Chương 24: 67.1 Ký
Chiều ấy Hảo mang hai thùng nước lau sàn sang khu trái cây, đi ngang phòng quản lý thì Khánh gọi lại nhờ ký nhận vật tư.
Dũng đang ngồi bên trong, hết ca nhưng chưa về vì chờ Lan
ghé.
Trên màn hình máy tính có ảnh vệt sáp xanh ở Hưng Phát.
Hảo nhìn thấy trước khi Khánh kịp thu nhỏ cửa sổ.
Anh đứng yên.
Khánh hỏi: “Cậu có muốn tôi tắt không?”
Anh đặt thùng xuống, nhìn ảnh thêm vài giây.
“Cái đó giống loại mình dùng đánh thùng không?”
“Có thể. Kỹ thuật đang xem.”
Dũng không nhìn ảnh. Anh nhìn Hảo.
Một lúc sau Hảo nói: “Lần đó tôi chỉ nhớ tiếng găng.”
Khánh không hỏi lần nào.
Hảo tự nói tiếp rằng anh không nhớ màu, cũng không nhớ ai
từng đánh dấu gì lên người mình. Dũng nghe một lúc rồi bảo đừng ép đầu mình nhớ
thêm; có gì trở lại thì cứ để nó tự trở lại.
Ngoài hành lang, Liên đẩy xe rác qua chỗ nối nền. Một bánh
nhỏ kẹt mép gạch phát ra tiếng két rồi cộc hai cái. Hảo giật vai rất nhẹ. Dũng
cũng nhìn ra cửa.
Liên không biết trong phòng đang nói gì, vừa đi vừa càu nhàu
cái bánh mới tra dầu hôm qua đã kêu lại. Tiếng xe xa dần về phía khu rau.
Hảo tự cười mình. “Nghe cái nào cũng tưởng giống.”
Dũng hỏi có muốn anh đóng cửa không. Hảo lắc đầu. Anh nói
hồi mới quay lại làm, chỉ cần nghe kim loại lăn sau lưng là quay phắt lại; bây
giờ ít nhất còn biết nhìn xem đó là xe nước, xe rác hay xe hàng rồi mới sợ.
“Còn tiếng hôm đó?” Dũng hỏi.
Hảo suy nghĩ khá lâu rồi đáp rằng anh không dám chọn một âm
thanh trong chợ để bảo nó là âm thanh mình đã nghe lúc bị giữ. “Chợ thiếu gì
bánh sắt. Nghe lại nhiều quá rồi mình tự dạy đầu mình nhớ sai.”
Dũng gật. Anh không kể tiếng bánh mình từng nghe giống loại
nào nữa. Khánh cũng không mở file lời khai cũ ra đối chiếu. Hảo ký phiếu vật
tư, nhấc hai thùng nước lau sàn lên. Trước khi đi anh còn quay lại bảo Liên
chiều nhớ cho mượn chai dầu máy; cái xe rác kêu tới tối chắc cả chợ mất ngủ.
Hảo cười rất nhẹ. “Anh nói nghe dễ.”
Dũng lắc đầu. “Có dễ đâu.”
Cả hai im.
Khánh ký phiếu vật tư rồi đẩy sang cho Hảo.
“Cậu còn hai thùng phải giao.”
Hảo cầm giấy. “Biết rồi.”
Anh nhấc thùng lên đi.
Dũng nhìn theo, rồi mới quay sang ảnh trên màn hình.
Anh không xin phóng lớn.
Bảy Cò tới Hưng Phát sau khi phần N3 được mở thêm một ngày.
Con trai chở ông bằng xe máy. Ông xuống xe chậm, vừa đi vừa
càu nhàu rằng người ta đào bới một cái kho cũ làm gì cho mệt. Nhưng tới gần bức
tường, ông im.
Tường đưa ông mũ bảo hộ. Bảy đội lệch rồi tự chỉnh.
