Chương 22: N3
Họ đi về cuối kho.
Sát bức tường xây bịt N3 có sáu vệt ẩm hình chữ nhật trên
nền.
Không xếp ngay ngắn.
Ba vệt gần tường, hai vệt lệch sang trái, một vệt nằm sát
chân thanh ray cũ.
Kích thước mỗi vệt gần bằng đáy bao gạo năm mươi ký, nhưng
không ai lấy thước rồi tuyên bố ngay.
Kỹ thuật viên được gọi tới chụp, đo, lấy mẫu nước bề mặt.
Tường ngồi xổm cách đó một mét.
Tường chưa từng thấy chỗ ấy dột. Dưới nền có ống cũ hay
không, ông chịu.
Một nhân viên lấy khăn giấy chạm ở rìa vệt. Nước trong,
không mùi.
Thành ngăn cậu lau thêm.
Sáu vệt không phải sáu bao gạo.
Chúng chỉ là sáu vùng nền ẩm.
Có thể nước thấm từ khe tường, chảy theo gờ nền và đọng
thành hình vì bụi, vì vật gì đó từng nằm ở đó trước đây, hoặc vì một người đã
đổ nước.
Camera không cho thấy ai làm.
Khánh tới sau khi Thu gọi hỏi mãi mới biết anh đã rời chợ từ
sáng.
Anh đứng nhìn sáu vệt khá lâu.
“Có cần gọi Thu không?” Thành hỏi.
“Không.”
“Anh chắc?”
“Chị ấy có làm kỹ thuật nền đâu.”
Thành cười.
“Tiến bộ.”
Khánh nhìn anh.
“Anh muốn tôi đánh anh bằng cái gì?”
Cả hai đều nhớ câu của Thu, nên không ai cười thêm.
Tường đồng ý cho gắn thêm camera và micro ở cuối kho. Đội
kết cấu vẫn chưa cho phá bức tường N3; họ chỉ đánh dấu phần nền lún, kiểm đường
nước và giữ nguyên thanh ray cũ.
* * *
Lỗ thăm được khoan lúc 14 giờ 20. Bụi cũ và hơi ẩm phả ra
theo mũi khoan, không có mùi nào khác.
Camera ống đi vào khoảng rỗng chưa tới một mét rồi gặp xà
bần. Bên trái còn một khe nhỏ giữa hai mảng bê tông. Kỹ sư xoay đầu camera qua
khe.
Phía sau là phần nền dốc cũ, đầy gạch vụn.
Một đoạn ray sắt chạy xuống rồi mất dưới đống lấp.
Tường đứng phía sau nói:
“Ray xe đẩy.”
Kỹ sư đưa camera thấp hơn.
Có một bánh xe sắt cũ kẹt giữa gạch.
Chỉ một bánh.
Đường kính khoảng mười lăm centimet, vành mòn lệch một phía.
Dũng được gửi ảnh. Anh nhìn một lúc rồi trả lời rằng chỉ
nhìn chiếc bánh xe thì không nhận ra được gì.
Camera đi thêm được ba mươi centimet rồi hết đường.
Camera không thấy hàng, quần áo hay xương; giữa gạch vụn chỉ
có một chiếc bánh xe, vài mảnh dây gai mục và một miếng gỗ bẹp không đọc được
chữ.
Khánh đứng xem qua màn hình từ điện thoại, rồi nhắn cho Thu
rằng “không có gì”.
Thu đọc tin nhắn “không có gì” rồi thở nhẹ. Ngay sau đó bà
thấy khó chịu vì mình vừa coi việc không tìm thấy người chết trong một cái hốc
là tin tốt.
Bà cất điện thoại.
Ở sạp Mến, một khách đang mặc cả ba nghìn tiền con gà. Mến
chống tay vào hông, nhất quyết không bớt.
Thu đi qua, nghe hai người cãi mà thấy chợ vẫn là chợ.
Buổi chiều cùng ngày, Thành quay lại nhà Bảy.
Ông già đã nhớ thêm một chuyện.
