Chương 4: Cưới Vợ Cho Con, Sự Thật Bất Ngờ
Sau ngày cụ Hợi qua đời, cụ Khang dần trở nên kiệm lời, lầm lũi như một cái bóng. Bản tính bướng bỉnh khiến cụ chẳng buồn hé răng giải thích với con cái về những hiểu lầm năm xưa. Trong mắt các con, cụ vẫn là người cha nát rượu, suốt ngày đánh mắng vợ con, thậm chí đến khi vợ nằm xuống cũng chẳng mảy may nhỏ một giọt nước mắt thương xót. Vì lẽ đó, các con oán ghét cụ lắm, đặc biệt là ông An. Hai bố con cứ chạm mặt là lại "mặt nặng mày nhẹ". Ông ghét cụ đã đành, nhưng cụ Khang cũng chẳng mấy thuận mắt với người con trai trưởng này. Trong mắt cụ, ông An chẳng có tài cán gì uyên thâm gì, quanh năm suốt tháng chỉ giỏi mấy việc đào mương, làm thủy lợi.
Lần duy nhất cụ cảm thấy vừa lòng với ông An là thuở Đảng kêu gọi thanh niên cả nước lên đường hành quân chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Năm ấy, nhà cụ có ba người con trai là An, Hải và Quang. Ông An tuy vóc dáng nhỏ thỏ, không được cao lớn như hai em nhưng tinh thần lại vô cùng "máu chiến", hừng hực khí thế xung phong. Thế nhưng, cũng chính vì cái chiều cao không đủ thước tấc ấy mà ông bị loại. Nhìn hai người em đạt chuẩn, hăm hở khoác ba lô lên đường, ông An chỉ biết ngậm ngùi ở lại quê nhà với bố, rồi lấy vợ, sinh con.
Ngày tiễn hai người con trai ra trận, lòng cụ Khang thắt lại vì lo âu, chỉ sợ cái vẫy tay ngày hôm nay là lần cuối cùng ba cha con được nhìn thấy mặt nhau. Thế nhưng, cụ tuyệt nhiên không nói nửa lời ủy mị, cũng chẳng tìm cách giữ con ở lại hậu phương. Cụ hiểu rõ, nếu ai cũng ích kỷ giữ con mình bên sườn, thì đất nước này bao giờ mới giải phóng, rồi cháu con suốt đời lại phải cúi đầu chịu cảnh đọa đày dưới gót giày quân xâm lược.
Những năm tháng đằng đẵng ngóng chờ tin chiến thắng, mong ngày nước nhà thống nhất để gia đình sum họp, người đàn ông kiệm lời ấy chỉ biết gửi gắm tâm sự vào màn đêm. Cụ thường lầm lũi ra trước mộ vợ, lặng lẽ thủ thỉ kể cho cụ bà nghe những chuyện vụn vặt hằng ngày. Những buổi chiều muộn, cụ lại tìm đến mấy ông bạn già trong xóm, vừa nhấp chén trà, ngâm đôi câu thơ cũ, vừa nín thở nghe ngóng tình hình chiến sự miền Nam qua chiếc radio bập bõm. Cụ sợ lắm, bởi từ ngày các con ra trận, trong làng đã có biết bao người nhận tin báo tử rồi. Thương nhất là nhà bà Hưu ở cuối làng. Bà ấy chỉ có chín người con, nhưng cả chín người đều lên đường cứu nước. Vậy mà chỉ mới đi được vài tháng, bà đã phải nghẹn ngào nhận liền ba tờ giấy báo tử. Nỗi tang tóc bao trùm lên người đầu bạc.
Nhưng rồi, chuỗi ngày đợi chờ trong lo âu ấy cũng khép lại. Tiếng loa phóng thanh cùng người truyền tin chạy dọc đường làng vang dội khúc khải hoàn. Mọi người nín thở nghe tin từ đài phát thanh: “Đúng 11h30, quân ta tiến vào Sài Gòn đánh chiếm Dinh Độc Lập. Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên lóc Dinh Độc Lập, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng”. Đêm ấy, cả làng không ngủ. Nhà nhà thắp đèn tươm tất, chuẩn bị một bữa tiệc thật thịnh soạn để ngày mai đón những người con chiến thắng trở về.
