Chương 23: Cái Cân
Buổi sáng sau khi Thu đề nghị kiểm các phiếu trước và sau ngày Lộc mất, Thành không xuống Phú Thành ngay.
Anh gọi cho Khánh lúc chợ vừa mở cổng, bảo đừng báo Trâm vội
vì kết quả đầu tiên dễ bị nghe thành một chuyện khác.
Khánh đang đứng ở bàn nhận hàng mới. Đạt cúi ghi giờ vào một
phiếu rau trả, bên cạnh là một sọt bí đỏ bị dập góc. Tiếng xe tải lùi, tiếng
người gọi nhau, tiếng kéo bạt nổi lên cùng lúc. Khánh áp điện thoại sát tai mới
nghe rõ.
Trong ba tập hồ sơ Hưng Phát còn đọc được, tên “Lộc” xuất
hiện ở ô người nhận thêm hai lần.
Cả hai đều trước ngày anh mất tích.
Một lần cách đó gần ba tuần, một lần cách đó hơn một tháng.
Chữ ở ô nhận không giống chữ “Lộc” trong ô người giao của tờ ngày mất; qua ảnh
phóng, nó lại khá gần kiểu chữ đứng được tìm thấy ở ô người nhận hôm ấy. Chuyên
viên tài liệu chưa kết luận cùng một tay viết vì mẫu ít và chất lượng giấy kém.
Sau ngày Lộc mất, trong phần hồ sơ còn lại không có lần nào
tên đó xuất hiện thêm ở ô nhận.
Khánh hỏi có phải cái tên Lộc đã được dùng ở ô nhận từ
trước. Thành chỉ nói hồ sơ mới cho thấy tên ấy xuất hiện ở đó; người viết và
người thực tế đứng nhận vẫn chưa biết.
Khánh nhìn Đạt trả một liên phiếu cho tài xế rồi hỏi còn
điểm nào khác. Có. Cạnh cả ba dòng đều có cùng một ký hiệu: C2.
Thành bảo Bảy Cò vừa xác nhận C2 là cách ông ghi tắt “cân số
hai”. Hưng Phát ngày trước có hai cân bàn cơ khí loại lớn. Cân số một đặt gần
cổng chính để cân bao và kiện nhập. Cân số hai nằm ở cuối ram N3, dùng cân lại
hàng trả khi bên nhận không đồng ý số lượng hoặc khối lượng trên phiếu giao.
Khánh quay mặt về phía phòng quản lý.
Trong đầu anh hiện ra căn phòng cũ dưới cầu thang trái cây,
chiếc điện thoại Dũng rung trong bóng tối và cái cân bàn không có nhãn tài sản
nằm dưới người anh.
Anh không nói ngay.
Thành hỏi: “Anh còn giữ ảnh cái cân hôm Dũng được tìm thấy
không?”
“Có trong hồ sơ vụ đó.”
“Tôi đã xin lấy lại ảnh gốc để so. Đừng nói với Dũng trước
khi có cái để nói.”
Khánh đáp được.
Cúp máy, anh vẫn đứng nguyên vài giây.
Đạt ngẩng lên hỏi có chuyện gì. Khánh chỉ nói chưa biết.
Thu biết chuyện vào gần trưa.
Bà đang cùng Hảo kiểm mấy thùng nước tẩy mới nhập ở kho phía
đông. Hảo đã quen lại công việc ban ngày, nhưng mỗi khi nghe tiếng bánh xe kim
loại kẹt ở nền, vai anh vẫn hơi cứng lên trước khi thả xuống.
Khánh không gọi Thu lên phòng. Anh tự xuống kho.
Hảo nhìn mặt Khánh rồi đặt bút xuống, bảo sẽ ra ngoài đứng
một lát. Thu nhắc anh có hút thuốc đâu; Hảo nói biết rồi và đi thật.
Khánh kể về ký hiệu C2.
Thu nghe xong chỉ hỏi: “Cái cân của Dũng còn ở đâu?”
“Đang lưu giữ theo hồ sơ vụ đó. Thành xin kiểm lại.”
“Lần trước người ta đã kiểm rồi.”
“Kiểm để tìm nguồn thì chưa ra.”
Thu đóng nắp thùng hóa chất.
Bà nhớ rất rõ Dũng ngồi trên mặt cân, một chiếc giày đã được
tháo, những vệt sáp xanh đặt lên sống mũi lệch, răng cửa chồng, sẹo khuỷu tay,
móng tay mẻ và gót chân chai. Hồi đó cái cân chỉ là một vật sai chỗ. Một vật
rất nặng xuất hiện trong căn phòng đã được mở kiểm hai lần.
Bây giờ nó có thể có một nơi từng thuộc về.
