Chương 21: Đủ Năm Hệ
Túi nguyệt phí đầu tiên của một đệ tử nội môn nặng gấp bốn lần cái túi công cả tháng của một đệ tử ngoại môn, và Lâm Cơ cầm nó trong tay ở phòng sự vụ với cảm giác của một người vừa được giao chìa khóa kho, không phải cảm giác no, mà cảm giác phải đếm.
Một thằng đói được phát thẻ vào kho thì việc đầu tiên không phải là ăn. Là đếm.
Hắn nhận đủ lệ. Thẻ đệ tử nội môn bằng ngọc xám khắc tên, đeo vào là ba tầng dưới của tàng thư mở ra cho hắn. Túi linh thạch nguyệt phí, nặng và đều, thứ mà cả đời ngoại môn của thân thể này gộp lại chưa chắc bằng một tháng ở đây. Một tấm bài lĩnh đan dược. Và một tờ giấy ghi lệ khu: giờ giới nghiêm, chỗ lĩnh vật tư, đường nào đệ tử tầng năm được đi, đường nào phải có phẩm cao hơn, cửa nào có trận canh, cửa nào có người canh. Hắn đọc tờ giấy ấy kỹ hơn đọc cái tên trên thẻ, vì cái tên thì hắn thuộc rồi, còn bản đồ những chỗ-có-mắt thì mỗi nơi mỗi khác.
Vị chấp sự cấp phát đọc tên hắn bằng giọng của người đọc tên cả trăm đệ tử mỗi mùa: không nhấn, không ngẩng lên, không nhớ. Với Lâm Cơ, đó là điều tốt nhất một cái tên có thể được nhận: đọc xong là quên. Hắn cúi đầu đúng lễ, nhận đồ, và đi ra với dáng của một đệ tử mới còn chưa quen đường, hơi khép nép, hơi lóng ngóng. Cái dáng ấy hắn diễn không tốn sức, vì một phần trong nó là thật: khu nội môn rộng, sạch, và lạ.
Lạ theo cái cách một cái xưởng tốt là lạ với người quen làm trong cái lều. Đường lát đá phẳng, hai bên trồng thứ cây hắn không biết tên nhưng ngửi được linh khí tỏa ra từ lá. Những tòa các cao, mái cong, cửa khắc trận văn mà hắn phải ghìm mắt lại để khỏi đứng ngây ra đọc. Đệ tử qua lại mặc áo lụa xám sạch, bước không vội, cái ung dung của người biết mình thuộc về chỗ này. Không khí đặc linh khí tới mức thở vào là thấy khác, cái khác mà máy hút trong bụng hắn nhận ra trước cả mũi hắn.
Về phòng, cái phòng nội môn nằm ngay trên một mạch linh khí, thứ hắn đã đo bằng linh khí kế ngay đêm đầu tiên trước cả khi trải chỗ nằm, hắn đóng cửa, cài then, và trải hết lên bàn. Rồi phân loại, như phân loại một lô linh kiện mới về.
Nguyệt phí chia ba đống: một đống nhỏ để sống, một đống nhỏ để phòng thân, một đống lớn nhất dán nhãn trong đầu là vật-liệu-chế-tạo. Thẻ tàng thư: dùng, nhưng có chọn: vào tàng thư nhiều quá cũng là một loại vệt để lại, người ta nhớ mặt kẻ đọc gì. Bài đan dược: đổi lấy thuốc bổ thân, thân có vốn thì máy đỡ hao. Tờ lệ khu: học thuộc.
Cái sướng của buổi sáng ấy, hắn cho nó đúng một hơi thở, rồi cất. Người mới giàu mà quên đếm thì cái giàu ấy có chân, tự đi mất. Hắn đã nghèo đủ lâu, ở cả hai kiếp, để biết điều đó rõ hơn hầu hết những kẻ sinh ra đã ở sẵn trong kho.
