Giao Lộ Mờ Sương

Chương 56: Bậc Thang Câm Lặng

Đăng: 18/08/2026 05:03 3,824 từ 1 lượt đọc

Ánh sáng xanh lét từ màn hình máy chủ hắt lên bức tường gạch vòm thời Pháp, rọi rõ từng mảng rêu mốc xám xịt và những giọt nước đọng đang rỉ tong tòng xuống nền xi măng.

Mười một giờ bốn mươi lăm phút đêm.

Dưới góc phòng kho phụ trợ, Trịnh Khắc Kiên nằm co quắp cạnh đống dây cáp cuộn. Hai cổ tay bị siết chặt ra sau bằng dây rút nhựa loại dày, miệng nhét giẻ lau máy thấm dầu khét lẹt. Đôi mắt gã trợn trừng, sọc đỏ vằn vện, nhìn tôi như muốn nhai sống nuốt tươi. Tôi không buồn nhìn lại. Loại người như Kiên, sống bằng bổng lộc và những cái gật đầu của cấp trên, khi bị tước mất khẩu súng và cái thẻ ngành thì cũng chỉ là một khối thịt biết thở.

Tôi ngồi thụp xuống bậc thềm đá chẻ, rút từ túi áo ra hai viên thuốc giảm đau màu trắng đã vụn một góc. Không có nước. Tôi tống thẳng vào miệng, nhai nát. Vị đắng gắt xộc lên cuống họng, đắng đến muốn mửa, nhưng tôi nuốt ực.

Xương sườn số sáu bên ngực trái nhói lên một cơn đau buốt tận tủy sống. Từng nhịp thở như có mảnh chai cào vào màng phổi. Tôi ép chặt cánh tay trái vào sườn, giữ cho lồng ngực không phập phồng quá mạnh, rồi ngửa cổ tựa vào vách đá lạnh ngắt.

Lê Hoàng đứng cạnh bàn mixer, khẩu súng ngắn cầm lỏng trong tay phải. Cậu ta vừa cắm xong giắc tín hiệu từ đầu đọc Betacam vào cổng chuyển tiếp cáp quang. Màn hình nhỏ hiện lên dòng chữ xanh lục nhấp nháy: ĐÃ SẴN SÀNG PHÁT - LUỒNG ƯU TIÊN 01.

"Mày ở lại đây giữ đường truyền," tôi nói, giọng khàn đặc như có sạn. "Nếu tao không quay lại trước năm giờ sáng, đúng bảy giờ ba mươi tối mai, cứ gạt cần mixer lên kênh tổng. Băng chạy hết mười hai phút thì cắt nguồn, chui theo đường cống Dân Sinh mà rút."

Hoàng không nhìn tôi. Cậu ta rút tẩu thuốc mini bằng đồng ra khỏi túi, không châm lửa, chỉ ngậm vào miệng rồi cắn chặt khớp răng.

"Anh đi lên đó một mình là tự sát."

"Ở lại đây chờ chết già cũng là tự sát." Tôi quẹt que diêm, châm mẩu thuốc lá Thăng Long đã ướt mềm một nửa. Khói thuốc khét lẹt xộc vào phổi, đè bớt mùi tanh của máu đọng trong chân răng. "Thắng không phải loại ngồi yên chờ ngày mai nhận huân chương. Lão đổi giờ phát sóng sớm ba mươi phút, nghĩa là lão biết có biến. Cửa hầm này chỉ giấu được bọn mình đến đợt đổi gác sáu giờ sáng. Đăng thì không có sáu tiếng để chờ."

Chiếc điện thoại vệ tinh dã chiến trên bàn mixer rung lên bần bật. Tiếng rung rè rè trên mặt sắt nghe như tiếng côn trùng giãy chết.

Tôi nhấc máy, bấm nút nghe.

Đầu dây bên kia chỉ có tiếng máy thở cơ học bóp bóng tút tút ngắt quãng và tiếng rít của bình oxy nén. Giọng Hạ Băng vang lên, lạnh, phẳng, nhưng hơi thở gấp hơn thường lệ:

"Áp lực oxy trong máu còn bảy mươi lăm phần trăm. Tụ cầu vàng bắt đầu tấn công màng tim. Tim rung nhĩ từng cơn ngắn. Ống Colistin cuối cùng chỉ giúp em ấy giữ được huyết áp thêm tối đa ba tiếng nữa."