Chiều hôm sau, mọi người ra trước cổng làng đứng đợi đông nghịt. Từ những thiếu nữ rạng ngời chờ người thương, người vợ bồng bế các con lít nhít đến đón chồng, cho đến những người cha, người mẹ lưng đã còng, lộc cộc chống gậy ra tìm con. Cụ cùng các con: bà Hằng, ông An, bà Tuấn cũng bồn chồn, ngóng trông mãi mới thấy bóng dáng đoàn quân xa xa. Khung cảnh lúc ấy hỗn loạn lắm. Mọi người đua nhau ra nhận thân nhân. Có nhà vỡ òa hạnh phúc khi con lành lặn trở về; có nhà vừa vui vừa xót xa vì con tuy về nhưng thân thể chẳng còn vẹn nguyên, người mất tay, kẻ què chân; có nhà thì ôm nhau khóc nghẹn vì có đứa mất, đứa còn. Đau đớn nhất là những nhà tuyệt vọng đến cùng cực khi các con đi hết mà chẳng còn ai trở về. Công nhận, cái trận ở thành cổ Quảng Trị ấy căng thật, chết toàn lính trẻ!
Giữa đám đông lộn xộn, cụ và mọi người cứ ngó nghiêng mãi, lòng dạ bồi hồi vì chưa thấy người nhà đâu. Mãi sau mới thoáng thấy hình bóng ông Quang. Cả nhà mừng rỡ, vội chen vào đám đông để đón ông, nhưng...
(Cụ Khang và các con chen qua đám đông, mừng rỡ chạy lại gần ông Quang, người đang vác trên vai chiếc ba lô đã cũ kỹ, sờn rách)
Cụ Khang: (giọng run run, mắt đỏ hoe) Quang ơi! Con ơi! Trời Phật thương xót, con tôi đã về!
Ông Quang: (buông ba lô, ôm chầm lấy cụ Khang) Cha! Con về rồi đây!
Bà Hằng: (vừa khóc vừa nói) Quang ơi! Em về thật rồi! Bọn chị lo lắm...
Ông An: (vỗ vai ông Quang) Về là tốt rồi, về là tốt rồi...
Bà Tuấn: (cũng ôm lấy ông Quang) Cả nhà ngóng các chú mãi.
Ông Quang: (nhìn mọi người, nụ cười rạng rỡ dần tắt) Mọi người... Có khỏe không ạ?
Cụ Khang: (vỗ vỗ lưng ông Quang, bỗng khựng lại, ngó nhìn xung quanh) Khỏe, ai cũng khỏe... Mà Quang ơi, anh Hải đâu? Con có gặp anh không? Sao không thấy nó cùng về với con?
(Bầu không khí bỗng chốc trở nên im lặng, nặng nề. Nụ cười trên môi ông Quang tắt hẳn, thay vào đó là một vẻ mặt u sầu, đau xót)
Ông Quang: (cúi đầu, giọng nghẹn ngào) Cha ơi... Anh Hải... Anh ấy... anh ấy không về được nữa rồi...
Cụ Khang: (giọng lạc đi, mắt mở to) Hả? Không về được... Nghĩa là sao? Anh nó đi đâu? Sao lại không về?
Ông Quang: (nước mắt lăn dài) Anh Hải hy sinh rồi cha ơi... Trong trận đánh cuối ở Quảng Trị...
(Bà Hằng, bà Tuấn òa lên khóc, ông An sững sờ, còn cụ Khang thì lảo đảo, như muốn ngã xuống)
Cụ Khang: (giọng thều thào, không tin nổi vào tai mình) Quảng Trị... Nó... nó mới đi có bao nhiêu lâu đâu... Sao lại...