Hắn đứng dậy, đi một vòng quanh phòng, không phải để ngắm mà để đo. Bốn vách kín, một cửa sổ nhỏ nhìn ra sân sau vắng, đủ tối. Nền đá bằng phẳng, chịu được kê một cái bàn nặng. Mạch linh khí chạy dưới sàn ở góc đông: chỗ hắn sẽ đặt chỗ ngồi tu. Trong đầu hắn, căn phòng trống này đã bắt đầu tự chia thành các khu: chỗ ngủ, chỗ tu, và một khoảng rộng nhất, ở giữa, mà một người khác sẽ gọi là chỗ tiếp khách. Hắn gọi nó bằng cái tên nó sẽ mang: mặt bàn. Chỉ là hắn chưa có cái bàn xứng với việc sắp làm trên đó, và một cái bàn thì không thể chế lén trong phòng ngủ. Nó phải được chế ở một nơi có lò, có đe, có cớ. Cái nơi ấy hắn đã nhắm sẵn, và sáng mai hắn sẽ đi gõ cửa nó.
Công Pháp Các là một tòa nhà mà một mùa trước hắn không dám mơ được đứng trước cửa.
Ba tầng, giá gỗ chạy dài hun hút, công pháp xếp theo bậc và theo hệ, mỗi quyển nằm trong một hộp gỗ khắc số, khảm một mảnh ngọc nhỏ giữ cho chữ khỏi phai. Không khí trong Các khô và mát, mùi gỗ cũ lẫn mùi mực.
Điều đầu tiên khiến Lâm Cơ hơi ngạc nhiên là Các không giới hạn số quyển một đệ tử được mượn về. Muốn lấy bao nhiêu thì lấy, miễn hợp phẩm cấp. Ban đầu hắn tưởng là đãi ngộ hào phóng; đứng thêm một lúc, đọc cách người ta chọn, hắn hiểu ra vì sao tông chẳng cần giới hạn: cái giới hạn không nằm ở tông, nó nằm ở người, và nó chặt hơn bất cứ điều lệ nào.
Một tu sĩ chỉ vận được công pháp hợp căn của mình. Kẻ đơn-căn hệ Kim mà ôm về một quyển hệ Hỏa thì cũng như người không biết chữ ôm về một pho sách: chữ có đó, đọc không ra. Dẫn khí theo lộ tuyến một hệ mình không có căn, dòng oải giữa đường, nặng thì tẩu hỏa. Thêm cái giới hạn thứ hai, thời gian: thành thục một công pháp là chuyện của năm tháng, và đời người tu chỉ có ngần ấy năm tháng để tiêu. Nên gần như ai cũng làm một việc: chọn một hệ mình có căn, tìm quyển tốt nhất, rồi đào cả đời cho sâu. Lấy nhiều quyển hệ khác về chỉ tổ chật kệ.
Trong Các đã có sẵn vài đệ tử khác đang chọn. Họ đứng lâu trước giá của HỆ mình, một tay chống cằm, cân nhắc giữa hai quyển cùng một hệ, tìm quyển hợp với con đường họ đã đi được nửa đời người. Một gã tầng bảy đứng ở giá hệ Kim, lật đi lật lại hai quyển, vẻ mặt của người chọn vợ. Cái dáng ấy nói cho Lâm Cơ biết một điều về nơi này: ở đây, công pháp là chuyện hệ trọng, chọn một lần theo cả đời.
Cái vị trí của hắn trong căn phòng này thì trớ trêu ngược lại hoàn toàn.
Họ chọn một hệ, vì họ chỉ chạy được một hệ. Người hệ Hỏa lấy công pháp Hỏa cao hơn, người hệ Kim tìm quyển Kim tinh hơn, bị buộc phải chuyên, vì căn cốt không cho họ đường nào khác. Còn hắn ngũ căn: năm hệ đều hợp căn, năm hệ đều dẫn thông. Cái tật đã dìm hắn xuống thành phế vật gần trọn đời người này, khí chia năm phần, hệ nào cũng nông, tu chậm như rùa, ở căn phòng đầy giá sách này, lần đầu tiên, quặt thành một thứ mà không một đệ tử nào khác trong tông có được: hắn là người duy nhất đọc được cả năm pho.