Dũng chưa được báo. Thu bảo cứ đợi kết quả rồi hãy nói.
Khánh nhìn bà lâu hơn một chút khiến Thu cau mày.
“Anh tưởng tôi sẽ bắt anh gọi nó xuống ngay à?”
Khánh chối, nhưng Thu nhìn mặt anh rồi bảo khỏi chối.
Khánh cười một cái rồi thôi.
Hảo đứng ngoài cửa kho, hai tay đút túi. Anh không hút
thuốc. Khi thấy Khánh đi ra, anh mới quay vào.
“Có việc gì à chị?”
“Cái cân của Dũng.”
Thu không kể tiếp. Bà đưa anh bảng kê thùng hóa chất còn
thiếu chữ ký.
Hảo đọc rồi ký.
Hai người tiếp tục làm việc.
Chiếc cân được đưa ra kiểm lại vào chiều hôm đó tại kho vật
chứng, không chuyển về Phú Thành.
Thành có mặt cùng cán bộ kỹ thuật đã từng xem nó lần đầu và
một người chuyên phục hồi ký hiệu trên kim loại. Khánh không đi. Anh gửi ảnh cũ
và bản chụp hồ sơ Hưng Phát.
Cân cao chưa tới đầu gối, mặt bàn thép dày đã xỉn, bên dưới
là khung gang nặng. Mặt đồng hồ tròn đặt trên trụ, lớp kính có một vết xước
cong ở góc phải. Không còn nhãn tài sản. Số máy trên thân chỉ đọc được vài ký
tự vì bề mặt đã bị mài và sơn đè từ lâu.
Lần kiểm đầu chỉ đủ xác định đây là mẫu cân phổ biến từng
bán nhiều năm, không truy được nơi sử dụng.
Mục tiêu lần kiểm này là đối chiếu nguồn gốc sử dụng của
chiếc cân, không phải xác định lại mẫu cân.
Người phục hồi ký hiệu dùng ánh xiên và chụp từng lớp sơn
bong ở mặt trong chân đế. Dưới lớp xám hiện tại có một lớp xanh đậm cũ hơn. Ở
mép sau, nơi ít bị cọ, xuất hiện một vệt trắng không đều.
Ban đầu chỉ giống vết sơn.
Khi phóng lớn, nó thành hai nét thẳng và một vòng cong đã
mất nửa.
H.
P.
Bên dưới còn một phần số.
Một nét cong giống 2.
Thành nhìn màn hình nhưng không nói.
Kỹ thuật viên tiếp tục chụp ở độ tương phản khác. Không ai
được phép dùng giấy nhám hay cạo thêm chỉ để làm chữ rõ hơn.
Kết quả tốt nhất buổi đầu chỉ tới đó: dưới lớp sơn hiện có
dấu cũ phù hợp với “HP”, còn ký tự phía dưới mới đủ để nói có thể là số 2. Nét
cuối chưa rõ tới mức cho phép ghi chắc.
Ở chân sau bên trái của cân có một thanh thép nhỏ được hàn
gia cường, mối hàn thô hơn phần khung còn lại. Một góc mặt bàn bị móp vào
khoảng nửa centimet.
Thành yêu cầu chụp từng đặc điểm rồi gửi sang hồ sơ Hưng
Phát.
Đến tối, Phước trả lời rằng cha ông ngày trước hay chụp ảnh
tài sản để làm bảo hiểm kho. Ông phải tìm lại ổ cứng cũ.
Thành không gọi cho Dũng.
* * *
Dũng biết trước khi Thành kịp gọi.
Lan thấy Khánh nói chuyện với Thu ở khu kho, tối về hỏi Dũng
có chuyện gì liên quan tới anh không. Dũng nói không biết. Lan nhìn anh một lúc
rồi bảo nếu không biết thì đừng tự ngồi đoán.
Đến sáng hôm sau, Khánh chủ động gọi anh lên phòng quản lý
sau khi ca ngày bắt đầu.
Thu cũng có mặt, nhưng đứng gần cửa sổ chứ không ngồi cùng
bàn.
Khánh nói thẳng rằng có khả năng chiếc cân từng xuất hiện
trong phòng cũ của Dũng liên quan tới một kho hàng cũ tên Hưng Phát. Chưa có
kết luận cuối.
Dũng nghe tới Hưng Phát thì nhìn Thu.
“Kho của Lộc?”
“Kho có phiếu mang tên Lộc,” Thu nói. “Đừng đổi câu.”
Dũng gật ngay.
Khánh đưa ảnh phần sơn cũ H.P. và nét số chưa rõ.
Dũng nhìn rất lâu.
“Anh muốn tôi làm gì?”
“Không gì cả.”