Tôi im lặng nửa giây. Khói thuốc tỏa ra mờ mịt trước mắt.

"Đăng còn tỉnh không?"

"Vừa mê đi sau cơn co giật lúc mười một giờ ba mươi. Nhưng trước khi lịm, ngón tay nó vẫn gõ vào thanh chắn giường. Ba nhịp." Băng ngừng lại một nhịp thở rất khẽ. Tiếng kim loại va vào khay y tế lách cách. "Vũ này."

"Gì?"

"Đừng để đứa nhỏ chết mà mắt không nhắm được."

Tôi không đáp. Đầu ngón tay tôi vô thức sờ vào túi áo ngực. Dưới lớp vải bết bùn cống là tấm Giấy khai sinh số 114 đã ố vàng và chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm cháy sém của bảo mẫu Mai Lan.

"Tôi biết rồi."

Tôi cúp máy, nhét điện thoại vào túi quần.

Hoàng bước lại gần, chìa ra khẩu súng ngắn vừa tước được của toán cảnh vệ gác hầm, kèm theo một băng đạn tiếp ứng mười bốn viên.

"Tầng ba khu nhà làm việc của Thường trực. Phòng 308 nằm ở góc hành lang phía Tây, sau phòng lưu trữ hồ sơ mật. Đi theo đường ống thông gió trục đứng sau lưng phòng máy phát điện Pháp cũ, sẽ trèo lên được khoảng trống trần giả của nhà vệ sinh tầng ba. Đó là điểm mù duy nhất không lắp cảm biến nhiệt."

Tôi cầm lấy khẩu súng, kiểm tra hộp tiếp đạn, kéo khóa nòng nghe một tiếng cạch dứt khoát rồi cài vào thắt lưng sau lưng.

"Tuấn vẽ lại trong sổ à?"

Hoàng gật đầu. Khóe môi cậu ta giật giật. "Ba năm trước, lúc ông Thắng còn làm Phó Giám đốc phụ trách điều tra, anh Tuấn đã từng nộp hồ sơ xin khảo sát an ninh tòa nhà này ba lần. Lần nào cũng bị gạt đi. Anh ấy biết tòa nhà này có những ngóc ngách nào từ trước khi bị điều về đội."

Tôi lật cuốn sổ tay bìa da sờn rách của Tuấn. Trang giấy kẻ ô đã ngả màu vàng nghệ. Dưới cùng của sơ đồ đường ống kỹ thuật tầng ba là một dòng chữ viết tay ngoáy vội bằng mực tím: "Giày cho Nhím cỡ 32 - nhớ mua loại có quai dán."

Ngón tay cái của tôi miết lên vết mực tím đó. Một giây. Rồi tôi gấp phập cuốn sổ lại, nhét vào túi trong áo khoác, kéo khóa kín mít.

"Tao đi."

Tôi quay lưng, bước thẳng về phía cửa xả cặn sau phòng máy.

Lối dẫn lên trục kỹ thuật đứng là một đường ống bằng tôn tráng kẽm vuông vức, rộng chưa đầy bảy mươi phân, bám đầy bụi đen và mạng nhện qua mấy chục năm không ai đụng tới. Không khí bên trong ngột ngạt, tanh nồng mùi rỉ sét và phân chuột khô.

Tôi cắn chặt cán đèn pin mini vào giữa hai hàm răng, hai tay và hai đầu gối ép chặt vào thành ống, nhích từng centimét một lên phía trên.

Mỗi lần rướn người, đầu xương sườn số sáu lại cọ xát dữ dội vào thành ngực. Cơn đau nhói buốt khiến mắt tôi tối sầm lại, mồ hôi lạnh toát ra như tắm, chảy ròng ròng xuống trán làm cay xè khóe mắt. Tôi nghiến răng đến mức nghe tiếng răng ken két trong vòm họng. Máu từ vết rách niêm mạc miệng rỉ ra, nuốt vào mặn chát.

Tôi không được phép dừng lại. Cứ leo ba nhịp, tôi lại phải dừng một giây để thở hắt ra bằng mũi.

Dưới đáy thành phố này, hàng triệu con người đang ngủ say trong những căn chung cư cao cấp máy lạnh chạy êm ru, hoặc trong những căn nhà ổ chuột dột nát ngập nước cống ở bờ kênh Tàu Hủ. Họ không biết và cũng chẳng cần biết có bao nhiêu bộ xương đã bị chôn vùi dưới lớp bê tông của những đại dự án nghìn tỷ.

