăm (EV-CUP-06) mang đúng vân dao tiện từ cỗ máy phay CNC mã hiệu Haas VF-2 trong tầng hầm của anh. Bức ảnh thứ ba: Bản hợp đồng bảo hiểm khủng hoảng năm mươi triệu Bảng của Gaspar Silva (EV-CUP-07). Và đây..."

Tôi đẩy túi nhựa niêm phong chứa chiếc máy thu phát GPS TRK-ROYAL-01 cùng chiếc thẻ từ an ninh SECURITY LEVEL 5 (EV-CUP-08) trượt sát vào mép áo của Nigel. Màn hình LCD của chiếc máy định vị vẫn đang nhấp nháy dòng tọa độ xanh lục lạnh lẽo.

"...Thiết bị định vị quân sự thu giữ trực tiếp từ túi đồ nghề khi anh đang cố trườn qua cống nước thải của quán The Cannons' Vault." Tôi tựa lưng vào ghế, đan hai bàn tay lại, ánh mắt nheo lại đầy đe dọa. "Đừng đóng kịch nữa, Nigel. Big Keith đã ký vào biên bản xác nhận căn hầm rượu là điểm tập kết theo chỉ đạo của anh. Gaspar Silva đang ở Phòng Thẩm vấn 2A khai báo từng chi tiết về các cuộc giao dịch thẻ tín dụng. Anh đang đứng trước ngưỡng cửa của tội danh Phản quốc, Cướp đoạt Di sản Văn hóa Đặc biệt và Đồng lõa Khủng bố bằng chất nổ trên sóng truyền hình quốc tế."

"Hình phạt tối thiểu là hai mươi lăm năm tại Nhà tù Nghiêm mật Belmarsh," Chloé tiếp lời, giọng cô phẳng lặng không chút cảm xúc nhưng từng chữ như tảng đá ngàn cân nện vào lồng ngực đối phương. "Ở Belmarsh không có cửa sổ nhìn ra công viên Highbury, không có bia tươi miễn phí, và khẩu phần ăn mỗi ngày được phục vụ bằng khay nhựa không có dao nĩa kim loại. Trừ phi... anh cho chúng tôi biết toàn bộ bản thiết kế của 'Kế Hoạch B'."

Đôi môi khô khốc của Nigel Higgins run rẩy dữ dội. Gã nhìn trân trân vào chiếc thẻ từ Level 5 trên bàn, rồi nhìn vào dòng tọa độ GPS đang nhấp nháy. Sự ngoan cố cuối cùng của một kẻ lưu manh đường phố sụp đổ hoàn toàn trước chuỗi chứng cứ vật chất không một kẽ hở.

Gã ôm lấy đầu, gục trán xuống mặt bàn kim loại lạnh ngắt, nấc lên từng hồi căm phẫn:

"Lão Giles... Lão ta lừa tôi! Lão Pembroke đã lừa tất cả chúng tôi!"

"Kể từ đầu," tôi gằn giọng. "Ba tuần trước trận chung kết."

Nigel hít một hơi dài, giọng khản đặc và đứt quãng:

"Đúng ba tuần trước... Giles Pembroke tìm đến xưởng tiện của tôi ở Blackstock Mews vào một đêm mưa gió sau trận bán kết. Lão ngồi trên thùng phuy dầu, nốc sạch nửa chai rượu gin và bảo tôi rằng danh dự trăm năm của câu lạc bộ London Cannons sắp bị chôn vùi dưới gót giày của lũ nhà giàu mới nổi Paris Saint-Lumière. Lão bảo nếu Cannons vô địch thì không sao, nhưng nếu để chiếc cúp rơi vào tay người Pháp trên chính sân nhà Royal Arch, thì đó là nỗi sỉ nhục mà những người gắn bó cả đời với câu lạc bộ như lão không bao giờ chấp nhận được."