“Có cần tôi xem cái cân không?”
“Không.”
Dũng đặt điện thoại xuống bàn.
Anh ngồi thêm một lúc rồi hỏi Lan có biết chưa. Khánh nói
chưa ai gọi cho cô.
Dũng lấy điện thoại của mình, nhắn vài dòng.
Thu không nhìn.
Sau khi gửi xong, Dũng nói: “Tôi không muốn cô ấy nghe từ
người khác.”
Dũng đứng lên đi ra cửa rồi dừng lại.
“Cái cân đó… nếu đúng của Hưng Phát thì nó tới chợ bằng cách
nào?”
Khánh đáp: “Chưa biết.”
Lần này Dũng cười mỏng.
“Nghe câu đó riết cũng quen.”
Anh đi xuống ca trực ngày.
Thu nhìn theo đến khi Dũng khuất dưới cầu thang.
Bà không thấy anh quay đầu nhìn căn phòng cũ.
Phước tìm được ảnh vào chiều cùng ngày.
Ổ cứng chứa gần hai nghìn tệp, phần lớn là ảnh xe, mái kho,
hàng tồn và các góc tường bị thấm nước để gửi bảo hiểm. Trong một thư mục có
ngày cách thời điểm Lộc mất hơn hai năm, một bức ảnh chụp cuối ram N3 từ trên
cabin xe tải.
Cân số hai nằm ngay sát tường.
Ảnh không đủ sắc để đọc số máy, nhưng mối hàn ở chân sau bên
trái hiện rõ thành một vệt sáng xấu. Góc mặt bàn phía trước bên phải bị móp.
Khánh nhìn hai ảnh đặt cạnh nhau trên màn hình của Thành.
“Cùng một cái?”
Người kỹ thuật trả lời trước: “Rất giống. Muốn nói cùng một
thì cần thêm.”
Phước có thêm một tờ kê tài sản cũ.
Cân bàn số 2.
Tải tối đa 500 kg.
Vị trí: N3.
Ghi chú sửa chữa: hàn giằng chân trái.
Dòng thanh lý không có chữ ký người mua. Chỉ ghi “hỏng -
loại”.
Phước lật thêm mấy tờ rồi nói hai chữ ấy không chứng minh
chiếc cân đã được chở khỏi kho. Sau khi Hưng Phát ngừng nhận hàng, người ta
kiểm kê nhiều đợt để quyết toán bảo hiểm, bán sắt vụn và trả mặt bằng. Có thứ
bị gạch “loại” nhưng nằm nguyên thêm vài tháng vì chưa ai tới kéo đi; có thứ
bán rồi mà danh sách cuối năm vẫn còn tên.
Phước lục hết phần giấy bán phế liệu: có khung kệ, có tôn
mái, không có chiếc cân. Ông cũng chưa từng nghe cha nói đã bán nó.
“Vậy dòng này mới chỉ cho biết người lập danh sách muốn loại
tài sản?” Thành nói.
Phước gật. “Tôi hiểu vậy. Còn nó rời đây ngày nào thì chịu.”
Thành yêu cầu bản ghi giữ nguyên sự lộn xộn ấy. Anh không
cho gộp “hỏng - loại” thành “đã thanh lý”, cũng không lấy việc thiếu phiếu bán
làm bằng chứng chiếc cân còn ở kho. Hồ sơ cũ chỉ đủ cho thấy đến lúc kiểm kê,
người ta vẫn còn gọi nó là cân bàn số hai của N3.
Ngày ghi loại sau khi Hưng Phát ngừng hoạt động chính thức
gần một năm.
Thành hỏi Phước ai xử lý tài sản thời điểm đó.
Phước đáp cha ông và một người quản kho tên Sáng. Cha đã
mất. Sáng chuyển vào miền Trung từ lâu, số cũ không liên lạc được.
“Anh có nhớ cái cân được chở đi không?”
“Không.”
“Có nhớ thấy nó sau khi N3 xây kín?”
Phước dựa lưng vào ghế.
“Có thể không.”
Thành nhìn ông.
Phước thở dài. “Anh đừng nhìn tôi kiểu đó. Hồi ấy dọn kho cả
tuần, đồ gì cũng chở. Tôi không nhớ một cái cân.”
“Ông Bảy nói N3 bị xây kín trước khi kho đóng hẳn.”
“Đúng.”
“Cân số hai lúc đó ở trong hay ngoài?”
Phước im.
Ông nhìn ảnh cũ.
“Tôi nhớ nó ở N3.”
“Lúc xây?”
“Không chắc.”
Thành không hỏi kiểu khác để lấy một câu chắc hơn.
Anh ghi đúng phần Phước nhớ và phần ông không nhớ.