Phạm Kiến Quốc chết trong căn penthouse dát vàng. Huỳnh Trí Cao chết bên ly rượu độc. Võ Khang đang nằm rên rỉ với khuôn mặt cháy nám vì phốt-pho. Nhưng kẻ cầm đầu đường dây, kẻ đã ký vào bản án tử hình cho tám đứa trẻ ở Mái ấm Hướng Dương và đẩy Tuấn vào ngõ cụt Cầu Muối, vẫn đang ngồi trong căn phòng máy lạnh tầng ba, chuẩn bị khoác lên ngực tấm Huân chương Lao động hạng Nhất.

Đời là một trò hề tàn nhẫn. Nhưng đêm nay, tôi là kẻ kéo màn.

Tôi chạm tay vào tấm lưới sắt chắn cửa gió trần tầng ba.

Qua khe hở của tấm chớp nhôm, ánh sáng trắng ngà của đèn huỳnh quang chiếu xuống sàn gạch bóng loáng. Không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng rì rầm của hệ thống điều hòa trung tâm phả ra luồng hơi lạnh buốt.

Tôi dùng đầu mũi dao bấm nhẹ nhàng bẩy hai chốt cài bằng lò xo của khung lưới sắt. Kim loại trượt nhẹ không phát ra tiếng động. Tôi đu người, thả nhẹ hai bàn chân xuống sàn gạch men phòng vệ sinh.

Chân chạm đất êm ru. Cơn đau từ mạng sườn lại giáng xuống một búa tạ. Tôi phải vịn tay vào mép bồn rửa mặt, đứng bất động mất mười giây để chờ cơn choáng váng đi qua.

Gương soi phản chiếu khuôn mặt một kẻ không còn giống người: râu ria lởm chởm, mắt trũng sâu đỏ ngầu, má hóp lại và vệt bùn đen khô cứng bám chặt từ cổ áo sơ mi rách bươm. Tôi vốc một vốc nước lạnh từ vòi, tạt thẳng vào mặt rồi lau khô bằng tay áo.

Hành lang tầng ba vắng ngắt. Thảm đỏ trải dài hút tầm mắt, dập tắt mọi tiếng bước chân.

Cứ cách mười lăm mét lại có một mắt camera an ninh xoay tròn gắn trên trần thạch cao. Đúng như ghi chú của Tuấn: hệ thống camera ở đây hoạt động theo chu kỳ quét góc chín mươi độ, có khoảng mù ba giây ở mỗi góc cua chân tường.

Tôi lướt đi trong bóng tối của các gờ cột bê tông. Áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi dính chặt vào lưng.

Cửa phòng 308 hiện ra ở cuối hành lang. Cánh gỗ gõ đỏ dày dặn, bên trên gắn biển đồng sáng bóng: PHÓ BÍ THƯ THƯỜNG TRỰC - TRƯỞNG BAN NỘI CHÍNH.

Khe cửa bên dưới vẫn hắt ra một vệt sáng màu vàng nhạt.

Bên trong có người.

Tôi rút khẩu súng ngắn sau lưng, kiểm tra lại chốt an toàn, ngón trỏ đặt hờ ngoài vành cò. Không gõ cửa. Tôi vặn nhẹ tay nắm tròn bằng đồng mạ vàng.

Khóa không cài chốt trong.

Cánh cửa mở ra một khe hẹp không phát ra tiếng rít. Tôi lách người bước vào, khép cửa lại phía sau lưng bằng gót chân, chốt khóa cơ xoay nhẹ một tiếng tách.

Căn phòng rộng hơn sáu mươi mét vuông, lát sàn gỗ hương thơm mùi sáp bóng. Trên tường treo bức tranh phong cảnh hồ Tuyền Lâm mờ sương khổ lớn và tủ sách pháp luật bọc da đóng gáy vàng. Không khí nồng đượm mùi trà sen ướp mộc và khói xì-gà Cuba hảo hạng.

Thiếu tướng Nguyễn Khắc Thắng đang ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ nguyên khối.

Lão không mặc cảnh phục. Lão đang mặc một chiếc áo sơ mi trắng phẳng phiu không một nếp nhăn, tay áo xắn lên hai nấc để lộ chiếc đồng hồ Rolex bằng vàng khối. Trên mặt bàn là bộ quân phục đại lễ gắn sẵn quân hàm Thiếu tướng hai sao vàng lấp lánh và chiếc hộp nhung đỏ đựng cuống Huân chương Lao động.