Kẻ đơn-căn ôm về năm quyển năm hệ thì bốn quyển thành giấy lộn. Hắn ôm về năm quyển năm hệ thì cả năm đều chạy.
Không ai trong tòa nhà này được phép đọc cái bài toán ở sau con mắt hắn. Nhưng ngay cả nếu có ai đọc được, họ cũng sẽ chỉ thấy một thằng phế vật tham lam ôm cả kho về mà chẳng nên thân được cái nào, phí cơ duyên, phí phẩm cấp, đúng thói của kẻ nghèo mới được vào kho. Cái nhìn ấy, hắn để cho họ giữ. Nó là một cái vỏ tốt như mọi cái vỏ khác.
Hắn đi dọc giá, không phải để chọn một, mà để gom một bộ. Và một bộ, với người biết dùng, hơn một món tinh xảo, hắn đã sống cả một đời cũ bằng niềm tin ấy: thợ giỏi không phải kẻ có con dao sắc nhất, mà kẻ có đủ cỡ cờ-lê.
Hắn không gom bừa. Hắn đi qua từng hệ như đi qua từng ngăn của một hộp đồ nghề, cân mỗi món theo đúng cái việc nó sẽ phải làm.
Hệ Thổ, hắn tới trước, và ở đây có một tính toán chẳng dính gì tới sức mạnh. Trong đáy hòm hắn có một quyển công pháp Thổ, bìa cứng, không ấn ký, lấy từ người họ Đỗ trong một khu rừng không sổ sách. Một quyển công pháp nội môn nằm trong tay một thằng ngoại môn phế vật, nếu lộ ra, thì không luật cơ duyên nào che nổi: nó không phải cơ duyên, nó là tang vật. Hắn rút hộp khắc 《Hậu Thổ Quyết》 xuống, lật ra, đọc, và thấy đúng cái hắn đoán: cùng một công pháp. Cái quyển trong đáy hòm hắn chỉ là một bản chép lại của thứ nằm chính quy trên giá này. Học nó ở đây, hợp lệ, ghi sổ, thì cái bản chép kia lập tức thành đồ thừa. Và đồ thừa mà nguy hiểm thì hắn biết rõ phải làm gì: đêm nay về, đốt. Từ giây học 《Hậu Thổ》, mọi thế Thổ hắn từng học lỏm của một kẻ đã chết đều có một cái nguồn sạch để chỉ vào. Lấy quyển này không phải để mạnh hơn về Thổ. Là để xóa một cái tên khỏi lý lịch của chính mình.
Hệ Kim thì tông này nổi tiếng. Hắn đã nghe: môn phái vốn lấy kiếm làm gốc, nên đến cả những quyển Kim công tầm thấp trên giá cũng ngấm cái sát khí của một dòng chuyên kiếm, bí kíp trấn phái thật thì khóa ở nơi hắn còn lâu mới với tới, nhưng thứ để mở cho đệ tử tầng năm đã đủ sắc. Hắn lấy quyển Kim công cao nhất trong tầm phẩm cấp của mình: 《Lưu Quang Kiếm Quyết》, một công pháp tấn công thuần, luyện Kim khí sắc và nhanh tới độ chảy thành ánh sáng. Hắn dùng đao chứ không dùng kiếm, nhưng Kim khí là Kim khí; cái quyết dạy luyện nó cho sắc thì đao cũng hưởng. Và một điều hắn không nói ra: Kim khí luyện tới độ ấy thì kéo thành sợi tơ mảnh dài càng dễ. Hắn cần một sợi như thế. Nhưng cái đó để sau.