"Nên lão ta quyết định tráo cúp?" Chloé hỏi, mắt không rời gương mặt gã thợ tiện.

"Lão gọi đó là 'Kế Hoạch B — Danh Dự Của Pháo Thủ'," Nigel run rẩy khai. "Lão bỏ ra năm mươi nghìn Bảng tiền túi cá nhân, thuê lão Pierre Moreau bên tiệm bánh ở Soho đúc một chiếc cúp bằng sô-cô-la Criollo nguyên chất nặng đúng mười hai phẩy năm mươi ký. Lão Moreau tưởng đó là bánh sinh nhật mừng thọ cho cựu Chủ tịch danh dự của hội quán. Sau đó, phôi sô-cô-la được vận chuyển trong các hộp thiếc bọc đá khô về xưởng của tôi. Nhiệm vụ của tôi là bọc một lớp màng composite siêu mỏng và dùng công nghệ mạ chân không PVD phủ lên bề mặt hai mươi lăm micromet bạc nguyên chất chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần trăm."

"Một chiếc cúp sô-cô-la mạ bạc có trọng lượng, độ bóng và âm vang kim loại hoàn hảo như cúp thật," tôi lẩm bẩm, nhớ lại mảnh vỡ composite và vi vết bơ ca-cao thu giữ từ đêm chung kết. "Rồi đêm Chủ Nhật, các người đưa nó vào sân thế nào?"

"Lão Giles là Giám đốc Cơ sở Vật chất, lão nắm toàn bộ quyền kiểm soát hệ thống an ninh và nhân sự kỹ thuật," Nigel nuốt nước bọt ực một tiếng. "Lão cấp cho tôi chiếc thẻ Master Key Cấp độ 5 này để tôi lái chiếc xe tải chở thiết bị âm thanh lọt qua cổng kỹ thuật ngầm phía Tây lúc tám giờ tối. Đến đúng hai mươi mốt giờ bốn mươi lăm phút — tức phút thứ bảy mươi lăm của trận chung kết, khi Paris Saint-Lumière ghi bàn thắng thứ hai và nắm chắc chức vô địch — tôi đẩy thùng loa rỗng chứa cúp giả tiến vào Căn hầm số 4."

"Lão Giles đã đứng đợi sẵn ở đó," Chloé tiếp lời.

"Vâng! Lão dùng chìa khóa cơ khí mở khóa cửa hầm, tắt camera hành lang trong ba phút. Lão nhận chiếc cúp sô-cô-la để mang ra bục trao giải, đồng thời trao lại cho tôi chiếc Cúp Vương Miện Lục Địa thật bằng bạc nguyên khối, bọc kín trong một túi gậy golf màu xanh rêu. Kế hoạch ban đầu là tôi sẽ chất túi gậy golf lên xe tải, chở thẳng về hầm rượu của Big Keith để cất giấu tạm thời chờ ngày chia tiền bảo hiểm..."

"Nhưng sự cố đã xảy ra trên bục trao giải," tôi ngắt lời gã.

Nigel đấm mạnh hai bàn tay bị còng xuống bàn:

"Lũ thợ điện chết tiệt của ban tổ chức! Giàn đèn chiếu sân khấu công suất năm mươi nghìn watt đã rọi thẳng vào bục trao giải suốt hai mươi phút! Nhiệt độ bề mặt lên tới gần bảy mươi độ C! Lớp bạc PVD chỉ mỏng hai mươi lăm micromet, nhiệt lượng truyền thẳng vào khối sô-cô-la Criollo bên trong làm bơ ca-cao sôi lên, sinh khí áp suất nén chặt trong lớp vỏ composite! Khi ngài Valadier chạm tay vào quai cúp, áp suất phát nổ làm tung toé toàn bộ sô-cô-la nóng chảy lên mặt lão!"