Lần này ký ức của Bảy không đến từ ảnh Lộc mà từ một cuộc
gọi của vợ cũ.
Bảy từng có thói quen mang cơm theo trong cặp lồng nhôm.
Những hôm ghé kho sau khi đã nghỉ, ông thường ghi vào sổ vì Phước trả tiền công
theo buổi. Vợ cũ nghe chuyện công an hỏi mới nhớ có một buổi Bảy về rất muộn,
mang nguyên phần cơm chưa ăn, còn cáu vì “người nhận bỏ đi đâu mất”.
Thành mở bản chụp các trang sổ đã số hóa trên máy tính bảng.
Bảy đeo kính, lần theo từng dòng một lúc lâu rồi dừng lại.
Ngày đó đúng ngày Lộc mất.
Bảy nhăn mặt khi bị kéo về đúng buổi sáng ấy. Nếu buộc phải
đoán, ông chỉ dám nói người chờ ở N3 có lẽ là đàn ông — mà kho ngày đó vốn gần
như toàn đàn ông. Mặt thì ông không nhớ.
“Bên kiểm chưa xuống. Sáu bao để đó. Có thằng bốc hàng ngồi
chờ.”
“Lộc?”
“Đừng nhét tên vào miệng tôi.” Bảy gắt, rồi dịu xuống. Ông
nhớ mình đói, bỏ sang tìm Phước. Khi quay lại, hoặc có thể chỉ đi ngang, ông
nghe một tiếng con dấu nện xuống mặt bàn.
Bảy úp lòng bàn tay xuống gỗ: cộp.
Ai đóng, ông không thấy. Tờ phiếu sau đó cũng không còn trên
bàn. Sáu bao gạo còn hay mất, trí nhớ của ông dừng ở đó.
Ông đang định thôi thì tự nhắc tới chiếc xe sắt nhỏ ngày
trước. Một bánh méo, mỗi vòng lại cộc một tiếng. “Tôi không thấy ai đẩy. Chỉ
nhớ tiếng ở sau N3.” Hai ngón tay ông kéo chậm trên mặt bàn về phía mình. “Nghe
như nó đi vào trong.”
Thành chưa kịp viết, Bảy đã cau mặt.
“Đừng ghi kiểu ma quỷ. Kho lúc đó ồn, có thể âm dội. Tôi già
rồi, ký ức cũng có thể sai.” Thành ghi nguyên phần không chắc vào biên bản.
* * *
Ngày hôm sau, một chi tiết nhỏ từ sổ điều xe của Nga được
xác minh.
R-44, bốn khay cam dập, đã rời khu đầu mối lúc 4 giờ 39 trên
một xe trung chuyển. Xe đó ghé Hưng Phát lúc 5 giờ 08 để giao hai lô khác.
Không có biên bản xác nhận bốn khay cam được dỡ ở đó.
Tài xế cũ đã nghỉ, hiện sống ở Bình Dương. Qua điện thoại,
ông nhớ Hưng Phát nhưng không nhớ Nga hay bốn khay cam.
“Xe tôi ngày đó chở cả đống hàng. Có khi khay nằm trên xe
rồi trả chỗ khác.”
Thành hỏi ông có giữ sổ riêng không.
“Bỏ lâu rồi.”
Vậy là tuyến Nga tới Hưng Phát vẫn chỉ là một khả năng.
Hường được báo ở mức đó.
Bà nghe rất lâu rồi hỏi:
“Có nghĩa là con tôi có thể từng ở chỗ đó?”
Thành nói:
“Có nghĩa xe chở lô hàng của cô ấy có ghé đó. Chưa đủ để nói
cô Nga có mặt.”
“Còn Lộc?”
“Có một tờ phiếu mang tên Lộc ở ô người giao, và sổ của
người cân ghi sáu bao vào N3 cùng ngày. Chưa biết ai đã viết tên đó.”
“Vậy Lộc gần hơn Nga.”
“Về chứng cứ hiện tại, đúng.”
Thu không có mặt trong cuộc gọi, nhưng sau đó Hường gọi cho
bà.