Ông Quang: (ôm chặt lấy cha, cố gắng nén tiếng khóc) Lúc ấy, anh Hải và các đồng đội đã chiến đấu anh dũng...
(Ông Quang kể lại những ngày tháng chiến đấu gian khổ ở Quảng Trị, về sự dũng cảm của Hải và các đồng đội, về cái chết anh dũng của em mình...)
Đêm hôm đó, cụ ngủ không được. Cụ thấy cái thân mình sao mà nghiệt ngã quá, cuộc đời không những vùi dập cụ mà còn cướp cả vợ con đi mất. Ôi, đứa con trai tội nghiệp của cụ! Nó mới chỉ hai mươi, còn chưa học xong đại học, chưa kịp lấy vợ sinh con mà đã phải phơi xác nơi chiến trường xa xôi. Nhớ ngày nào nó còn gửi thư từ trận tuyến về cho cha, vậy mà giờ đây đã âm dương cách biệt. Cụ khóc suốt đêm, lòng trào dâng niềm căm hận - hận đời, hận người, nhưng trên hết là hận lũ quân xâm lược đã cướp đi giọt máu của mình. Cứ thế, cụ đắm chìm trong đau khổ, suốt ngày lẩn thẩn đi từ đầu làng đến cuối ngõ. Cụ ra mộ vợ kể lể khóc thương, đêm về lại lôi bức thư ông Hải gửi khi xưa ra đọc đi đọc lại. Bức thư ấy thấy bảo được cụ nâng niu giữ gìn lắm, lúc nào cũng mở ra đọc rồi lại gấp gọn gàng, cất ngăn nắp vào trong tủ đồ.
Hai năm ròng rã trôi qua, nỗi đau ngày nào cũng dần nguôi ngoai, cụ Khang bắt đầu chấp nhận thực tại để lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái. Bấy giờ, anh An - con trai trưởng của cụ - đem lòng yêu cô Thắm nhà bên. Thắm vừa xinh xắn, lại hiền lành, đảm đang, nhưng ngặt nỗi bố mẹ cô kiên quyết phản đối. Họ chê nhà cụ nghèo, cái thứ chữ nghĩa, kiến thức suông chẳng mài ra mà ăn được. Cuối cùng, cô Thắm bị gả cho ông Nghĩa. Ông Nghĩa tuy cũng chỉ là nông dân, nhưng giữa cái thời bao cấp ấy, nhà làm ruộng lại có đồng ra đồng vào, cứ chăm chỉ cày bừa là chẳng lo đói khổ bữa nào. Thấy con trai u sầu, cụ Khang đành cậy nhờ cô Nhung, một giáo viên trường Thăng Long, dẫn anh đi tìm nơi kết duyên mới.
Một buổi chiều muộn, cô Nhung dẫn ông An đến trường Thăng Long. Tiếng trống tan trường vừa dứt, học sinh ùa ra như ong vỡ tổ rồi thưa dần, trả lại vẻ yên tĩnh cho ngôi trường cổ kính. Cô Nhung đẩy cửa phòng hội đồng, kéo hai chiếc ghế đẩu lại gần cửa sổ, nơi có thể nhìn bao quát cả sân trường, rồi bảo:
Cô Nhung: Kìa An, ngồi xuống đây. Tôi đã bảo với cụ Khang rồi, cứ phải trăm nghe không bằng một thấy. Tiêu chuẩn chọn vợ của anh thế nào? Giờ giáo viên trong trường chuẩn bị ra về cả đấy, anh nhìn từ xa xem có ưng mắt cô nào không, tôi làm mối cho!
( An nghe vậy thì mặt đỏ bừng, hai tay cứ mân mê vạt áo, ngượng ngùng không dám nhìn thẳng ra ngoài. Ông lý nhí )
Ông An: Cô Nhung cứ khéo trêu tôi… Chuyện hôn nhân đại sự, tôi nào dám kén chọn. Với lại nhà tôi cảnh nghèo, người ta thấy lại lánh xa thôi.