Nigel thở dốc, mắt vằn tia máu:

"Ngay khi còi báo động hú vang và hệ thống phong tỏa Cấp độ Đỏ sập xuống, lão Giles hoảng loạn tột độ. Lão biết cảnh sát vũ trang sẽ ập vào khám xét toàn bộ phương tiện rời sân trong vòng năm phút. Lão đuổi theo tôi xuống đường hầm, rút súng uy hiếp cướp lại túi đựng cúp thật!"

"Lão ta mang cúp đi đâu?!" Tôi chồm tới, khoảng cách giữa tôi và Nigel chỉ còn một gang tay.

"Lão bảo chiếc cúp phải ở lại 'thánh địa'! Lão ôm chiếc túi gậy golf biến mất vào lối thoát hiểm ngầm dẫn ra khu vực bồn hoa quanh tượng đài cựu Huấn luyện viên huyền thoại ngoài sân Royal Arch! Lão chỉ kịp ném cho tôi chiếc máy thu GPS TRK-ROYAL-01 này và bảo tôi trốn ở quán pub của Keith, khi nào êm chuyện lão sẽ liên lạc lại... Nhưng lão đã tắt máy, cắt đứt toàn bộ liên lạc từ trưa nay!"

RẦM!

Cánh cửa Phòng Thẩm vấn 4B đột ngột bị đẩy mạnh vào trong đập vào tường bê tông.

Phó Cục trưởng Reginald Vance bước vào, chiếc áo sơ mi trắng của ông nhăn nhúm, cà vạt tuột sang một bên, khuôn mặt đỏ gay vì huyết áp tăng vọt. Tay phải ông nắm chặt chiếc bình xịt hen suyễn Ventolin màu xanh lam, đưa lên miệng rít liên tiếp hai hơi dài:

Phì! Phì!

"Archie! Chloé!" Vance thở khò khè, giọng khàn đặc vì kiệt sức. "Thị trưởng vừa gọi điện trực tiếp từ Tòa Thị Chính lần thứ năm! Bộ Ngoại giao Pháp dọa sẽ triệu hồi Đại sứ về nước nếu đúng mười bảy giờ chiều mai chiếc cúp không xuất hiện nguyên vẹn trên lễ đài duyệt binh tại Quảng trường Trafalgar! Các cơ quan truyền thông quốc tế đang vây kín cổng trụ sở Victoria! Hai cô cậu đã bóp ra được cái gì từ gã thợ tiện này chưa?!"

Tôi đứng thẳng người dậy, cẩn thận thu dọn các tấm ảnh tang vật vào cặp da, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười tự tin:

"Kẻ chủ mưu duy nhất còn tự do đang nắm giữ cúp thật là Giám đốc Giles Pembroke, thưa Sếp. Và chúng tôi có địa chỉ nhà riêng của lão."

"Ở đâu?!" Vance trừng mắt.

"Số 14 Highbury Crescent, quận Islington," Chloé đứng dậy, cài lại cúc áo khoác ngoài thanh lịch. "Cách sân vận động Royal Arch chưa đầy một cây số."

Vance lập tức rút từ trong túi áo ngực ra một tập tài liệu có đóng dấu đỏ tươi của Tòa án Tối cao Hoàng gia, đập phịch xuống bàn:

"Lệnh Khám xét và Bắt giữ Khẩn cấp Cấp độ Một đây! Đội Cơ động TSG Phân khu Islington đã được đặt trong tình trạng báo động đỏ! Lập tức xuất phát và mang chiếc cúp đó về đây cho tôi trước khi tôi đột quỵ vì đám chính khách!"

Mười bảy giờ đúng chiều Thứ Hai.

Bắc London chìm trong một buổi chiều muộn xám xịt và ảm đạm. Màn sương mù ẩm ướt mang theo hơi lạnh từ dòng sông Thames bắt đầu sà xuống những ngọn cây sồi già trơ trụi lá dọc theo đại lộ Highbury Crescent.