Hường nói ngay khi Thu bắt máy: “Chị Thu, nếu con Nga không
tới đó thì tốt.”
Thu ngồi xuống ghế, chỉ ừ một tiếng.
“Nhưng nếu không tới đó thì tôi lại không biết nó đi đâu.”
Thu nghe tiếng thở ở đầu dây.
Thu không nói “rồi sẽ tìm được”, cũng không bảo Hường cứ
tin. Bà ngồi yên cho đến khi Hường tự đổi sang chuyện khác.
Sáng thứ bảy, Phước quay lại kho cũ mang theo một thùng
carton tài liệu của cha.
Ông nói đã tìm trong gác nhà vì Thành cứ hỏi.
“Có gì thì coi cho hết, khỏi gọi tôi mỗi ngày.”
Trong thùng là hóa đơn điện, hợp đồng thuê xe, phiếu cân và
mấy quyển carbon giao nhận. Phần lớn giấy dính vào nhau vì ẩm.
Một kỹ thuật viên tài liệu được gọi tới tách từng tờ, không
ai tự kéo.
Đến gần trưa, họ tìm thấy một tập phiếu đúng năm Lộc mất.
Số seri không trùng tờ Trâm giữ.
Nhưng mẫu giống.
Trên nhiều phiếu, mục người nhận chỉ có chữ tắt hoặc một nét
ngoằn không đọc được. Dấu ĐÃ NHẬN cũng có ít nhất hai kích thước khác nhau.
Rồi kỹ thuật viên dừng ở một tờ giấy than mỏng.
“Chỗ này có dấu ép.”
Tờ giấy bản thân gần như trắng, nhưng dưới ánh xiên có thể
thấy nét bút từ tờ phía trên đã hằn xuống.
Thành đứng bên cạnh.
Kỹ thuật viên chụp ảnh, tăng tương phản trên máy tính tại
chỗ.
Dòng đầu hiện dần:
Ngày đúng ngày Lộc mất.
Mục hàng: 6 bao gạo trả.
Mục người giao: Lộc.
Khánh được gọi tới. Trâm cũng tới sau đó với cán bộ địa bàn.
Không ai cho cô chạm vào giấy.
Dòng người nhận khó đọc hơn.
Ban đầu chỉ thấy một nét L.
Kỹ thuật viên đổi góc sáng.
Một nét ô hiện ra.
Rồi chữ c.
Trâm đứng rất yên.
Trên bản hằn, mục người nhận có ba chữ.
Lộc.
Không có chữ ký đầy đủ.
Chỉ cùng một cái tên xuất hiện ở hai cột.
Người giao: Lộc.
Người nhận: Lộc.
Thành nói ngay trước khi bất kỳ ai kịp kết luận:
“Đây là dấu ép từ một tờ khác. Chưa xác định người viết.
Chưa biết tờ trên có thực sự là phiếu của cùng lô hay chỉ trùng ngày và số
lượng. Phải đối chiếu seri, thứ tự đóng quyển và nét chữ.”
Trâm gật nhưng mắt không rời màn hình.
“Anh tôi có tự ghi tên mình ở ô nhận không?”
“Có thể nếu anh ấy điền hộ. Cũng có thể người khác viết.
Chưa biết.”
“Nhưng tại sao?”
Thành không trả lời. Anh yêu cầu kỹ thuật tiếp tục đối chiếu
seri và vị trí tờ giấy trong tập hồ sơ.
Từ những giấy tờ còn sót lại, Hưng Phát dần hiện ra không
phải như một “kho bí mật”, mà như một nơi từng nhận đủ thứ hàng trả. Chính sự
bình thường đó mới làm các mốc của Nga và Lộc khó gạt sang một bên.
* * *
Đêm đó camera vẫn nhìn bức tường N3. Xe đẩy được xích vào
cột, cửa khóa như thường lệ.
Sau ba giờ sáng, micro lại thu tiếng cộc và tiếng bánh lăn
dù chiếc xe bị xích không chuyển động. Sáu tiếng vật nặng chạm nền vang lên rồi
im.