Hệ Hỏa, hắn cần cho hai việc, và may là một quyển làm được cả hai. 《Hồng Lô Quyết》, hỏa của lò lớn: nhóm được lò để luyện khí, nung được vật liệu, đúng thứ cái nghề hắn sắp khoác đòi hỏi. Và trong trận, nó là một quả đấm khác hẳn mọi thứ Hỏa hắn từng tự chế: dồn lâu, nạp chậm, nhưng buông ra thì bùng nổ một cục nhiệt to gấp bội cái khối cầu lửa vặt hắn vẫn ném. Một khẩu pháo nạp chậm, đắt về thời gian, lớn về sát thương, thứ để dành cho một khoản cần trả thật to, một lần.
Hệ Thủy thì đơn giản. 《Huyền Băng Quyết》, một công pháp Thủy thuần về băng: đóng nước thành giáp, thành gai, rút nhiệt cho vật se cứng, nâng cấp gọn ghẽ mấy trò Thủy tự chế của hắn. Một mặt vừa thủ vừa công, ngón thứ tư cho bộ đồ nghề, lấp gần kín chỗ hở trước hệ Thổ. Đó là tất cả những gì người ngoài thấy ở lựa chọn này, và cũng là tất cả những gì hắn muốn họ thấy.
Cái vế sau, cái thứ chưa ai trong thế giới này có tên để gọi, thì không cần tới nước. Nó cần một sợi dây để dẫn, và sợi dây ấy đã nằm sẵn trong hệ Kim: kiếm quyết dạy kéo Kim khí thành một sợi tơ mảnh, thẳng, chỉ chờ hắn bẻ nó thôi làm lưỡi mà làm dây. Một sợi Kim tới đúng một người, gọn, thẳng. Hắn không cần thêm hệ nào chen vào cái vế ấy, càng ít thứ dính vào, nó càng khó lộ. Thủy hắn lấy để đủ ngũ hành và để đánh nhau. Còn nếu một ngày vế sau cần tới nước theo một cách khác, thì cái cách ấy sẽ không nằm trong quyển sách này, mà nằm ở chỗ hai hệ gặp nhau. Chuyện của sau.
Còn hệ Mộc, hắn dừng lại lâu nhất, và cuối cùng không lấy gì.
Trên giá có quyển Mộc công cao hơn hẳn 《Càn Mộc Sinh Sát》 nằm trong đáy hòm hắn: mạnh hơn về sát, dây gai độc hơn, đòn Mộc hiểm hơn. Hắn cầm lên, đọc, rồi đặt xuống. Vì hắn không dùng Mộc để giết. Trong bộ đồ nghề của hắn, Mộc là ngón bổ trợ: dây để trói, để giật, để mượn lực đổi hướng, để luồn theo rễ mà thoát; mặt Sinh để dưỡng thân, liền vết. Càn Mộc, cái quyển moi từ bụng một con thú, tình cờ lại là quyển hợp nhất đời với đúng cái vai ấy: hai mặt sinh sát cân nhau, khéo hơn là mạnh. Một quyển Mộc sát khí cao hơn chỉ cho hắn một cái búa Mộc, trong khi thứ hắn cần vẫn là một sợi dây Mộc. Đổi một dụng cụ đang vừa tay lấy một dụng cụ mạnh hơn nhưng sai việc, đó là cái sai mà một thằng thợ giỏi không bao giờ phạm.
Hắn để giá hệ Mộc y nguyên. Bốn quyển mới, một quyển cũ giữ lại. Bộ đồ nghề không cần năm cái mới. Nó cần năm cái đúng.
Hắn ôm bốn hộp gỗ lên quầy, và nói với gã đệ tử coi Các bằng giọng phẳng nhất trên đời:
"Bốn quyển này."
Gã coi Các đếm bốn cái tên, bốn hệ khác nhau, Kim Hỏa Thủy Thổ, chẳng quyển nào ăn nhập quyển nào, rồi liếc lại hắn, và trên mặt gã có đúng cái biểu cảm Lâm Cơ chờ đợi: nửa khinh, nửa thương hại. Một thằng ngũ căn vơ mỗi hệ một quyển như thằng đói vào kho bốc mỗi thứ một nắm, chẳng nắm nào đủ no. Gã không nói gì, bình phẩm cơ duyên người khác là phạm kỵ, nhưng cái lắc đầu rất nhẹ khi ghi sổ đã nói hộ: phí. Gã đóng dấu, đẩy bốn hộp trở lại qua quầy, thái độ của người phát chẩn cho một kẻ rồi cũng chẳng nên cơm cháo.