Chiếc Ford Mondeo của chúng tôi dẫn đầu đoàn xe trinh sát, nhẹ nhàng trườn vào khúc cua tĩnh mịch rợp bóng cây cổ thụ, dừng lại cách cổng sắt của ngôi nhà số 14 chừng ba mươi mét. Hai chiếc xe tuần tra sơn màu xanh vàng phản quang của Cảnh sát Đô thành lặng lẽ áp sát từ phía sau, tạo thành thế bao vây kín đáo quanh góc phố.

Số 14 Highbury Crescent là một căn biệt thự hai tầng xây bằng gạch đỏ thẫm theo lối kiến trúc thời Victoria muộn từ cuối thế kỷ mười chín. Ngôi nhà toát lên vẻ trang nghiêm, hoài cổ và có phần u ám, nép mình sau hàng rào sắt rèn uốn lượn hình những khẩu đại bác biểu trưng của câu lạc bộ bóng đá London Cannons. Những cây thường xuân rậm rạp bò lan khắp bức tường phía tây, bám chặt vào các khung cửa sổ gỗ sồi sơn trắng đã ngả màu ố vàng. Trên tầng hai, toàn bộ rèm nhung dày cộp đều kéo kín mít, không để lọt một khe hở ánh sáng nào ra ngoài.

"Khu vực xung quanh hoàn toàn yên tĩnh," Chloé hạ giọng, mắt quan sát qua ống nhòm trinh sát tầm nhiệt cầm tay. "Không có tín hiệu hồng ngoại của cơ thể sống ở tầng trệt và tầng hai. Nhưng hệ thống sưởi ngầm dường như vẫn đang hoạt động ở mức duy trì."

Tôi cài chặt dây áo giáp chống đâm dưới lớp áo măng-tô, tay phải chạm nhẹ vào báng súng Glock 17 quen thuộc giắt bên hông, tay trái cầm chiếc đèn pin chiến thuật siêu sáng SureFire.

"Đi cửa chính," tôi ra hiệu cho hai sĩ quan cảnh sát vũ trang mang khiên yểm trợ phía sau. "Cẩn thận bẫy cơ học. Một kẻ dành ba mươi năm bảo dưỡng các căn hầm ngầm không bao giờ để nhà mình thiếu các biện pháp an ninh."

Bốn người chúng tôi bước nhanh qua khoảng sân gạch rêu phong, gót giày da nện êm trên lớp lá sồi mục rữa.

Cánh cửa chính làm bằng gỗ sồi nguyên khối màu nâu cánh gián dày cộp, chính giữa gắn một chiếc gõ cửa bằng đồng thau đúc hình đầu sư tử ngậm vòng kim loại. Tôi nhấn chuông cửa ba lần.

Coong... coong... coong...

Tiếng chuông cơ khí ngân vang từng hồi đơn độc vọng sâu vào bên trong không gian tĩnh mịch của căn nhà, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng chết chóc.

Tôi đưa tay nắm lấy quả đấm cửa bằng đồng mạ bóng: chốt khóa cơ khí ba điểm bên trong đã đóng chặt.

"Khóa đa điểm Yale cổ điển đời 1975," Chloé bước lên phía trước, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười kiêu hãnh. "Thứ đồ chơi này chỉ làm mất thời gian của những kẻ nghiệp dư."

Cô rút từ trong túi áo ngực một bộ thanh móc khóa bằng thép không gỉ mỏng như lá lúa của Cảnh sát Tư pháp Pháp. Bằng những chuyển động ngón tay điêu luyện và tinh tế như một nghệ sĩ dương cầm đang chỉnh dây đàn, Chloé luồn hai thanh thép vào khe ổ khóa đồng.

Cạch... lách cách... TÁCH!

Chưa đầy mười lăm giây trôi qua, chốt khóa cơ học nặng trịch bên trong bật mở giòn giã.