Sáng ra niêm xe còn nguyên. Không có vệt nước; chỉ có một
mảnh giấy carbon ẩm nằm sát thanh ray cũ.
Thành cho thu giữ, đóng gói riêng.
Tường đứng nhìn từ xa.
“Có người vào được mà camera không thấy thì tôi chịu.”
Khi rà lại mái và vách, họ phát hiện một ô thông gió cũ bung
lưới. Một người gầy có thể chui qua từ mái nhà kế bên, rất nguy hiểm nhưng
không phải bất khả thi. Từ đó mảnh carbon được xử lý như vật có thể đã do người
mang vào.
Buổi chiều, kết quả đối chiếu bản hằn được gửi sơ bộ.
Tờ giấy carbon trong hồ sơ cũ của Phước nằm đúng vị trí sau
một phiếu có seri cách tờ của Lộc ba số. Không thể khẳng định là cùng lô, nhưng
thứ tự thời gian phù hợp trong cùng ca sáng.
Nét chữ “Lộc” ở cột người nhận khác rõ nét chữ ở cột người
giao.
Tên ở ô giao nghiêng, chữ L kéo dài; tên ở ô nhận đứng hơn,
đầu chữ ngắn.
Đánh giá sơ bộ: hai mục không phải do cùng một tay viết.
Thành đọc kết luận hai lần.
Khánh hỏi đã so với chữ cũ của Bảy và Phước chưa. Thành nói
đang lấy mẫu tài liệu cùng thời, không dùng chữ viết bây giờ để ép đối chiếu.
Anh cũng chưa báo cho Trâm phần này cho tới khi chốt cách diễn đạt.
Tối, Thành gặp Trâm tại phòng làm việc.
Anh đặt ảnh phóng lớn xuống bàn.
“Kết quả sơ bộ cho thấy hai ô không do cùng một tay viết.”
Trâm nhìn ảnh phóng lớn rồi hỏi người giao có phải anh cô tự
viết không. Thành nói chưa xác định nét chữ ở ô giao có phải của Lộc; điều chắc
lúc này chỉ là hai chữ tên không cùng một tay.
Trâm cắn môi.
“Vậy có người nhận hàng bằng tên anh tôi.”
Thành đáp:
“Có người viết tên Lộc vào ô nhận.”
Cô cúi xuống, hai tay nắm vào nhau.
“Anh ấy mất hôm đó. Chiếc răng của anh ấy ở Phú Thành,” Trâm
nói chậm rồi dừng ở đó.
Trâm ngẩng lên.
“Anh muốn tôi làm gì với từng đó cái đúng?”
Một lúc sau anh nói:
“Không làm gì một mình.”
Trâm bật cười, nhưng mắt đỏ.
“Câu đó nghe như anh không biết nói gì.”
“Thì tôi không biết nói gì.”
Lần này cô cười thật hơn một chút.
Thu biết chuyện hai nét chữ sau khi tan ca.
Bà không về ngay.
Bà ngồi ở bậc thấp gần phòng bảo vệ, chỗ Dũng thường uống cà
phê. Dũng đang thay pin đèn pin, thấy bà thì đưa ghế nhựa.
“Chị ngồi ghế đi.”
“Ngồi đây được rồi.”
“Đau lưng lại than.”
“Cậu mới hai bảy mà nói như ông cụ.”
Dũng cười.
Anh ngồi xuống cạnh, không hỏi chuyện gì.
Thu kể ngắn gọn rằng họ tìm thấy tên Lộc ở ô người nhận.
Dũng dừng tay.
Dũng hỏi anh ấy có tự ký không. Thu nói chưa biết; chỉ biết
hai chữ Lộc không cùng một tay.
Dũng nhìn về dãy hàng, định nói gì đó rồi thôi.
Thu nghiêng đầu. “Sao?”
“Tôi không biết nói gì.”
Hai người ngồi im.
Ở cuối dãy, Mến đang kéo bạt che sạp. Một người bán rau quát
con vì chạy chân đất. Xe rác điện lùi phát tiếng bíp ngắn.