Ông không bước vào khe mở. Đứng ngoài cũng nhìn thấy hai
thanh ray và khoảng nền vuông nơi chiếc cân từng đặt.
Bảy vừa tới mép mở đã chỉ khoảng nền vuông. “Chỗ đó.”
“Từ ảnh hay từ trí nhớ?”
Ông quay sang. “Tôi đứng đây cả chục năm. Cái cột kia nứt
chỗ nào tôi còn nhớ.”
Ông chỉ một vết vá trên trụ bê tông rồi lại nhìn nền.
“Cân số hai đặt sát mép. Mùa mưa phải kê thêm miếng cao su,
không là chân nó ăn xuống nền.”
Kỹ thuật viên hỏi miếng cao su loại gì. Bảy nhún vai, bảo
cắt từ lốp xe cũ.
Ông nhìn mẩu sáp xanh trong túi vật chứng qua lớp nhựa
trong.
“Bút này hồi đó đầy.”
“Ông có nhớ ai hay dùng?” Thành hỏi.
“Ai cũng dùng. Gạo rách bao, thùng móp, đánh một gạch rồi
ghi lại. Đừng lấy mỗi cây bút làm chuyện.”
Thành nói không ai định làm vậy.
Trước khi về, Bảy đứng nhìn khoảng nền thêm một lúc rồi chợt
nói cân số hai ngày trước hay lệch kim sang trái. Ai trực N3 cũng biết có lúc
phải gõ vào trụ vài cái cho kim về.
Thành nhớ buổi thử tải trong kho vật chứng nhưng không kể
lại ngay. Anh chỉ hỏi ông có chắc thói quen đó thuộc cân số hai chứ không phải
cân cổng.
Bảy nói cân cổng không bị như vậy.
Sau đó ông đội mũ trả Tường và bảo con trai chở về.
* * *
Phần hồ sơ cân của Hưng Phát khó hơn.
Phước tìm được một quyển sổ cân lại bìa xanh trong thùng tài
liệu thứ hai. Nhiều trang đã mục ở mép, nhưng khoảng thời gian Lộc mất vẫn đọc
được phần lớn.
Bảy xác nhận đó là kiểu sổ đặt cạnh cân số hai. Ông không
phải người duy nhất ghi. Ai trực N3 thì ghi số bao, khối lượng cân lại và ký
tắt nếu có tranh chấp.
Ngày Lộc mất có ba dòng vào buổi sáng.
5 giờ 55: 6 bao gạo - 302,4 kg.
6 giờ 07: cân lại - 301,8 kg.
6 giờ 18: 67,1 kg.
Dòng cuối không ghi mặt hàng, tên hay ký tắt. Trên giấy chỉ
còn con số 67,1.
Thành chưa cho Trâm xem ngay.
Anh hỏi Phước cân số hai có từng dùng cân người không.
Phước cười như bị hỏi chuyện ngớ ngẩn.
“Cân bàn thì đứng lên vẫn cân được, nhưng ai rảnh.”
“Có quy định cấm không?”
“Không. Công nhân cần biết cân nặng thì bước lên thôi.”
Bảy được hỏi riêng qua điện thoại. Ông nói thỉnh thoảng
người bốc hàng đứng thử cân cho vui hoặc để kiểm kim về không, nhưng sổ cân
hàng không ai ghi cân người.
“67 ký có thể là gì?” Thành hỏi.
“Một bao gạo lớn. Một thùng hàng. Hai bao thiếu. Cái gì chả
được.”
Bảy không nhớ dòng đó. Thành ghi đúng như ông nói.
Trâm được gọi tới chiều hôm sau.
Cô nhìn con số 67,1 khá lâu.
Trâm đẩy bản chụp ra xa một chút. “Anh đừng đem số đó gắn
vào anh tôi.”
Thành nói anh chưa làm vậy. Dòng sổ không có tên, mặt hàng
hay ký tắt.