Thắng đang cầm một chiếc bút máy Parker vỏ bạc, chăm chú sửa từng chữ trên bản thảo bài phát biểu dài tám trang. Lão không hề ngẩng đầu lên, như thể tiếng chốt cửa vừa rồi chỉ là một cơn gió thổi qua khe rèm.

"Cậu đến muộn hơn tôi tính mười lăm phút đấy, Vũ."

Giọng Thắng trầm, ấm, đều đều và uy quyền, hệt như cái giọng lão vẫn thường dùng để chỉ đạo các cuộc họp phá án ba năm trước.

Tôi không hạ súng. Họng súng ngắn đen ngòm chĩa thẳng vào sống mũi lão từ khoảng cách bốn mét.

"Ông biết tôi sẽ tới?"

Thắng đặt chiếc bút máy xuống mặt bàn kính một cách từ tốn. Lão ngả lưng ra chiếc ghế xoay bọc da bò cao cấp, đan hai bàn tay vào nhau. Chiếc nhẫn ruby màu huyết dụ trên ngón áp út tay phải lão lấp lánh dưới ánh đèn trần — chính là chiếc nhẫn đã xuất hiện trong cuộn băng Betacam lúc một giờ sáng ngày 12 tháng 11 năm 2004 tại Mái ấm Hướng Dương.

"Kiên là đứa trẻ nông nổi," Thắng mỉm cười nhạt, nụ cười của một kẻ đã ngồi trên đỉnh chuỗi thức ăn quá lâu để cảm thấy sợ hãi. "Tôi giao cho nó cái mã nhảy động, chỉ để xem cậu có lần ra được cái thẻ bài hay không. Cậu không làm tôi thất vọng. Cậu và thằng Tuấn giống hệt nhau, đều là những con chó săn có mũi thính, nhưng lại quá nhiều lòng trắc ẩn."

"Đừng nhắc tên Tuấn bằng cái miệng bẩn thỉu của ông," tôi gằn từng tiếng, bước lên một bước. Khớp ngón tay cầm súng siết chặt đến trắng bệch.

"Tại sao không?" Thắng nghiêng đầu, ánh mắt sắc lạnh như dao cạo quét qua vết máu khô trên áo tôi. "Thằng Tuấn chết vì nó không hiểu được quy luật vận hành của bộ máy. Mười lăm héc-ta đất Hướng Dương không chỉ là đất. Nó là lối đi của hàng tỷ đô la, là mỏ quặng đất hiếm quyết định ngân sách của cả khu vực phía Nam trong ba mươi năm. Một đám trẻ mồ côi không có tương lai và một con bảo mẫu quê mùa thì có giá trị gì trên bàn cờ đó?"

Tôi thò tay vào túi áo ngực, rút tấm Giấy khai sinh số 114 ra, ném thẳng lên tập bài phát biểu của lão.

Mép giấy ố vàng đáp xuống mặt gỗ gụ. Dòng chữ viết tay của chính Nguyễn Khắc Thắng hai mươi năm trước hiện ra rõ mồn một: *Người đứng tên bảo lãnh huyết thống và chi trả toàn bộ sinh hoạt phí định kỳ: Thượng tá Nguyễn Khắc Thắng.*

Nụ cười trên môi Thắng tắt ngấm.

Đồng tử lão co lại trong một phần mười giây. Lớp da mặt nhẵn nhụi của vị tướng năm mươi chín tuổi giật nhẹ một nhịp ở đuôi mắt trái. Đó là lần đầu tiên tôi thấy vẻ điềm tĩnh thép của lão có một vết rạn.

"Nó tên là Nguyễn Văn Đen," tôi nói, giọng lạnh như băng tuyết trên đỉnh Robin. "Trước khi chết cháy, Mai Lan đã ôm nó dưới gầm bếp, lấy lưng chắn xà nhà đổ sụp rồi đẩy nó qua ô thoáng thông gió. Suốt hai mươi năm qua, nó sống với vết sẹo lửa ăn sâu vào tận xương tủy, thi vào ngành công an chỉ để tìm xem ai là kẻ đã giết mẹ nó."

Thắng nhìn chằm chằm vào tờ giấy khai sinh. Hai bàn tay đan vào nhau của lão siết chặt lại, các khớp ngón tay kêu răng rắc.