Có những lựa chọn quan trọng nhất một đời người phải được thực hiện với vẻ mặt của một kẻ đang mua rau.
Đêm đó, trong căn phòng đậm linh khí hơn mọi chỗ hắn từng đặt lưng ở kiếp này, Lâm Cơ bày cả bộ đồ nghề của mình ra bàn, và lần đầu tiên đếm đủ năm ngón.
Hắn không mở quyển nào ra tu vội. Hắn làm cái việc quen tay trước đã: kiểm kê. Trên mặt bàn là bốn hộp gỗ mới, với quyển 《Càn Mộc》 cũ đặt riêng một bên; trong đầu là một bàn tay mà tới đêm nay mới đủ, và lần đầu, đủ những ngón tốt.
Bốn hộp gỗ mới xếp thành một hàng: 《Lưu Quang Kiếm》 cho Kim, 《Hồng Lô》 cho Hỏa, 《Huyền Băng》 cho Thủy, 《Hậu Thổ》 cho Thổ. Bên cạnh, tách riêng, là 《Càn Mộc Sinh Sát》, quyển cũ moi từ bụng con thú, quyển duy nhất hắn giữ lại. Đồ mới không hơn được nó ở đúng cái việc hắn cần; và quan trọng hơn, nó là chữ trong bụng một con thú, không phải nét tay của một người hắn đã giết, giữ nó chẳng nối hắn với cái tên nào. Hai quyển kia thì khác. Trong đáy hòm, nằm chờ chung một ngọn lửa đêm nay, không chỉ có quyển Thổ chép tay của người họ Đỗ, mà cả 《Phong Nhận Quyết》, nét chữ của Đỗ Cương, kẻ hắn đã giết trong một khu rừng khác một mùa trước. Cùng một loại tang vật: chữ tay của người chết nằm trong tay kẻ giết họ. 《Hậu Thổ》 và 《Lưu Quang》 chính quy vừa biến cả hai thành đồ thừa, và đồ thừa mà còn dính máu thì chỉ có đúng một chỗ để đi.
Bốn hệ nâng lên bản chính quy, một hệ giữ bản vừa tay: năm ngón, mỗi ngón một dụng cụ đúng việc. Không còn là năm mẩu tự chế thô, mỗi mẩu một lần đoán mò trong phòng kín dán giấy đen. Năm bản vẽ nằm trên bàn hắn cùng một lúc, chuyện mà không một đệ tử đơn-căn nào trong tông làm nổi, vì với họ bốn trong năm quyển ấy chỉ là giấy. Một thằng thợ máy lưu lạc, sau ngần ấy đêm mài từng ngón nghề một, cuối cùng có được thứ hắn thèm nhất từ cả hai kiếp: một bộ đồ nghề đủ cỡ, cỡ nào cũng tốt, và của riêng một mình hắn cầm nổi.
Hắn không mở cả bốn quyển ra học một lượt, không ai học nổi bốn công pháp cùng lúc, kể cả hắn; thời gian là thứ chia ra, không phải thứ nhân lên. Hắn xếp thứ tự như xếp một lịch gia công, và 《Hậu Thổ》 lên đầu.
Mở nó ra, hắn hiểu thêm một điều về cách thế giới này đóng gói sức mạnh, điều mà mấy quyển chép tay thô kia chưa dạy hắn rõ. Một công pháp không phải một khối liền, mà cũng không phải một cái thang thẳng lên vô tận. Nó chia PHẦN, và mỗi phần khóa sau một cảnh giới lớn. Quyển 《Hậu Thổ》 trên giá này, cũng như bản chép trong đáy hòm, chỉ là PHẦN MỘT: phần soạn cho người tu Luyện Khí, ghi tới tầng ba là hết. Trang bìa trong nói thẳng: phần hai phải tới Trúc Cơ mới lĩnh được, phần cuối phải tới Kim Đan. Các phần sau có bao nhiêu tầng thì quyển này không cho biết, kẻ chưa tới thì chưa cần biết.