Việc nhận dạng chiếc cân được làm ngoài Phú Thành. Không ai
mang nó trở lại chợ. Chỉ ảnh, số đo và vài đoạn video đi qua phòng quản lý, đủ
để Dũng biết cái vật từng nằm dưới lưng mình có một đời sống cũ trước đêm cậu
mất tích.
* * *
Thu không được nghe câu chuyện cái cân suốt cả buổi tối.
Bà bận với một chuyện khác nhỏ hơn nhiều.
Mến đau răng.
Chiếc răng sâu hàm dưới đã đau âm ỉ từ lâu mà Mến vẫn lần
lữa chưa chịu đi chữa. Buổi chiều bà nhai trúng miếng xương gà, đau đến chảy
nước mắt rồi vẫn đứng bán thêm gần hai tiếng.
Thu bắt gặp Mến đang súc miệng nước muối sau sạp.
“Đi nha sĩ.”
“Mai.”
“Bà nói mai từ hồi cái răng trên còn đủ.”
Mến liếc bà. “Bà nhớ dai vừa thôi.”
“Đau tới mặt méo còn bày đặt.”
“Bán hết mẻ này.”
“Bà chết ở đây thì tôi không khiêng đâu.”
Mến bật cười rồi ôm má vì đau.
Cuối cùng con trai bà phải tới chở đi.
Khánh đứng ở đầu dãy nhìn hai mẹ con cãi nhau chuyện đóng
sạp, lắc đầu.
“Chợ này giờ ai cũng bị chị đuổi đi khám răng.”
Thu quay sang. “Anh muốn tôi đuổi anh luôn không?”
Khánh thôi nói.
Tối đó Mến nhắn đã chụp phim, bác sĩ cho thuốc giảm viêm rồi
hẹn xử lý sau. Chiếc răng sâu vẫn còn.
Thu đọc tin, ngón tay dừng trên màn hình một lúc rồi mới xóa
thông báo.
Ba ngày sau, đơn vị kết cấu cho phép mở rộng lỗ thăm ở Hưng
Phát. Họ không phá cả bức tường: hai điểm được chống tạm, một mảng gạch vừa đủ
cho đèn và camera được tháo ra. Chỉ sau khi kỹ sư kiểm phần treo phía trong,
người làm mới được phép tiến sát khe mở.
Thành, Phước, Tường và cán bộ địa bàn có mặt. Trâm được báo
nhưng không tới. Cô nói nếu có thứ gì liên quan trực tiếp Lộc thì gọi sau.
Bảy Cò cũng không tới. Ông bảo chân đau, và thật ra ông
không muốn nhìn lại N3.
Khi khe mở đủ rộng, hơi bê tông ẩm và sắt gỉ phả ra. Phía
sau bức tường đúng là ram nhận hàng cũ bị lấp một phần. Ray sắt chạy xuống cuối
rồi dừng ở một ô nền hình chữ nhật sạch hơn xung quanh một chút, như nơi từng
có vật nặng che lâu năm trước khi bụi và ẩm phủ lại.
Kỹ thuật viên đo kích thước.
Chiều dài gần bằng mặt bàn của chiếc cân vật chứng.
Chiều rộng cũng gần.
Ở bốn góc có bốn vết lõm cũ trên nền, không phải lỗ bu lông
mà giống điểm chân đế đè nhiều năm.
Thành yêu cầu ghi “phù hợp kích thước”, không ghi “vị trí
chiếc cân”.
Phước đứng ngoài khe nhìn vào.
“Đúng chỗ nó.”
Thành quay lại. “Ông nhớ?”
“Ảnh kia chụp rồi còn gì.”
“Ý tôi là ông nhớ bằng trí nhớ hay nhìn ảnh rồi thấy quen?”
Phước bực nhưng vẫn đáp: “Nhìn ảnh rồi thấy quen.”
Ở mép tường bên phải có những vệt sáp màu xanh đã ngấm vào
lớp sơn cũ. Một vài nét dài như dấu kiểm hàng, vài nét chỉ là chấm ngắn. Kỹ
thuật viên lấy mẫu ở chỗ còn bám vật liệu.
Phước nhìn màu xanh rồi nói kho trước đây dùng bút sáp để
đánh bao, chuyện đó không lạ.
Thành đáp anh cũng nghĩ vậy.
Phần tường trong cùng có một móc sắt ngang vai người lớn.
Dưới móc là đinh treo sổ đã gỉ. Không có sổ.
Gần chân ray, họ tìm được một mẩu bút sáp xanh dài chưa tới
đốt ngón tay, bọc bùn cứng.
Nó được chụp tại chỗ, đánh số và thu riêng.
Không ai nhắc tới các dấu trên người Dũng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.