"Nó... còn sống?"

"Nó đang nằm trong phòng cách ly áp lực âm ở Nhà Bè," tôi nhổ ra từng từ tàn nhẫn. "Phổi nó bị tràn dịch, máu nó bị nhiễm độc vì tụ cầu vàng. Nó chỉ còn cầm cự được chưa đầy hai tiếng nữa. Và cái mật mã mở luồng phát sóng truyền hình trực tiếp tối mai, chính là do nó dùng chút sức tàn cuối cùng để chỉ cho tôi: số hiệu sĩ quan của ông, ghép với ngày ông đốt mẹ nó."

Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng đặc quánh, nặng nề đến nghẹt thở.

Tiếng kim đồng hồ treo tường tích tắc từng giây khô khốc.

Thắng từ từ vươn tay ra. Ngón tay đeo nhẫn ruby của lão chạm vào mép tờ giấy khai sinh. Đầu ngón tay lão hơi run — một sự run rẩy rất khẽ mà chỉ có những kẻ từng đứng giữa ranh giới sinh tử mới nhận ra.

Nhưng rồi, sự run rẩy đó biến mất.

Lão thu tay về, nhặt chiếc bật lửa Dupont mạ vàng trên bàn lên. Một tiếng *keng* thanh mảnh vang lên trong không gian tĩnh mịch. Ngọn lửa xanh biếc bùng lên.

Thắng cầm tờ giấy khai sinh đưa vào ngọn lửa.

Tờ giấy pơ-luya khô khốc bắt lửa ngay lập tức. Ánh lửa vàng rực soi rõ khuôn mặt lạnh lùng, vô cảm đến tàn bạo của người cha đẻ. Lão thả mảnh giấy đang cháy vào chiếc gạt tàn pha lê, nhìn ngọn lửa thiêu rụi cái tên Nguyễn Văn Đen thành một nhúm tro xám ngoét.

"Nó không phải con tôi," Thắng nói, giọng đều đều không một chút gợn sóng. "Đó chỉ là một sai lầm thời trẻ ở Lâm Đồng. Một vết nhơ không được phép tồn tại trên bản lý lịch của một Ủy viên Trung ương tương lai."

Lão ngẩng lên, nhìn thẳng vào nòng súng của tôi.

"Cậu tưởng chiếm được phòng máy dưới hầm là thắng à, Trần Vũ? Cậu tưởng cuộn băng Betacam đó sẽ được phát lên sóng quốc gia?" Thắng khẽ cười khẩy, lắc đầu vẻ thương hại. "Toàn bộ hệ thống cáp quang quân sự của Phân khu 7 nối về Thành ủy đã bị tôi ra lệnh ngắt kết nối vật lý từ mười lăm phút trước, dưới danh nghĩa bảo trì phục vụ an ninh lãnh tụ. Cái máy phát dưới hầm của cậu bây giờ chỉ là một cục sắt vụn kết nối vào hư không."

Lồng ngực tôi thắt lại một nhịp. Đầu xương sườn gãy như bị một lưỡi dao xoay tròn bên trong.

"Mày tưởng tao không biết mày sẽ cho người xuống cống à?" Thắng đứng dậy, hai tay chống xuống mặt bàn, đổ bóng đen khổng lồ trùm lên người tôi. "Toàn bộ lực lượng Cảnh sát Đặc nhiệm của Bộ Tư lệnh đang tiến vào hệ thống cống ngầm Pasteur từ bốn ngả. Thằng Lê Hoàng và cuộn băng của các cậu sẽ bị tiêu diệt và thiêu hủy trong vòng ba mươi phút nữa, với danh nghĩa một vụ nổ khí metan do nhóm phản động tự gây ra."

Thắng rút từ ngăn kéo bàn ra một chiếc điều khiển từ xa nhỏ bằng bao diêm, ngón tay cái đặt sẵn lên nút đỏ.

"Bây giờ, bỏ súng xuống. Hoặc tôi bấm nút kích nổ hệ thống van xả khí gas ngầm dưới sàn phòng máy ngay tại giây này."

Tôi nhìn nút bấm màu đỏ dưới tay Thắng.

Mùi thuốc lá Thăng Long quyện với mùi tro giấy cháy trong gạt tàn pha lê nồng nặc. Tôi không hạ súng. Tôi từ từ nhếch mép, để lộ hàm răng còn dính máu đỏ tươi.

