Chương 6: Chuyện Đời Thường
Mười năm sau, áp lực từ việc ông An vừa là cháu đích tôn, vừa là con trai trưởng, trong khi nhà đã có hai cô con gái, khiến vợ chồng ông buộc lòng phải tính chuyện sinh thêm. Họ chỉ mong là con trai, nhưng đến khi đi khám thì lại biết là một cô bé nữa. Thời ấy, chính sách kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt, công nhân viên chức chỉ được sinh hai con; ai vi phạm, nhẹ thì bị khiển trách trừ lương, nặng thì bị điều chuyển công tác. Vì lo lắng, bà Trá từng có ý định bỏ cái thai.
Ông An nghe tin liền gạt đi, còn cụ Khang trong nhà đứng ra can ngăn, quả quyết: “Cứ đẻ đi, cụ nuôi. Con gái cũng hương hỏa được, không có gì phải rầu rĩ cả. Đứa này cụ xem tướng rồi, kiểu gì cũng thông minh, sáng láng”. Lời cụ nói quả linh nghiệm. Con bé sinh ra trắng trẻo, xinh xắn, trán cao, mắt sáng, đúng là nét thông minh bộc lộ từ nhỏ. Bố mẹ nó khi ấy chắc vẫn rầu lòng chuyện con trai con gái nên đặt tên là Ngọc Tưởng - ngụ ý tưởng nó là con trai. Cụ và cái Hạ không ưng cái tên ấy nên cứ hay gọi chệch đi là Ngọc, dần dà mọi người cũng quen miệng gọi theo. Có lẽ vì hợp tính lại quấn quýt ông, con bé được cưng chiều hơn hẳn hai chị Hương, Hạ. Cứ có thức quà gì ngon, của gì lạ, cụ đều để dành phần cho nó trước tiên. Ngày ngày, cụ dắt con bé đi chơi khắp nơi, ngồi thủ thỉ kể cho nó nghe đủ thứ chuyện trên đời dưới đất. Thậm chí, cụ còn kể cả chuyện ngày xưa mình làm mật thám cho riêng mình nó nghe. Tại cụ biết, con bé lúc ấy còn quá nhỏ, đã biết gì đâu, chỉ biết toe toét miệng cười rồi vung tay vung chân nghịch ngợm .
Có lần bà Hằng, con gái cụ, lúc ấy đã tầm 45 tuổi, dẫn bạn trai về ra mắt. Người này tên Luân, nhỏ hơn bà Hằng một tuổi. Ban đầu cụ cũng ưng, chỉ hơi lăn tăn một chút vì ngắm diện mạo thấy sáng sủa, đàng hoàng nhưng tuổi lại kém con gái mình. Ấy thế mà đến bữa ăn, cụ liền đổi ý. Ông Luân ngồi vào mâm cứ gẩy gẩy đĩa thịt gà, toàn lựa miếng ngon mà gắp. Với tư cách một người nề nếp nhà nho, cụ không thể nào chấp nhận được thói ăn uống ấy. Khi ông Luân vừa về, cụ ngồi nói chuyện với cái Ngọc, cái Hạ, bảo rằng: “Tao là tao không có thích cái thằng Luân đó, ăn uống gì mà cứ bới lung tung, mất lịch sự.” Vô tình lời nói ấy lọt vào tai bà Hằng - mà thực ra, cụ cố tình nói to cho con gái nghe thấy. Thế là hai bố con xảy ra tranh cãi kịch liệt. Giận quá, bà Hằng tuyên bố từ mặt cụ rồi dứt áo bỏ vào miền Nam luôn. Cụ chán chẳng buồn nói, cũng chẳng buồn níu giữ, kệ đứa con cứng đầu muốn đi đâu thì đi.
Từ ngày đất nước độc lập, nhịp sống đổi thay nhanh chóng. Ánh điện bắt đầu kéo về các vùng quê nghèo, và trong làng cũng đã lác đác vài nhà sắm được chiếc điện thoại để bàn. Thời ấy, nhà bà Hoan giàu có nhất nhì vùng nhờ nghề bán bia rượu. Bà có một chiếc điện thoại màu đỏ thẫm như quả táo tàu, nom đẹp mắt lắm. Ai trong làng có việc gì hệ trọng đều chạy sang nhà bà gọi nhờ, cứ mỗi phút bà tính giá hai hào.