“Vậy cứ để nó là sáu mươi bảy phẩy một.”
Trong sổ của một ngày khác còn một dòng không ghi hàng.
Đó là ngày chiếc xe trung chuyển chở lô R-44 rời đầu mối rồi
ghé Hưng Phát.
Ở phần buổi sáng, giữa hai dòng hàng trả, có số 49,6 kg. Mép
giấy bị mất nên không còn tên hay ký hiệu N3.
Hường chỉ được báo rằng trong ngày chiếc xe trung chuyển chở
R-44 ghé kho có một dòng cân chưa rõ hàng. Thành nói luôn chưa có gì nối dòng
đó với Nga.
Bà hỏi có biết đó là bốn khay cam không.
Thành nói chưa. Sổ không ghi mặt hàng, và cũng chưa có biên
bản xác nhận R-44 đã được dỡ ở Hưng Phát.
Hường im một lúc rồi dặn khi nào có thứ gì trực tiếp hơn hãy
gọi.
Dũng cưới vào cuối tháng.
Ngày chính xác Khánh biết vì anh đã nhận thiệp, nhưng trong
chợ mọi người nhắc bằng những việc nhỏ hơn: Lan đem mẫu áo dài cho Mến coi,
Dũng xin đổi một buổi ca để đi thử đồ, Tân chê thiệp màu nhạt, Hảo hỏi có được
dẫn con gái theo không.
Mỗi lần bị chọc chuyện cưới, Dũng cằn nhằn vài câu nhưng mặt
vẫn cười.
Anh vẫn tránh căn phòng cũ dưới cầu thang trái cây nếu không
cần đi qua, nhưng không còn vòng cả dãy để né. Có hôm anh đứng ngay gần đó nói
chuyện với nhân viên giao gas gần mười phút rồi mới nhận ra mình đã đứng ở đâu.
Thu thấy nhưng không nói.
Một buổi chiều, Lan tới đưa Dũng hộp cơm. Cô gặp Thu ở cửa
phòng trực.
Lan gọi Thu lại, hơi ngập ngừng rồi hỏi: “Cái cân đó có thật
là từ cái kho kia không chị?”
Thu nhìn vào trong. Dũng đang cúi ký bàn giao, chưa nghe.
“Người ta nói khả năng rất cao.”
“Anh ấy không kể hết với em.”
“Không kể hết cũng được.”
Lan nhìn bà.
Thu nói thêm: “Không phải giấu. Có cái gì chưa biết thì kể
hết cũng chỉ thêm chỗ cho mình nghĩ.”
Lan gật.
Dũng ngẩng lên gọi cô.
Lan cầm hộp cơm đi vào.
Thu rời phòng trực.
Bà đi chậm hơn thường ngày một chút.
Phần mở N3 không cho một câu trả lời gọn. Nó chỉ nối được
thêm vài thứ: thanh ray, vệt sáp xanh, vị trí chiếc cân số hai và một quyển sổ
cân đã mục mép.
* * *
Thành yêu cầu kho vật chứng kiểm riêng cụm bánh. Biên bản
lần đầu từng ghi các bánh kim loại gần như sạch, chỉ bám một lớp bụi mịn.
Khi thử không tải trên nền phẳng, chiếc cân vẫn lăn được
chậm bằng chính bánh của nó. Đổi hướng trong khoảng hẹp cần hai người ghì và
nhấc nhẹ một đầu; một xe đẩy thứ hai không phải điều bắt buộc.
Chi tiết ấy khiến lời Dũng từng nhớ về “xe đẩy nhỏ, kim
loại” phải được giữ ở mức rộng hơn. Âm thanh có thể đến từ chính cụm bánh của
cân, cũng có thể từ một xe đẩy khác; lời khai không đủ để phân biệt.
Kỹ thuật viên ghi kết quả thử bánh vào biên bản bổ sung.
Không có dấu trên bánh đủ rõ để dựng lại tuyến di chuyển cũ.