"Ông tính toán giỏi lắm, Thắng." Tôi lùi lại nửa bước, tay trái rút chiếc bộ đàm dã chiến của Kiên ra khỏi túi áo, bật loa ngoài. "Nhưng ông quên mất một chuyện."

Từ loa bộ đàm, không phải tiếng của Lê Hoàng, mà là giọng nói trầm đục, bình thản của Thượng tá Đặng Thế Anh - Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự, đi kèm tiếng bước chân rầm rập của hàng chục quân cảnh mang ủng sắt:

"Báo cáo đồng chí Trần Vũ. Đoàn công tác của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Cục Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng đã tiếp quản toàn bộ hệ thống trạm phát sóng vệ tinh cơ động của Quân khu 7 tại sân sau Hội trường Thành ủy lúc mười một giờ năm mươi phút. Đường truyền cáp quang ngầm đã được chuyển tiếp thành công sang vệ tinh quân sự Vinasat. Lệnh bắt khẩn cấp đặc biệt số 01 của Thường trực Ban Bí thư đối với Nguyễn Khắc Thắng đã được phê chuẩn."

Khuôn mặt Nguyễn Khắc Thắng trong tích tắc chuyển từ tái mét sang xám ngoét như da tử thi.

Chiếc điều khiển từ xa rơi khỏi tay lão, đập xuống mặt kính bàn làm việc phát ra một tiếng *chát* chói tai.

Cùng lúc đó, cánh cửa phòng 308 phía sau lưng tôi bị đạp tung. Sáu sĩ quan Cảnh sát Quân sự trong quân phục dã chiến, súng tiểu liên báng gấp chĩa thẳng vào bàn làm việc, dẫn đầu là Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao mang thẻ đỏ trên ngực.

"Nguyễn Khắc Thắng," giọng người kiểm sát viên vang lên đanh thép như tiếng búa gõ xuống bục công lý. "Ông đã bị đình chỉ mọi chức vụ và bị bắt tạm giam về tội Phản quốc, Giết người và Tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng."

Thắng đứng chôn chân tại chỗ. Chiếc áo sơ mi trắng phẳng phiu của lão dường như đột nhiên rộng thênh thang. Hai mắt lão đờ đẫn nhìn chằm chằm vào chiếc còng số tám bằng thép không gỉ sáng lóa đang được một sĩ quan quân cảnh rút ra khỏi bao da.

Tôi không nhìn lão nữa.

Tôi xoay người, lảo đảo bước qua cánh cửa mở toang, men theo bức tường hành lang trải thảm đỏ bước về phía cầu thang bộ.

Mỗi bước đi, lồng ngực tôi lại đau buốt như muốn vỡ tung. Thuốc giảm đau đã hết tác dụng, để lại một khoảng trống rỗng tàn nhẫn và kiệt quệ trong từng thớ thịt.

Tôi rút chiếc điện thoại vệ tinh ra, bấm số gọi về Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam.

Chuông reo ba hồi.

Đầu dây bên kia bắt máy. Tiếng còi máy theo dõi nhịp tim đã ngừng kêu tút tút. Thay vào đó là một đường thẳng dài vô tận vang lên đều đều qua ống nghe: *Tèeeeeeeeeeee...*

Không có tiếng khóc. Chỉ có tiếng thở dài rất khẽ của Hạ Băng giữa màn đêm Nhà Bè:

"Vũ à... Mười hai giờ đúng. Em ấy đi rồi."

Tôi đứng sững lại giữa chiếu nghỉ cầu thang tầng hai.

Gió đêm tháng Bảy từ cửa sổ thông gió lùa vào, thổi tung tàn thuốc lá bám trên vạt áo tôi. Ngoài trời, mưa rào Sài Gòn lại bắt đầu trút xuống, quất xối xả vào những tấm kính cường lực của tòa nhà Thành ủy, cuốn trôi lớp bụi bặm của một ngày oi ả.

Tôi mở nắp chiếc bật lửa Zippo. Quẹt một lần. Hai lần. Lửa không cháy vì đá lửa đã mòn vẹt.

Tôi đứng im trong bóng tối thêm hai phút, nhìn xuống bàn tay dính đầy muội than và máu khô của mình, rồi bấm nút tắt màn hình điện thoại.

Bản án đã thi hành xong. Nhưng thành phố này, sương mù vẫn chưa bao giờ tan hết.

0