"Mời vào, Thanh tra Sterling," Chloé xoay quả đấm cửa, đẩy nhẹ cánh cửa gỗ sồi hé mở vào trong.

Một luồng không khí đặc quánh, hỗn hợp giữa mùi sáp ong đánh bóng đồ gỗ cổ, mùi trà đen Earl Grey sấy khô và một mùi hóa chất kim loại hăng hắc quen thuộc lập tức ùa ra.

"Cảnh sát đây! Giles Pembroke có nhà không?!" Tôi hô lớn, tay giương súng, cùng hai sĩ quan vũ trang thận trọng tiến vào tiền sảnh lát đá hoa cương đen trắng đan xen kiểu bàn cờ.

Không một tiếng trả lời. Ánh sáng đèn pin chiến thuật của tôi quét dọc hành lang tầng trệt.

Phòng khách được bài trí ngăn nắp đến mức kỳ dị theo phong cách của một quý ông quân đội thời Đệ nhị Thế chiến: những chiếc ghế bành bọc da thuộc màu nâu sẫm, đồng hồ quả lắc bằng gỗ gụ gõ nhịp tích tắc... tích tắc đều đặn trên vách tường, và lò sưởi xây bằng đá hoa cương xám ở góc phòng.

Tôi tiến lại gần lò sưởi, ngồi xổm xuống và đưa mu bàn tay lại gần lớp than đá đen thẫm bên trong vỉ sắt.

"Tàn tro vẫn còn âm ấm," tôi khẽ nói, chỉ tay vào lớp bồ hóng còn vương một vệt khói xám mỏng manh. "Nhiệt độ này chứng tỏ chủ nhân của nó chỉ vừa dập lửa và rời khỏi căn nhà cách đây không quá hai đến ba tiếng đồng hồ."

"Hắn đào tẩu ngay sau khi tin tức về vụ đột kích tại xưởng Blackstock Mews bắt đầu rò rỉ trên các kênh thông tin nội bộ," Chloé bước vào gian bếp phụ phía sau phòng khách. "Archie, lại đây xem cái này."

Tôi bước nhanh sang gian bếp phụ.

Căn phòng này thực chất đã được Giles cải tạo thành một xưởng chế tác và bảo dưỡng cơ khí mini vô cùng tinh xảo. Trên chiếc bàn làm việc bọc tôn mạ kẽm sáng loáng, hàng chục dụng cụ chuyên dụng được xếp thẳng hàng tăm tắp: kính lúp phóng đại công nghiệp, cọ lông lạc đà siêu mềm, nhíp gắp vi mạch, và một lọ dung dịch tẩy rửa bảo dưỡng kim loại quý màu xanh lam mang nhãn hiệu Goddards Long Term Silver Polish đang mở nắp, miệng lọ còn đọng lại những giọt hóa chất ướt át.

Cạnh chiếc bàn là một tấm khăn lau sợi microfiber màu xám tro dính đầy những vệt bột bạc mài mòn li ti lấp lánh dưới ánh đèn pin.

Nhưng chi tiết đập vào mắt tôi lại nằm ở góc sàn gạch cạnh cửa hậu dẫn ra vườn sau.

Đó là một đôi ủng cao su làm vườn cao cổ màu xanh rêu hiệu Hunter, đế ủng còn ướt và bám chặt những mảng bùn đất sét đỏ tươi pha lẫn những hạt sỏi dăm thạch anh trắng đục nhỏ bằng hạt đậu xanh.

Tôi rút chiếc nhíp thép trong túi đồ nghề khám nghiệm, cẩn thận gắp một mẩu đất sét đỏ cho vào túi nhựa niêm phong chuyên dụng:

"Đất sét đỏ giàu oxit sắt trộn sỏi thạch anh đã qua sàng lọc. Đây tuyệt đối không phải là loại đất thịt pha cát trong khu vườn sau nhà phố Highbury này."