Biên bản lần đầu từng ghi cụm bánh gần như sạch so với lớp
mỡ bụi dưới mặt bàn. Lần kiểm này họ xem lại ảnh độ phân giải cao và mẫu bụi đã
lưu. Không có vệt bùn, sợi thảm hay hạt nền đặc trưng đủ để nói chiếc cân vừa
lăn qua sân, hành lang hay một tấm ván nào đó trước khi được tìm thấy.
Một người kỹ thuật nhắc bánh sạch cũng có nhiều cách xảy ra:
nền khô, bánh từng được lau, cân được kê lên vật khác ở một đoạn đường, hoặc
đơn giản phần bánh tiếp xúc đã cọ hết lớp bụi ngoài. Không phương án nào có dấu
riêng trên vật chứng để chọn.
Thành bảo ghi đúng tới đó. Điều anh cần từ phép thử chỉ là
chiếc cân tự lăn được; còn nó đã lăn ở đâu, lúc nào và có ai đẩy hay không vẫn
là ba câu khác.
Trước khi gọi Dũng, Thành yêu cầu đo lại cửa phòng cũ và
đoạn hành lang dịch vụ. Anh muốn tách hai câu hỏi: chiếc cân có lọt qua theo
cách bình thường hay không, và điều đó có giải thích được đêm Dũng xuất hiện
hay không.
Khối lượng bản thân của cân hơn chín chục ký. Nhờ cụm bánh ở
chân, trên nền phẳng hai người có thể đẩy và ghì hướng; tới đoạn cua hẹp phải
nhấc nhẹ một đầu. Xoay đúng chiều, mặt bàn lọt qua cửa phòng cũ.
Tân được mời lên xem kích thước và sơ đồ. Ông từng trực
nhiều năm ở Phú Thành, lắc đầu khi Khánh hỏi có nhớ chợ từng nhận chiếc cân này
không.
“Cân của chợ tôi biết. Cái này thì không.”
Tân lấy đầu bút dò một tuyến từ sân sau qua hành lang dịch
vụ rồi vòng vào chân cầu thang. Ban ngày, một vật như vậy có thể lẫn giữa xe
vật tư nếu có người chủ động đưa vào. Ban ngày, một vật như vậy có thể lẫn giữa
xe vật tư nếu có người chủ động đưa vào. Ông dừng ở đó, không dùng cách giải
thích ấy cho đêm Dũng mất tích.
Họ mở lại biên bản và footage đêm ấy. Lần mở phòng đầu tiên
có công an chứng kiến không có Dũng và cũng không có chiếc cân bàn lớn. Khánh
khóa lại trước mặt hai cán bộ; chìa dự phòng vẫn nguyên niêm. Từ lúc cửa đóng
lần đó tới khi điện thoại Dũng rung trong phòng chưa đầy hai mươi phút, cửa gần
như liên tục nằm trong tầm nhìn của những người đứng cuối dãy.
Camera không ghi một chiếc cân đi vào trong quãng ấy. Phần
chân cầu thang bị quầy cũ che một phần, nhưng khoảng che đó không giải thích
được lần kiểm phòng đầu tiên, ổ khóa vẫn nguyên hay những người đang đứng ngoài
cửa.
Bản bổ sung vì thế tách riêng hai kết luận: về kích thước và
lối đi, chiếc cân có thể được đưa qua theo cách thông thường; các phép đo đó
không dựng lại được cách nó xuất hiện trong căn phòng đêm Dũng được tìm thấy.
Khánh đọc xong chỉ nói: “Vậy vẫn chưa biết nó vào lúc nào.”
Thành gật. “Chưa.”
Tân nhìn sơ đồ thêm một lúc rồi bảo nếu đi theo cách bình
thường thì vẫn phải có người đẩy hoặc ghì nó. Còn quãng chưa đầy hai mươi phút
ấy, ông không có câu trả lời.
Khánh không báo qua điện thoại cho Dũng.