Ba tầng của phần một, hắn đọc trọn. Mỗi tầng mở một chiêu chính, kèm mấy phép bổ trợ vặt đính quanh như đinh vít quanh một cỗ máy, làm mềm đất dưới chân địch, đanh nền cho mình khỏi lún, những trò một mình chẳng ăn thua nhưng gắn vào chiêu chính thì thành khớp nối. Tầng một, chiêu chính là phòng thủ: giáp đá bọc thân và vách đất đỡ đòn: cái vỏ cứng, cái khiên. Tầng hai: mưa tên đá, nhổ đất bắn thành loạt; và sách ghi rõ một dòng khiến hắn khựng lại: chiêu này mạnh lên gấp bội nếu người luyện cầm một cây búa hay một pháp khí nặng đầu để dồn lực xuống đất. Đọc tới đó, trong đầu hắn hiện ngay cây chùy gã họ Đỗ vung trong rừng, và mọi thứ khớp vào chỗ của nó. Tầng ba, đỉnh của phần một: nhà tù đất, bốn vách dựng lên nhốt người.
Đúng tới đó là hết những gì một kẻ Luyện Khí học được từ pho này. Đỗ Mãnh, Luyện Khí tầng sáu, đã leo trọn ba tầng ấy, đứng ở nóc của phần một, không cao hơn được nữa chừng nào chưa Trúc Cơ. Cái đêm trong rừng, hắn thắng một kẻ đứng ở nóc phần một bằng một kẻ chưa đặt chân lên bậc nào của nó, thắng bằng máy, bằng bể, bằng mưu, không bằng công pháp. Bây giờ hắn mới bắt đầu leo, và cái đích trước mắt thì rõ ràng: trèo hết ba tầng của phần một, đứng ngang chỗ Đỗ Mãnh từng đứng. Xa hơn nữa, phần hai, phần cuối, là chuyện của những cảnh giới hắn còn chưa với tới, treo trên đầu như những gác chưa thắp đèn.
Đêm ấy hắn luyện tầng một tới khi dòng Thổ chạy trơn một vòng không vấp. Không mạnh, tầng một chỉ là tầng một, nhưng đủ để hắn biết chắc pho chính quy này với bản chép trong đáy hòm là cùng một thứ, tới từng nét lộ tuyến. Bản chép kia, từ giây ấy, chính thức thành đồ thừa. Hắn lấy nó ra cùng 《Phong Nhận》 nét chữ người chết, và đốt cả hai trên đĩa đèn, nhìn hai cái tên cong lại thành tro mà không tiếc một chữ. Việc đầu tiên của người vừa dọn tới chỗ ở mới bao giờ cũng là dọn sạch cái cũ còn dính mùi máu.
Ba quyển kia, Kim, Hỏa, Thủy, cũng theo cùng một luật ấy: phần một cho Luyện Khí, phần sau khóa sau những cảnh giới cao hơn. Mỗi pho một cái thang cụt ngang ở Trúc Cơ, chờ hắn lên tới đó mới nối tiếp. Hắn xếp chúng sau, mỗi thang trèo dần khi việc nó phục vụ tới gần: người thợ không mài sẵn mọi con dao, chỉ mài con sắp dùng. Nhưng lần đầu tiên, hắn biết rõ mình cầm bao nhiêu con dao, và phải lên tới cảnh giới nào mới rút được những lưỡi còn giấu ở phần sau.
Rồi hắn ngồi vào thế, dẫn một phiên tu trên mạch linh khí mới, và suýt phải dừng lại vì kinh ngạc, dù hắn ghét cái việc để mình kinh ngạc.