"Đất bồn hoa chuyên dụng của sân vận động," Chloé tiếp lời, đôi mắt cô sáng rực lên. "Loại đất nhập khẩu từ vùng cao nguyên Scotland chuyên dùng để trồng những bụi hoa hồng đỏ Tudor Rose quanh cụm tượng đài các huyền thoại bóng đá trước cổng Tây của sân Royal Arch!"

"Chính xác," tôi đứng thẳng dậy, cất túi mẫu đất vào túi áo khoác. "Giles Pembroke đã mang ủng ra khu vực bồn hoa tượng đài vào sáng sớm nay để kiểm tra nơi cất giấu chiếc cúp thật trước khi quay về đây thu dọn hành lý đào tẩu. Hắn không hề mang chiếc cúp về căn nhà này. Chiếc cúp ba mươi triệu Bảng vẫn đang nằm nguyên vẹn tại thánh địa của hắn."

Mười bảy giờ bốn mươi lăm phút chiều Thứ Hai.

Tiếng cầu thang gỗ sồi kêu cót két dưới từng bước chân thận trọng khi tôi và Chloé tiến lên tầng hai của căn biệt thự số 14 Highbury Crescent.

Khác với không gian sinh hoạt giản dị ở tầng trệt, toàn bộ tầng hai thực chất là một thư viện kiêm bảo tàng cá nhân khổng lồ dành riêng cho lịch sử của câu lạc bộ London Cannons. Bốn bức tường cao hơn ba mét được bao phủ kín mít bởi những hệ thống kệ sách bằng gỗ gụ đồ sộ, chứa hàng nghìn cuốn sách kỷ yếu thi đấu, các tập biên bản họp ban điều hành từ năm 1970, và hàng trăm khung kính trưng bày những chiếc áo đấu đẫm bùn đất, những đôi giày đinh da thuộc sờn cũ cùng vô số kỷ vật lịch sử nhuốm màu thời gian.

Không gian sực nức mùi giấy cũ mục rữa và mùi da thuộc ngâm dầu.

Chloé đi dọc theo dãy kệ sách phía bắc, ngón tay bọc da cừu lướt nhẹ qua gáy những cuốn biên niên sử dày cộp. Bất chợt, bước chân cô dừng lại trước một khoảng trống bất thường trên kệ sách ở độ cao ngang tầm ngực.

"Một người mắc chứng cuồng trật tự và ngăn nắp đến mức cực đoan như Giles Pembroke không bao giờ để một khoảng trống vô lý giữa hai cuốn kỷ yếu mùa giải 1987-1988 và 1989-1990," Chloé lẩm bẩm.

Cô đưa ngón tay chạm vào cuốn kỷ yếu mùa giải 1988-1989 đang nằm hơi thụt sâu vào trong khoảng nửa đốt ngón tay.

Thay vì kéo cuốn sách ra ngoài, Chloé dùng lực ấn mạnh gáy sách vào trong vách gỗ.

TÁCH!

Một tiếng khớp lò xo kim loại giòn giã bật lên từ sâu bên trong bức tường gạch.

Toàn bộ mảng kệ sách bằng gỗ gụ dài hai mét khẽ rung lên, rồi trượt êm ru sang bên phải theo một đường rãnh trượt bi thép ẩn giấu dưới chân tường, làm lộ ra một chiếc hộc bí mật bằng thép tôi chống cháy âm tường kích thước bốn mươi nhân sáu mươi phân.

Tôi lập tức giương đèn pin rọi thẳng vào lòng hộc thép.

Bên trong không có vàng thỏi hay tiền mặt. Nằm ngay ngắn trên tấm nhung đỏ lót đáy hộc là ba món đồ vật duy nhất:

Món thứ nhất: Một cuốn sổ tay khổ A5 bọc da dê màu mận chín sẫm, các góc bọc kim loại đồng thau chạm khắc hoa văn hoa hồng Tudor. Trên mặt bìa da dập chìm biểu tượng khẩu đại bác của London Cannons cùng dòng chữ viết tay bằng mực nhũ vàng nắn nót: "Nhật Ký Kẻ Giữ Đền — 30 Năm Dưới Mái Vòm Royal Arch".