Cô Nhung: (cười, xua tay) Anh cứ tự ti hão! Con trai cụ Khang gia giáo, đàng hoàng, ai mà thèm ghét. Nào, nhìn ra chỗ cây bàng kia xem, có mấy cô giáo trẻ đang đứng nói chuyện đấy. Thích dáng người thế nào thì bảo tôi một tiếng.
( An ngập ngừng một lát, rồi như bị một bóng hình thu hút, mắt anh dừng lại ở phía gốc cây bàng góc sân. Ở đó có một cô giáo có vóc dáng cao ráo, thanh tú, mái tóc tết hai bên đang cười nói dịu dàng. Ông chỉ khẽ ngón tay, giọng đầy ngượng nghịu.)
Ông An: Cô Nhung… cô có thấy cái cô dáng người cao cao, mặc áo sơ mi trắng đang ôm chồng sổ kia không?
Cô Nhung: ( nheo mắt nhìn theo hướng tay ông An, rồi đập tay xuống bàn cười đắc ý ) À! Anh tinh mắt đấy nhé! Cô Trá đúng không? Cô ấy dạy cả Sinh lẫn Toán của trường này đấy. Người đâu mà vừa thạo tính toán lại vừa khéo léo.
Ông An: Cô Trá ạ? Nhà cô ấy ở đâu hả cô? - An gặng hỏi, trong mắt đã có chút tia sáng hy vọng.
Cô Nhung: Nhà cô ấy ở bên Đông Hoàng. Hoàn cảnh thì cũng gia giáo nhưng mà hơi neo đơn chút. Trá là con gái út trong nhà có bốn anh chị em. Các anh chị lớn thì lập gia đình ở xa cả rồi, giờ ở nhà chỉ còn cô ấy với người mẹ già thôi.( Giọng cô Nhung bỗng chùng xuống, ghé sát tai An nói nhỏ ) Bố cô ấy mất sớm từ những năm trước rồi. Nghe đâu ngày xưa cụ ông bị bọn Pháp bắt bớ, tra tấn dã man lắm vì tụi nó nghi cụ là Việt Minh. Sau trận đòn roi hiểm độc ấy về thì cụ ông không qua khỏi. Trá nó hiếu thảo lắm, vừa đi dạy vừa một tay chăm sóc mẹ già. Anh mà rước được cô ấy về làm vợ, cụ Khang nhà anh chỉ có nước vui lòng thôi!
Nghe đến đây, ông An vừa kính phục, vừa thương cảm cho số phận của cô giáo trẻ. Ông nhìn theo bóng dáng cao gầy của cô Trá đang dắt xe đạp ra cổng trường, khẽ gật đầu, lòng thầm mong mỏi vào mối nhân duyên này. Họ bắt quen, rồi cũng thành đôi. Cụ Khang thấy chuyện đã thành vui lắm, lần nào cụ cũng sang nhà cô Nhung cũng đem theo tí quà mọn gọi là cảm ơn cô đã giúp thằng con trai cụ có một tấm vợ lo thân.
Thấm thoắt rồi cũng đến ngày lành tháng tốt để ông An và bà Trá thành đôi. Ngày cưới giữa tiết tháng Bảy mà trời chiều lòng người đến lạ, gió thoảng hiu hiu, tuyệt nhiên không một hạt mưa. Những năm tháng sau ngày độc lập, đất nước chuyển mình sang thời bao cấp nên gia cảnh nhà ai cũng thắt lưng buộc bụng. Ngày vui của hai cô cậu giản dị đến thương, chỉ có chiếc áo sơ mi cùng quần âu chỉnh chu mượn từ nhà khác, vậy mà nụ cười lúc nào cũng rạng rỡ. Trong ngày vui ấy, cụ Khang là người mừng nhất. Thế nhưng, cụ cũng tự hiểu cô con dâu mới chẳng mấy thuận lòng với mình bởi những tiếng xấu người ta đồn đại về cụ trước nay. Nghĩ đoạn, cụ tặc lưỡi cho qua. Cái tiếng của cụ đã vậy rồi, giờ có giải thích, liệu người trẻ có chịu tin?