Linh khí nền ở đây đậm gấp mấy lần cái góc khuất ngoại môn cũ. Máy hút trong bụng no tới mức năm ngăn nước dâng nhanh trông thấy được ngay trong một phiên, thứ mà ở phòng cũ phải mấy đêm liền mới nhích lên được một vạch. Con số trên thang than, nếu hắn cứ để phiên chạy, sẽ leo như nước lũ. Cái ngưỡng tầng sáu, hóa ra, nằm gần hơn hắn tưởng nhiều.
Và hắn để nó ở đó: gần, nhưng chưa vội dồn sức trèo tới.
Không phải vì hắn chê linh khí. Không tu sĩ nào chê linh khí khi còn hút được, và hắn thì đang hút được nhiều hơn bao giờ hết, cứ để phiên chạy đều trên mạch này thì tầng sáu sẽ tự tới, không cần thúc. Vấn đề là hắn có một thứ khác đang gào trong đầu, to hơn cả tiếng gọi của một tầng mới.
Máy phát điện.
Cái ý nghĩ ấy nhen từ đêm ở trấn khi hắn nhận ra hòn đá hút sắt là nam châm; giờ, đứng trong một căn phòng có mạch linh khí chảy dưới sàn và một cái xưởng đang chờ được mở, nó bùng lên thành một cơn thèm gần như không nhịn nổi. Nếu hắn chế được một cỗ máy biến cái xoáy trong bụng thành cái thứ mà cả thế giới này chưa có tên, thì hắn cầm trong tay một vũ khí chưa ai từng thấy, chưa ai biết cách đỡ. Một lợi thế như thế, đặt cạnh một hai tầng tu vi, là đặt một khẩu súng cạnh một nắm đấm khỏe hơn. Hắn là kỹ sư. Hắn biết rõ cái nào đáng đổ công vào trước, và đáng đổ vào càng sớm càng tốt, vì thứ chưa ai có, có sớm một ngày là hơn người ta sớm một ngày.
Và lúc này thời điểm đang đứng về phía hắn. Trước mắt chưa có kẻ thù nào: Đỗ Mãnh đã nằm dưới tảng đá, cái tên hắn sạch, cái áo cơ duyên vừa vặn. Đây đúng là quãng lặng hiếm hoi mà người ta được tiêu vào việc dựng nền thay vì chống đỡ. Leo thêm một bậc thang thì ai cũng leo được, lúc nào cũng leo được; còn cái cửa sổ yên tĩnh để chế ra thứ chưa ai có thì không phải lúc nào cũng mở. Tu vi, hắn sẽ đẩy sau, khi có một sự kiện cụ thể đòi một con số cụ thể. Còn bây giờ, mỗi đêm rảnh, mỗi phần chú tâm dư ra, hắn muốn đổ hết vào cái xưởng.
Nước cứ để nó dâng trong bể theo nhịp của nó, hắn không ghì, mà cũng không thúc. Cái hắn thúc, từ đêm nay, là bản vẽ trong đầu.
Hạ dòng về mức dưỡng, hắn lật sổ than tới trang cuối, tới cái dòng chữ hắn viết ở trấn trong một đêm tự bắt mình xếp hàng, nằm dưới ba dòng công thức bị gạch ngang:
Đủ năm hệ thì mọi hóa đơn đều rẻ.
Câu ấy, viết ra hồi hắn còn là một thằng ngoại môn nghèo mạt cầm hai đồng đi mua một hòn đá hút sắt, giờ nằm trên bàn hắn, đã trả xong. Năm hệ đã đủ: bốn có sách, một chờ mở. Tài nguyên nội môn nằm trong tầm tay. Cái xưởng trong đầu hắn, xưa phải chen chúc trong một phòng kín dán giấy đen, giờ sắp có một chỗ đứng đàng hoàng dưới ánh sáng ban ngày.
Hắn cầm thỏi than, gạch một đường mảnh dưới câu cũ, đánh dấu nó đã hoàn thành, theo đúng cái thói quen của một người cả đời quản việc bằng danh sách.
Bước kế không phải tu.
Là chế.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.