Món thứ hai: Một tập hồ sơ viết tay dày khoảng năm mươi trang giấy kẻ ngang, ngoài bìa ghi tiêu đề bằng bút dạ đỏ: "Kế Hoạch B — Danh Dự Của Pháo Thủ". Kẹp bên trong là những bản vẽ kỹ thuật kiến trúc ba chiều chi tiết đến từng ngóc ngách của sân vận động Royal Arch, với các vùng phủ sóng của hệ thống camera giám sát CCTV được khoanh tròn bằng mực dạ quang màu cam, ghi chú rõ ràng từng điểm mù quang học và góc chết của cảm biến hồng ngoại.

Món thứ ba: Một chùm chìa khóa phụ bằng đồng thau nặng trịch gồm mười hai chiếc chìa cơ khí răng cưa cổ điển, mỗi chiếc đều được gắn một thẻ bài kim loại nhỏ đánh số thứ tự từ 01 đến 12.

"Chúng ta vừa chạm tay vào bộ não của toàn bộ vụ án," Chloé khẽ thốt lên, đeo găng tay nitrile cẩn thận nhấc cuốn sổ bọc da dê màu mận chín lên khỏi lớp nhung đỏ.

Cô nhẹ nhàng lật từng trang giấy dày dặn ngả màu vàng ngà. Đó là những dòng nhật ký viết tay trải dài suốt ba mươi năm cống hiến u uất và cuồng tín của Giles Pembroke: từ những ngày đầu làm chân phụ tá bảo trì sân bóng cũ Highbury, chứng kiến câu lạc bộ chuyển giao thế hệ, cho đến nỗi căm phẫn tột cùng khi các tập đoàn tài phiệt ngoại quốc và những dòng tiền dầu mỏ đổ vào thâu tóm biểu tượng văn hóa trăm năm của bóng đá Anh.

Chloé lật đến trang cuối cùng, nơi những nét mực xanh vẫn còn sắc nét, ghi ngày hai mươi tư tháng năm — đêm diễn ra trận chung kết định mệnh:

"...Chúng nó nghĩ rằng có thể dùng những đồng tiền dầu mỏ bẩn thỉu để mang biểu tượng thiêng liêng của Hoàng gia và của các Pháo thủ sang bên kia eo biển Manche sao? Không bao giờ. Chừng nào Giles này còn thở và trái tim này còn đập dưới mái vòm Royal Arch, chiếc cúp sẽ mãi mãi ở lại nơi nó thuộc về."

Chloé đọc to dòng chữ viết hoa nắn nót được gạch chân hai lần ở cuối trang:

"...Báu vật của Hoàng gia chỉ thuộc về nơi đấng cứu thế đứng nhìn."

"Nơi đấng cứu thế đứng nhìn..." Tôi lặp lại câu nói, trong đầu lập tức xâu chuỗi toàn bộ các dữ kiện: mẩu đất sét đỏ bồn hoa hồng, đôi ủng dính bùn, con chip định vị TRK-ROYAL-01 phát tín hiệu từ khu vực tượng đài, và lời khai của Nigel Higgins. "Lão Giles không giấu cúp trong phòng thay đồ hay hầm rượu. Lão đang chơi trò mật mã biểu tượng học."

"Đấng cứu thế của các Pháo thủ Bắc London," Chloé ngước nhìn tôi, đôi mắt lam lấp lánh sự thấu suốt sắc sảo. "Bức tượng đồng nguyên khối cao bốn mét đặt trước cổng Tây của sân Royal Arch tạc hình tượng vị Huấn luyện viên huyền thoại người Pháp — người đã mang về ba chức vô địch bất bại cho câu lạc bộ và được người hâm mộ tôn xưng là 'Đấng Cứu Thế'!"