Anh đợi Dũng hết ca rồi gọi lên phòng.
Lan đang chờ ngoài cổng nên cũng được mời vào nếu Dũng muốn.
Dũng nói để cô vào.
Thu không có mặt. Bà đang ở nhà.
Thành tham gia bằng cuộc gọi video, giải thích ngắn gọn
những gì đủ kết luận và những gì chưa.
Chiếc cân Dũng được tìm thấy trên đó gần như chắc chắn từng
là cân số 2 ở N3 Hưng Phát.
Không có hồ sơ cho biết nó rời Hưng Phát bằng cách nào.
Không có hồ sơ Phú Thành từng mua, nhận hay thanh lý một cái
cân như vậy.
Lúc Dũng được tìm thấy, chiếc cân của Phú Thành vẫn nằm ở
kho dụng cụ phía đông.
Dũng nghe hết.
Lan nắm tay anh dưới bàn.
Anh hỏi: “Ngày Lộc mất, cái cân này còn ở Hưng Phát?”
Thành đáp có tài liệu cho thấy nó được sử dụng tại N3 giai
đoạn đó.
“Còn Nga?”
“Có khả năng vẫn ở đó trong năm Nga mất, nhưng hồ sơ vị trí
không liên tục từng ngày.”
Anh không hỏi thêm khoảng gần một phút.
Khánh rót nước nhưng Dũng không uống.
Cuối cùng anh nói: “Tôi nhớ lúc ở trong phòng đó, tôi không
biết mình đang ngồi trên cân cho tới khi nhìn xuống.”
Lan siết tay anh.
Dũng nhìn Thành trên màn hình.
“Anh có nghĩ nó đã cân tôi không?”
Thành không trả lời ngay.
“Không có số cân nào từ đêm đó,” anh nói. “Không có ai thấy
kim chỉ ở đâu. Tôi không biết.”
Dũng nhìn mặt bàn.
“Được.”
Một lúc sau anh đứng lên.
“Về thôi em.”
Lan cũng đứng.
Khánh hỏi Dũng mai có đi làm không.
Dũng quay lại, hơi ngạc nhiên.
“Có. Sao không?”
Khánh cười. “Không sao.”
Dũng chỉ tay vào anh.
“Anh đừng có nhìn tôi như người sắp xin nghỉ.”
Lan kéo tay anh. “Đi về.”
Hai người đi.
Khánh đứng ở cửa phòng nhìn tới khi họ xuống hết cầu thang.
* * *
Buổi trưa, kỹ thuật viên tài liệu gọi Thành.
Trong lúc số hóa phiếu Hưng Phát quanh ngày Lộc mất để tìm
người viết tên ở ô nhận, họ tách được một tờ carbon bị dính. Dòng bị che không
có tên Lộc, chỉ có ba mục:
C2.
67,1.
Đã nhận.
Ở mép phải có một ký hiệu bút chì rất nhỏ: R-44.
Thành không nói gì trong vài giây.
R-44 từng xuất hiện trên bốn khay cam dập trong hồ sơ Nga,
cách vụ Lộc hơn một năm. Chừng đó chưa đủ để nói hai ký hiệu là một.
Kỹ thuật viên nhắc mã chữ-số có thể trùng giữa các hệ ghi
chép và chưa đối chiếu nét bút với mẫu R-44 của đầu mối trái cây.
Thành bảo đừng gửi ảnh qua ứng dụng cá nhân, giữ file trong
hồ sơ và so nét trước.
Anh cúp máy.
Rồi mở lại hai tập hồ sơ.
Nga.
Lộc.
Giữa hai vụ là hơn một năm.
Trên bàn, ảnh chiếc cân số hai nằm ngửa, phần chân hàn thô
quay về phía anh. Thành kéo hồ sơ Nga lại gần nhưng không mở ngay.
Thành ngồi yên một lúc rồi mới gọi Khánh.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.