Ấy mà nghịch nỗi, cái ngày vui hôm đó cũng chỉ vì ông Quang mà cụ bực lắm. Số là ngoài sân người ta rước dâu, thì trong bếp ông Quang cùng mấy người họ hàng lo liệu chuyện dao thớt, nấu nướng. Đang lúc tay năm tay mười thái giò, chặt gà, một người làm cùng chợt nhìn vào bàn tay phải của ông Quang rồi thốt lên:
Người họ hàng: Ơ kìa ông Quang, cái ngón trỏ tay phải của ông đâu rồi? Mất đúng cái ngón cò súng thế kia thì ngày xưa đi lính tráng kiểu gì?
( Ông Quang dừng tay dao, nhìn xuống bàn tay khuyết tật của mình. Nghe tiếng hỏi, mấy người phụ nữ đang nhặt rau gần đấy cũng tò mò ghé mắt sang nhìn. Ông Quang tính vốn thật thà, lại thêm chút rượu đưa đà từ sáng nên chẳng nghĩ ngợi sâu xa, liền cười khổ rồi hạ giọng kể )
Ông Quang: Khổ lắm các bác ơi, lính tráng gì đâu. Thời ấy bom rơi đạn lạc, tiếng súng nổ bên tai là tim gan tôi đã nhảy dựng lên rồi. Nghĩ đến cảnh ra chiến trường một đi không trở lại, tôi hãi quá. Thế là đêm hôm ấy, tôi nhắm mắt nhắm mũi, kê ngón tay cò súng này vào họng súng rồi bóp hòe nó đi. Chấp nhận chịu tật để người ta loại ngũ, đẩy về tuyến sau làm chân anh nuôi nấu bếp cho nhẹ nợ, chứ ra trận thì xanh cỏ từ tám hoánh rồi!
Mấy người trong bếp nghe xong thì ồ lên, người thì tặc lưỡi cảm thông cho cái sự sợ chết thời hòn tên mũi đạn, người thì cười xuề xòa.
Đúng lúc ấy, cụ Khang từ trên nhà bước xuống định lấy thêm bình rượu. Vừa bước đến bậu cửa bếp, cụ đã nghe trọn vẹn lời thú thật của ông Quang. Sắc mặt cụ Khang lập tức tối sầm lại. Bản thân cụ cả đời mang tiếng xấu, chịu bao điều tiếng của người đời mà vẫn chọn ngẩng cao đầu, vậy mà ngay trong nhà mình lại có kẻ hèn nhát đến mức tự hủy hoại thân thể để trốn nghĩa vụ với non sông. Nỗi khinh bỉ lẫn bực dọc dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng.
Cụ Khang đứng sững ở cửa, ánh mắt nghiêm nghị quét qua ông Quang một lượt. Giữa cái không khí đang rôm rả, sự xuất hiện im lặng của cụ như một gáo nước lạnh dội xuống khiến ai nấy đều giật mình, im bặt. Ông Quang tái mét mặt, run run buông con dao xuống thớt.
Cụ Khang chẳng buồn nói một lời, cũng chẳng thèm lấy rượu nữa. Cụ quay ngoắt người, tà áo nâu sồng bay lên theo cái quay lưng đầy dứt khoát. Cụ lầm lũi đi thẳng ra ngõ, hướng về phía nghĩa trang đầu làng, nơi có ngôi mộ của cụ bà. Chỉ có ở đó, bên nấm đất im lìm của người tri kỷ, cụ mới tìm thấy chút thanh thản để trút bỏ cục tức nghẹn lòng trong ngày vui của con cháu. Cụ Khang đi như chạy trên con đường làng đầy cỏ dại, bước chân cụ lầm lũi, tà áo nâu lấm tấm bụi đường. Phía sau lưng, tiếng pháo cưới và tiếng cười nói vui vẻ của đám trẻ trâu cứ nhỏ dần, nhỏ dần, rồi tắt hẳn khi cụ bước vào nghĩa trang đầu làng.