Thuở đó ti vi còn là một thứ xa xỉ chưa ai thấy bao giờ. Làng nào khá khẩm lắm thì mới dựng được một chiếc máy chiếu với tấm phông bạt trắng to đùng ở sân đình. Cứ mỗi tối thứ Bảy, Chủ nhật tầm năm, sáu giờ chiều, dân làng lại nô nức kéo nhau đi xem phim, trong đó có cả vợ chồng ông An, bà Trá. Cụ Khang đã già, chẳng còn hứng thú với những trò xem phim ảnh ồn ào ấy. Cụ thường ở nhà, khi thì ra đầu làng xem người ta đấu cờ tướng, lúc lại ôm cần ra bờ ao trước nhà câu vài con cá, ngâm ngợi đôi ba câu thơ cùng cụ Hiểu - người vừa là đồng nghiệp cách mạng năm xưa của cụ Khang, vừa là em rể cụ Hợi.
Cụ Hiểu cứ hay sang rủ cụ Khang đi câu chung cho vui, nhưng thực chất là để nhờ người anh họ chỉ bảo thêm chuyện văn chương, chữ nghĩa để viết sách. Hôm ấy rơi vào một buổi tối thứ Bảy, sau khi vợ chồng ông An, bà Trá cùng các con đã háo hức kéo nhau ra đình xem phim, cụ Hiểu lại xách cần sang chơi. Hai cụ già cứ vừa buông cần nhìn ra mặt ao phẳng lặng đợi cá cắn câu, vừa thủ thỉ tâm sự chuyện đời.
Gió chiều bến bãi thổi vào mát rượi, bảng lảng khói bếp nhà ai bay ngang mặt ao. Cụ Hiểu nhìn chăm chăm vào chiếc phao câu đang nhấp nhô trên mặt nước, ngập ngừng một lát rồi khẽ thở dài, quay sang hỏi cụ Khang.
Cụ Hiểu: Anh Khang này, tôi cứ thắc mắc mãi… Giờ hòa bình lâu rồi, sao anh không giải thích một lời với tụi nhỏ? Chuyện năm xưa anh làm cách mạng, buộc lòng phải ngụy tạo ra cái lốt một gã nát rượu, suốt ngày đánh mắng vợ con để che mắt địch… Chuyện lớn lao như thế, chịu tiếng oan ngần ấy năm, sao anh cứ giữ kín mãi làm gì?
Cụ Khang: ( nghe hỏi, tay giữ cần câu khựng lại một nhịp. Cụ không nhìn em, ánh mắt vẫn gửi vào khoảng không vô định trên mặt ao, khói thuốc lào trên môi thở ra nhàn nhạt ) Nói với chúng nó thì được cái tác dụng gì đâu chú… Quá khứ thì cũng đã qua rồi. Cái tiếng "lão Khang nát rượu, vũ phu" nó hằn sâu vào tâm trí tụi nó cả mấy chục năm trời. Giờ tự dưng bảo tôi là người hùng… chú bảo có ai tin nổi không? Hay chúng nó lại nghĩ lão già này lẩm cẩm, vẽ chuyện để chạy tội với vong linh bà nhà? Cho nên, thà không nói còn hơn.
Cụ Hiểu: ( nghe vậy liền sốt sắng, đặt vội chiếc cần câu xuống bãi cỏ, xích lại gần ) Sao lại không ai tin? Tôi tin! Cả cụ Hợi cũng biết cơ mà! Nếu anh ngại, để tôi đứng ra làm chứng cho. Tôi sẽ thưa chuyện rõ ràng với thằng An, giải tỏa cái nỗi oan ức này cho anh. Anh đã hy sinh cả đời sinh mệnh, hy sinh cả danh dự gia đình vì đại cuộc, không thể để con cháu cứ oán trách anh mãi thế được!
Trước sự quả quyết của người em họ, cụ Khang chỉ im lặng. Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng gió xào xạc qua bụi tre ngà và tiếng cá quẫy đuôi đớp bóng nước xa xa. Cụ nhắm hờ mắt, chầm chậm thu cần câu, vuốt chòm râu bạc rồi cất giọng ngâm nga bốn câu thơ, thanh âm trầm bổng mà chất chứa bao nỗi niềm:
"Thấu lòng nhau chẳng quản lời phân bua,
Vàng thật nào phong kín bụi vui đùa.