"Và ánh mắt của bức tượng đồng đó đang nhìn thẳng vào bồn hoa hồng Tudor Rose nơi chân bệ đá," tôi mỉm cười, cảm nhận từng tế bào trong cơ thể đang râm ran một cảm giác phấn khích tột độ. "Giles Pembroke đã thiết kế một khoang chứa bí mật ngay trong tầm mắt nhìn của bức tượng huyền thoại."

Chloé cẩn thận xếp toàn bộ cuốn nhật ký, tập bản thảo sơ đồ điểm mù CCTV và chùm chìa khóa phụ mười hai chiếc vào túi niêm phong bằng chứng bằng nhựa polyme trong suốt, bấm mã niêm phong kỹ thuật số:

"Biên bản thu giữ Tang vật số 9 (EV-CUP-09): 01 Cuốn sổ tay bọc da dê mang tiêu đề 'Nhật Ký Kẻ Giữ Đền'; 01 Tập bản thảo viết tay 'Kế Hoạch B — Danh Dự Của Pháo Thủ' kèm sơ đồ điểm mù an ninh sân Royal Arch; 01 Chùm chìa khóa phụ bằng đồng thau đánh số từ 01 đến 12 của Giám đốc Cơ sở Vật chất Giles Pembroke."

Mười tám giờ hai mươi lăm phút.

Tôi và Chloé bước ra khỏi cánh cửa gỗ sồi số 14 Highbury Crescent.

Bóng đêm đã hoàn toàn nuốt chửng khu phố Bắc London. Những cột đèn đường cổ điển bằng gang bắt đầu bật sáng, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt xuyên qua làn sương mù bảng lảng đang giăng mắc trên những tán cây sồi già. Không khí ẩm ướt và buốt giá phả vào mặt, nhưng trong lồng ngực tôi lúc này chỉ có ngọn lửa rực cháy của một cuộc săn đuổi sắp đi đến hồi kết.

Chúng tôi bước vào xe Mondeo. Tôi đóng sầm cánh cửa xe, cắm chìa khóa vào ổ khởi động. Tiếng động cơ hai chấm năm lít gầm lên trầm đục, phá tan sự tĩnh lặng của màn đêm.

Trên giá đỡ táp-lô, màn hình điện thoại bảo mật nhấp nháy phát ra một tiếng bíp ngắn:

18:30:00

Con số đếm ngược màu đỏ rực chuyển sang một mốc thời gian lạnh lùng và căng thẳng tột độ:

34:30:00

Còn đúng ba mươi tư giờ ba mươi phút trước hạn chót mười bảy giờ chiều Thứ Ba tại Quảng trường Trafalgar.

Chloé cầm tập sơ đồ điểm mù camera và chùm chìa khóa phụ trên tay, khẽ nghiêng đầu nhìn tôi với một nụ cười quyến rũ đầy thách thức:

"Sơ đồ góc chết camera đã có trong tay. Chìa khóa phụ các cửa ngầm đã đủ mười hai chiếc. Mật mã nơi giấu cúp đã được giải mã một nửa. Anh đã sẵn sàng cho một chuyến viếng thăm không báo trước vào thánh địa Royal Arch giữa đêm nay chưa, Thanh tra Sterling?"

Tôi gạt cần số, nhấn mạnh chân ga, cho chiếc Mondeo vút lao ra khỏi đại lộ Highbury Crescent, hướng thẳng về phía vầng hào quang rực rỡ đang chiếu sáng bầu trời đêm phía nam:

"Chuẩn bị áo ấm và gậy thép đi, Chloé. Đêm nay, chúng ta sẽ mở khóa thánh địa và lôi kẻ giữ đền cùng chiếc cúp ba mươi triệu Bảng ra ngoài ánh sáng."

0