Đứng trước nấm mộ cỏ đã xanh rì của cụ bà, cụ Khang như khuỵu xuống. Cụ vớ lấy nắm cỏ khô dọn dẹp quanh bia đá, rồi quệt ngang dòng nước mắt già nua, bắt đầu thầm thì bằng giọng khàn đặc, nghẹn ngào:
- Bà Hợi ơi... Bà nằm đây có linh thiêng thì nghe tôi nói vài câu. Hôm nay ngày vui của thằng An, đáng lẽ tôi phải vui lắm, vậy mà cái lồng ngực tôi nó cứ nghẹn ứ lại, chịu không nổi bà ạ!
Cụ Khang bấu chặt hai bàn tay vào nấm đất, giọng cụ run lên, vừa phẫn nộ vừa đắng chát:
- Bà có biết thằng Quang vừa khai ra cái gì không? Nó hèn, nó nhục nhã quá bà ơi! Cái ngón tay cò súng bị cụt của nó, không phải đạn lạc, không phải tai nạn, mà là tự nó nhắm mắt nhắm mũi bóp hòe đi để trốn lính, để được lui về xó bếp làm anh nuôi cho giữ cái mạng cùi! Tôi nghe mà tai ù đi, máu trong người cứ sôi lên sùng sục.
Cụ Khang ngửa mặt lên trời, cười cay đắng, nước mắt rơm rớm nơi khóe mắt đầy vết chân chim:
- Nghĩ mà cay, mà uất ức thay cho cái thân già này! Ngày xưa, tôi phải bấm bụng chịu cái danh xấu, chịu người đời phỉ nhổ, làng xóm khinh rẻ, anh em xa lánh. Đến cả cô con dâu mới hôm nay bước chân vào nhà mình cũng còn nhìn tôi bằng con mắt ngờ vực. Tôi cắn răng chịu bấy nhiêu điều tiếng ô nhục, chấp nhận làm cái bia đỡ đạn cho người ta chửi rủa, chung quy cũng là để giấu thân phận làm cách mạng, để bảo vệ cái đất nước này, bảo vệ cho mẹ con bà được bình an. Tôi sống ngẩng cao đầu như thế, vậy mà thằng con thứ ba của tôi... nó lại đi hủy hoại thân thể để trốn nghĩa vụ với non sông!
Giọng cụ thấp xuống, lạc đi vì nỗi đau xót và bất công giữa ba đứa con trai:
- Thằng An nó, khát khao được ra trận, muốn đi cống hiến còn không đi được vì kẹt lại tuyến sau lo việc nhà. Còn thằng... thằng Hải tội nghiệp của chúng ta, nó đã nằm lại mãi mãi nơi chiến trường, xương máu hòa vào đất mẹ để đổi lấy cái ngày độc lập hôm nay. Nó hy sinh anh dũng như thế, mà thằng Quang lại là một kẻ hèn nhát, tham sống sợ chết!
Cụ Khang đấm mạnh tay xuống đất, bật ra lời oán trách đến tận cùng:
- Tôi nói thật với bà, thà ngày ấy thằng Quang cứ chết quách ở xó xỉnh nào ngoài chiến trường đi! Thà nó xanh cỏ như bao người lính khác, chết một cách vinh quang, để cái nhà này còn ngẩng mặt lên được với tổ tiên. Chứ sống nhục nhã, sống bằng cái trò tự phế dối lừa như thế, để đến hôm nay tôi phải nghe cái sự thật dơ bẩn, ô nhục cả một dòng họ này... tôi nuốt không trôi bà ơi! Giờ tôi biết giấu cái mặt già này vào đâu với vong linh tổ tiên, với hương hồn thằng Hải đây bà Hợi ơi...
Cụ Khang gục đầu vào tấm bia mộ, bờ vai gầy gò run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn giữa nghĩa trang vắng lặng. Gió tháng Bảy vẫn thổi hiu hiu, nhưng lòng cụ thì đang bão nổi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.