Dũng lắp pin xong, bật thử đèn.
“Chị Thu.”
“Gì?”
“Sau vụ của tôi, tôi có lúc nghĩ nếu tìm ra người làm thì
tôi sẽ đỡ.”
Thu không nhìn anh.
“Giờ sao?”
“Giờ tôi chỉ muốn biết tối nay về ngủ được.”
“Cái đó thực tế hơn.”
Dũng cười.
“Lan cũng nói vậy.”
* * *
Đêm đó ở Phú Thành yên. Thu ngủ được tới gần năm giờ sáng
mới tỉnh.
Bà pha trà, mở cửa trước cho thoáng rồi nhìn điện thoại.
Có một tin nhắn của Khánh gửi lúc 4 giờ 46.
Tin nhắn không kèm ảnh hay tài liệu, chỉ có một câu: Sáng
tới chợ tôi nói. Không gấp.
Thu đọc xong càng khó chịu hơn.
Nếu gấp, bà biết mình phải làm gì.
“Không gấp” cho trí óc quá nhiều chỗ để tự đoán.
Bà vẫn đánh răng, thay đồ, ăn nửa ổ bánh mì rồi mới đi.
Khánh chờ ở phòng quản lý.
Thành cũng ở đó.
Trên bàn là bản chụp một trang sổ của Bảy mà tối qua họ mới
nhận ra có thêm một lớp giấy dính phía sau.
Kỹ thuật viên đã tách được.
Trang đó ghi buổi sáng Lộc mất.
5 giờ 52: 6 gạo trả - N3 - chờ.
6 giờ 14: kiểm lại cân.
6 giờ 21: “đã nhận”.
Không có tên.
Dưới dòng 6 giờ 21, Bảy viết thêm một câu rất nhỏ, có lẽ để
tự nhớ tiền công:
“Lộc hỏi ai nhận, bảo tên trên phiếu rồi.”
Thu đọc hai lần.
Thu hỏi Bảy có nhớ câu này không. Thành lắc đầu: ông nhận ra
chữ mình nhưng không nhớ ai đã nói “tên trên phiếu rồi”.
Khánh đẩy sang một ảnh khác.
Ảnh thứ hai là bản hằn có tên Lộc ở cả hai cột.
Hai nét chữ khác nhau.
Trên giấy, tên Lộc nằm ở ô người giao. Một tay khác lại đặt
cùng cái tên vào ô người nhận.
Thu không nói câu ấy ra.
Bà hỏi sau 6 giờ 21 còn ghi gì về Lộc không.
Thành lật trang: không còn dòng nào về Lộc. Chiếc xe mang
biển số trong sổ xuất cổng lúc 6 giờ 34, nhưng hồ sơ không cho biết Lộc có ở
trên xe hay không.
Bên dưới, Phú Thành đang mở cổng sáng.
Một xe rau lùi vào. Người phụ kho giơ tay ra hiệu. Đạt cầm
phiếu đứng chờ bên vạch nhận. Một người giao hàng nhảy khỏi cabin, vừa đi vừa
cài lại cúc áo.
Mọi việc trông đúng như chúng vẫn phải trông.
Dưới sân, người giao đưa giấy. Đạt đọc, cúi bút ghi vào ô
nhận rồi trả lại một liên.
Bà nói: “Kiểm cả trước lẫn sau ngày đó xem còn ai dùng tên
Lộc ở ô nhận không.”
Thu đứng dậy.
Khánh hỏi chị đi đâu.
“Xuống làm.”
“Chị vừa đọc cái này xong đấy.”
Thu đặt tay lên nắm cửa. “Tôi biết.”
Thu kéo cửa.
Trước khi ra ngoài, bà quay lại nhìn bản hằn thêm một lần.
Bà không cố hiểu thêm; bà chỉ muốn chắc mình nhớ đúng một
chi tiết.
Hai chữ Lộc nằm trên cùng một tờ giấy.
Một chữ ở chỗ người giao.
Một chữ ở chỗ người nhận.
Và chúng không được viết bởi cùng một người.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.