Người hữu ý tự tường nơi bến đợi,
Mặc dòng đời đen bạc với hơn thua."
Dứt lời thơ, cụ Khang quay sang vỗ vai cụ Hiểu, cười hiền từ: “ Người nào thật lòng với mình, tự khắc họ sẽ hiểu và tin tưởng mình thôi chú ạ. Còn bằng không, có phân trần trăm lời cũng chỉ như gió thoảng qua tai. Đi thôi chú, sương xuống lạnh rồi, cá hôm nay chê mồi, không cắn đâu.”
Dứt lời, cụ lặng lẽ thu gọn cần câu. Khi khẽ khàng quay đầu lại, cụ bắt gặp bóng dáng các con đã đứng trước cửa tự bao giờ. Chẳng chút bất ngờ, gương mặt cụ vẫn bình thản lạ kỳ - chắc hẳn cụ đã nhận ra từ sớm rồi, hành nghề bao nhiêu năm chẳng nẽ nó lại không ăn sâu vào xương tủy. Ánh mắt cụ lấp lánh niềm vui, khẽ khàng cất giọng hiền từ: “Sao hôm nay về sớm thế, mau vào nhà đi kẻo lạnh.”
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cảnh vật xung quanh ít nhiều đều đã đổi thay, chỉ có cuộc sống của một người già như cụ Khang là vẫn lặp đi lặp lại, đơn điệu và tẻ nhạt. Ở cái tuổi xế chiều, thú vui của cụ thu bé lại bằng vài ván cờ, chuyến câu cá, mấy chậu cây cảnh, hoặc những giờ phút trầm ngâm ngẫm nghĩ về một đời người. Cụ chỉ mong chuỗi ngày bình yên ấy kéo dài mãi cho đến khi mình nhắm mắt xuôi tay. Nhưng ngặt nỗi, số cụ chẳng được an nhàn.
Chẳng biết nghe ai xúi bẩy mà bà Trá - cô con dâu của cụ - ngày nào cũng mặt nặng mày nhẹ. Nó suốt ngày xúi con cái lánh xa cụ vì chê cụ ăn ở luộm thuộm, hay ăn lười làm. Ôi oan uổng cho cụ quá! Từ hồi về ở chung đến giờ, cơm cụ thổi, rau cụ luộc, sân cụ quét, cháu cụ chăm, đến quần áo cụ cũng tự tay giặt giũ, nào có bao giờ cụ ăn không ngồi rồi của ai cái gì.
Thế mà bà Trá cứ dăm ba bữa lại kiếm chuyện cãi vã rồi nhiếc móc cụ. Nhiều lúc bực quá cụ phản bác lại, thế là bà ấy liền dỗi dài mặt ra, báo hại mấy đứa nhỏ phải năn nỉ gãy lưỡi mới chịu ăn cơm. Nhớ có lần, hai bố con cãi nhau chuyện gì đấy, bà Trá lôi hai ông anh trai ra khoe khoang là giỏi giang hơn hẳn con cái cụ. Tức mình, cụ mắng thẳng mặt: “Tao còn giỏi hơn hai thằng anh nhà mày!”. Cãi không lại cụ, bà Trá quay sang dỗi, bỏ ăn tận hai ngày. Vì thương các cháu suốt ngày phải đi dỗ mẹ, lại không muốn anh An ở xa đi làm phải bận lòng, cụ đành xuống nước mời “bà cô” ấy vào ăn cơm.
Nhiều khi cụ ngậm ngùi nghĩ bụng: “Sao nó là con dâu mình mà cứ như mẹ mình vậy không biết. Đến bà nhà tôi ngày xưa còn chẳng đến mức ấy. Haizz, khổ cho cái thân già này quá, gần đất xa trời rồi mà vẫn chẳng được yên thân.”
Nhưng suy cho cùng, đời người ai mà chẳng có lúc đúng, lúc sai. Nhớ lại chuyện cũ mà vừa thương vừa buồn cười. Có dạo cụ thèm rượu đến cồn cào, đành giấu con dâu mót chút gạo trong hũ đem đi bán lấy tiền đổi mấy chén say, nào ngờ đâu lại bị phát giác. Giữa trận lôi đình của con dâu, cụ biết mình sai nên chẳng dám ho he nửa lời, cứ co rụt người lại, mím chặt môi như một đứa trẻ thơ đang đợi cha mẹ khiển trách.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.